Bỏ qua nội dung

Một bà cụ 70 tuổi

Xin giới thiệu với quí vị chủ blog, 70 tuổi, bà ngoại và nội của bốn cháu nhò, dân toàn cầu

Advertisements

Hai chị em bên khung cửa

Một bài cũ, đăng lại với những tình cảm thấm thía và day dứt không nguôi mà tôi vẫn giữ, đối với một người chị họ.

Mẹ và dì, trong ngôi nhà thân thuộc - Ảnh: J.-E. Poirrier

Mẹ và dì, trong ngôi nhà thân thuộc – Ảnh: J.-E. Poirrier

Chị Năm tuổi Tí. Chỉ hơn tôi vài tháng. Chúng tôi là con cô cậu với nhau nhưng thân thiết lắm vì thường chơi chung thời niên thiếu, trong những năm mẹ tôi lận đận mang con về nhà Ngoại.

Chị học trường làng, sau đó lên học ở Gia Long rồi trở về làng làm giáo viên cho đến khi nghỉ hưu – một cuộc đời an bình, như dòng sông chảy trước nhà bà Nội của chị – bà Ngoại của tôi – nơi mẹ chị về làm dâu, nơi chôn nhau cắt rún của chị. Chị lớn lên trong căn nhà đó và tiếp tục ở nơi chốn này tới giờ, trừ mấy năm chị học nội trú Gia Long.

Trẻ ở làng đều là học trò của chị, trong ít nhất là một năm. Kể cả các cháu của chị (con của anh Tư, anh Sáu và anh Tám). Bây giờ học trò chị phần đông đã đi tứ xứ. Thỉnh thoảng vài cô cậu về thăm gia đình nơi quê cũ, đến «chào cô», thăm chị, mang đến chị một vài niềm vui tô đẹp cho cuộc sống phẳng lặng của chị.

Ngày xưa, chị là cả thế giới của tôi. Khi thua trong một cuộc chạy đua, tôi đã … giữ thể diện trước “đối phương”  bằng câu nói « chị Năm tao chạy nhanh hơn mày ».

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Dạy cho trẻ tư duy biết phê phán

Dạy con hay dạy trò, xin nhắc lại, là giúp chúng tự lập. Đó là nền tảng của giáo dục khai phóng. Để chúng có thể bươn chải sống làm người, không phụ thuộc ai và không bị …lóa mắt bởi những sự thật … giả.

Những sự thật giả thì đầy rẩy trên đường đi, trên báo chí, trên mạng.

Dạy trẻ là dạy cho chúng biết biết quan sát, biết tự đặt câu hỏi, biết nghi ngờ để từ đó suy xét cái đúng, cái sai, các giá trị cần phải có để … tu thân trong cái chuỗi “tu thân tề gia trị nước bình thiên hạ” – nhưng tôi ngừng lại ở phần đầu: tu thân để biết, để làm, để sống với xã hội mà UNESCO đã đề cao như chủ đích của giáo dục.

Phê phán cần trước tiên là tò mò tìm hiểu. Chưa biết thì chưa thể phê phán được. Biết ở đây là biết đến nơi đến chốn, biết một cách … khoa học, tức là toàn diện và khách quan.

Dẫn dắt trò tiếp cận những vốn về lịch sử, về khoa học, về nhân chủng … là giúp chúng thêm khả năng tư duy vì có biết mới suy nghĩ được, suy nghĩ với so sánh căn nhắc và từ từ đi đến phê phán

Trong phê phán có phần cá nhân nhưng phải khách quan. Nếu không, người phê phán chỉ là kẻ vội vàng, cảm tính.

Phê phán cũng cần sự sáng suốt, sự khiêm tốn Tức là thái độ của người hiền theo triết lý La Mã hay của kẻ sĩ theo triết học Á đông.

Tự biết mình như biết khả năng tiếp cận, biết giới hạn của hiểu biết. có khả năng phê bình nhưng cũng có quyền lựa chọn triết lý và tôn giáo.

Gia đình và trường học có bổn phận “dạy” trẻ đi từ nhu cầu của chúng, trong sự tôn trọng bản thể của chúng và lúc nào cũng khuyến khích chúng trở thành chính mình, ta không rèn hàng loạt những chú lính chì. Khái niệm “con ngoan và trò giỏi” là những khái niệm của quá khứ. Trái lại, cần tập tành cho trẻ suy nghĩ một cách độc lập.

.

Nhưng suy nghĩ một cách độc lập không có nghĩa là bỏ ngoài tai các tri thức căn bản và nghĩ rằng ý kiến cá nhân của mình có giá trị tuyệt đối.

Tự lực cánh sinh về trí tuệ là một điều tối cần thiết nếu muốn cho trẻ có tư duy phê phán. Độc lập để phê phán.

Đi theo lề phải hay lề trái là một chọn lựa. Nhưng “đi theo” là một biểu hiệu của thiếu độc lập.

Phê phán cần độc lập. Không theo mẹ theo cha hay theo thầy.

Dĩ nhiên, là cấu thành của xã hội, trẻ bị xã hội hóa, bị ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình, thời cuộc nhưng phải làm sao cho trẻ suy nghĩ một cách độc lập, nhiều chừng nào tốt chừng đó, tránh không để chúng bị gò bó bởi những “khuôn vàng thước ngọc” – học thuộc lòng và đánh giá-trả bài là những phương thức cần phải loại bỏ.

Ở châu Âu, với truyền thống Socrate, Montaigne và Descartes trường học cốt tạo cho trò khả năng tiếp cận sự thật, cái nào tin được và cái nào phải nghi ngờ, quan sát để hiểu để biết và từ đó, vun trồng cá thể để trở thành người tự do và tự lập – tự lập kinh tế xã hội và tự do trí tuệ.

.

Một lần nữa, để phê phán, cần biết tiếp cận các kiến thức, kiến thức cơ sở và cập nhật, biết đặt câu hỏi để … đo lường giá trị của các kiến thức mà mình tiếp cận, biết so sánh các nguồn, biết bảo vệ và phán đoán theo những giá trị tối cao như sự thật, công bằng, bác ái luân lý, …

Sự thật là nói về giá trị khoa học. Còn các khái niệm như thương cảm, như công bằng, bác ái, … là các giá trị đạo đức.

Muốn biết phê phán thì cần khoa học. Nhưng đồng thời cũng cần đạo đức. Đó là hai điều cần cho con người của thế kỷ XXI.

.

Có khả năng “chơi” với hai cấu thành đó một cách độc lập là thành người có tri thức và biết phê phán.

Rốt cuộc ta nhấn mạnh trên định nghĩa triết học của phê phán : gồm khía cạnh hiểu biết, luân lý, đạo đức và khả năng dùng lý luận một cách cẩn mật, có suy nghĩ chứ không hồ đồ hay cảm tính.

.

Dạy cho trẻ tư duy biết phê phán không là cách dạy kiểu to do list, cũng không nói đến liên môn hay tích hợp, mà  là triết lý phải hướng tới cho tất cả các môn trong chương trình giáo khoa, với những phương thức sư phạm “dạy cho trẻ trở thành” – trở thành tự lập, trở thành chính mình, trở thành người có tri thức và biết suy nghĩ.

Cụ thể là phải trao quyền cho trò, phải đi từ nhu cầu của trò, lấy trò làm trung tâm, dạy chúng cách học, nhất là cách tự học, để chúng làm chủ hiểu biết, hết lệ thuộc thầy, có khả năng học suốt đời, …

Tức là phải tử bỏ cách dạy từ chương, cách dạy học thuộc lòng, cách “truyền kiến thức”, … Giúp trò làm chủ các tiếp thu để sẳn sàng đối mặt với … cách mạng thông tin chẳng hạn.

Cải tổ toàn diện giáo dục là như thế.

Nguyễn Huỳnh Mai

Phạt học trò ở trường học?

Punir les élèves à l’école?

Bài này khởi thủy đã viết cách đây bốn năm. Dân Trí đã cho lên trang, mục “Diễn đàn-Ý kiến của chuyên gia” ngày 11.01.2015 :

http://dantri.com.vn/dien-dan/phat-hoc-tro-o-truong-hoc-1018452.htm

hôm nay đăng lại để trả lời cho một bạn đọc

.

Một bé gái lớp 6/7, 12 tuổi vì không thuộc bài và nói chuyện trong lớp bị giáo viên đánh đòn vào mông bằng thước kẻ làm bé bất tỉnh, bé lại vốn có tiền sử bệnh động kinh, rốt cục, đã tử vong sau đó.

Vấn đề đánh đòn học sinh ở trường?

Yêu cho roi cho vọt” là câu nói ta thường nghe. Câu này, trong chừng mực nào đó, “chính thống hóa” quyền được đánh trẻ, ở nhà cũng như ở trường.

Nhưng điều mà đại đa số người lớn hay quên là trẻ cũng biết suy luận và biết đau. Tức là có thể dạy trẻ mà không cần roi vọt. Giải thích bằng lời đủ cho trẻ hiểu và tuân thủ phương thức sinh hoạt xã hội. Như thế ta tránh không phải phạt, không phải gây đau cho chúng. Đánh đòn, nhục mạ hay cách ly một trẻ, không cho bé chơi cùng các bạn, … đã được định nghĩa như là những hình thức bạo hành và bị luật phạt.

Cụ thể hơn, việc dùng các hình phạt đụng chạm đến thân thể học trò đã bị cấm từ 1783 ở Ba Lan, từ 1887 ở Pháp, tức là từ gần cả hai trăm năm nay.

Ở các nước Âu Mỹ khác, lần lượt, đều có luật cấm dùng phạt đòn ở trường từ đầu thế kỷ XX.

Phải nói là khoa sư phạm và tâm lý đã đi những bước bảy dậm. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các hình phạt không mang lại một kết quả tích cực nào hết cho việc dạy học. Một cách khoa học mà nói, khi một phương thức không có hiệu quả thì phải từ bỏ, dù là phương thức ấy đã được sử dụng từ lâu đời.

Hơn nữa, quyền được đi học và được tôn trọng của trẻ đã được các công ước và tuyên ngôn quốc tế nhìn nhận. Tuân thủ các quyền ấy cũng là chuyện đương nhiên thôi.

Qua kinh nghiệm bản thân, người viết bài này chưa bao giờ chứng kiến những trường hợp phạt đụng tới thân thể học trò ở Bỉ.

Cách đây gần ba mươi năm, chúng tôi đã phải giải quyết trường hợp của một giáo viên có thói quen đặt tên hiệu học trò của ông ấy (Pascal ngu như vua dưa chuột, Valérie là đèn đỏ của lớp, … ), một hình thức mà chúng tôi định nghĩa như bạo hành tâm lý và lần đó, giáo viên ấy đã được chuyển sang một công tác khác, không có tiếp xúc với học trò.

Phạt học trò thỉnh thoảng vẫn còn ở các trường ở trời Âu, chẳng hạn như

. bắt các em xin lỗi,

. gửi em đi gặp giám học hay chuyên viên tâm lý,

. bắt làm bài thêm cuối tuần hay cùng cực lắm,

. bắt em nghỉ học có giới hạn (hình phạt này không ứng dụng được ở các nước có luật giáo dục cưỡng bách – mà đại đa số các nước châu Âu, bổn phận tới trường bị bó buộc tùy nơi, tới 14, 16, hay 18 tuổi).

Nhưng các chuyên viên giáo dục đều nhất trí là :

. thưởng hay hơn phạt tức là phải phòng bệnh hơn là chữa bệnh, phải giải thích rõ ràng để trẻ không …phạm lỗi và như thế sẽ các hình phạt không còn cần thiết. Hơn nữa, thưởng khi trò làm tốt sẽ khuyến khích các em tiếp tục tuân thủ kỷ luật hay chăm chú học hành.

. giải thích, đối thoại khi trò phạm lỗi để em có thể tránh, lần sau, không tái phạm. Một hình phạt không có hiệu quả tránh tái phạm.

. hình phạt nào, kể cả những hình phạt nhẹ nhất đều có ảnh hưởng tiêu cực. Các em có thể mất hứng thú hay động cơ để học, mất tin tưởng nơi thầy, có mặc cảm vì xấu hổ trước bạn bè

. xâm phạm sự vẹn tròn thân thể của học trò là điều tuyệt đối cấm kỵ vì những hình phạt cơ thể có thể để lại những hậu quả tâm thần sau này

http://dantri.com.vn/c25/s809-647557/bi-nguoc-dai-ve-the-xac-gay-he-luy-lau-dai-ve-tam-than.htm

Đào tạo giáo viên?

Phạt hay không phạt học trò ở trường học là một vấn đề với những ý kiến trái chiều.

Trên các diễn đàn, một số người cho rằng “Nói cấm phạt thì dễ lắm, phải đứng lớp mới biết là có những học sinh cá biệt mới hiểu được cái khó khăn của người đi dạy”

Dĩ nhiên rồi, đứng lớp là một công việc vô cùng khó khăn, nhất là trong bối cảnh còn nhiều hạn chế ở nước ta và nhất là khi công việc của giáo viên chưa được đền bù thỏa đáng.

Qua kinh nghiệm và nghiên cứu của người viết bài này, có thể cũng cần phải đào tạo các giáo viên về những phương thức giải quyết những vấn đề như cho điểm xếp hạng và kỷ luật ở trường.

Nói cách khác, công việc của giáo viên không những chỉ là truyền kiến thức, tạo hứng thú, chia sẻ đam mê, … mà còn là dạy cách sống chung với xã hội mà điểm bắt đầu là … sống chung với giáo viên, cho các em biết những …”luật chơi” trong quan hệ thầy trò, những điều được quyền làm và những điều cấm kỵ.

Nghệ thuật giải quyết tranh chấp cũng là một khả năng mà một giáo viên cần có, khi tranh chấp xảy ra. Đối thoại để tìm một giải pháp thỏa đáng là phương thức được đề cao ở trời Âu từ vài ba thập niên.

Ngoài ra, vấn đề không chỉ ở bình diện vi mô, trong liên hệ giữa thầy và trò. Trên vĩ mô, có thể phải nghĩ đến gánh nặng đè trên vai của giáo viên: gánh nặng vì chương trình học (mà có khi chương trình không hay hết thích hợp) , gánh nặng sỉ số trong các lớp (các lớp có học trò cá biệt phải nhỏ hơn để giáo viên có thể theo dỏi tốt các em), …

Tựu chung, cần rất nhiều cố gắng, nhiều thay đổi để làm sao các giáo viên có thể dạy trẻ đàng hoàng, để cho tất cả trẻ đến trường đều được kính trọng chứ không bị đánh đòn. Và trường học thành nơi đầy niềm vui.

Nguyễn Huỳnh Mai

Gió đưa cây cải về trời, . . .

Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay . . .

Bạn bè đứng im lặng khi tro của chị M.A. được đem rải trên thảm cỏ. Cát bụi trở về với cát bụi … Từ giờ đây cố nhân chỉ còn lại trong tim những người bạn cũ …

Ảnh và chú thích : Nguyễn Huỳnh Mai

Viết thêm: Thay vì xây mồ mả vĩ đại, hỏa táng và rải tro trên thảm cỏ vừa kín đáo vừa hợp với thiên nhiên. Ở Pháp, Bỉ và những nước Âu châu, khoảng 1/3 người qua đời hiện chọn hỏa táng

https://www.planetoscope.com/mortalite/1593-nombre-de-cremations-incinerations-pour-les-obseques-en-france.html

Người hiền, người tử tế và tầng lớp tinh hoa trong xã hội

Truyền thông Việt Nam có thói quen dùng những từ quá đáng, cứ như “tặng hoa” cho người nổi tiếng – giáo sư thì “thuộc hàng đâu thế giới” , người giàu thì được tôn là “tĩ phú” là “đại gia”, ca sĩ thì thành “diva” dù có khi chưa bao giờ hát opera trong đời, nhạc sĩ thì thuộc … “tầng lớp tinh hoa của xã hội”.

Xin mời đọc một bài cũ

Le sage, l’être moral et les élites dans la société

.

Một bạn trẻ hỏi tôi về các … mẫu người nói trên

Trước nhất, người hiền, người tử tế có thể thuộc tầng lớp tinh hoa trong xã hội mà cũng có thể hoàn toàn … bình thường chứ không là người “ăn trên ngồi trước”. Các khái niệm có thể hoàn toàn độc lập với nhau. Có thể người hiền, người tử tế là những cánh hoa làm đẹp cuộc sống trong khi tinh hoa trong xã hội không … hiền và không tử tế.

Bên ta còn có từ “người trí thức” “người làm khoa học”, xưa hơn thì có “quân tử” và xếp những hạng người này vào tinh hoa của xã hội.

.

Trong văn hóa Âu Tây, thế kỷ thứ XVII có vẽ ra mẫu người hiền – honnête homme – một người thanh nhã bề ngoài cũng như bề trong – dáng dấp diện mạo cũng như tâm hồn – thanh cao tao nhã không cầu kỳ xa cách, có chiều sâu, có vốn hiểu biết nhưng không khoe khoang, chừng mực từ tốn và can đảm, sẳn sàng dấn thân khi cần. Cao thượng nhưng không huê hoang, không phơi cái tôi đáng ghét ra khắp phố phường – có chừng mực và thanh cao. Các nhà hiền triết như Pascal và Descartes là mẫu điển hình của người honnête.

Thế kỷ thứ XIX và XX, người hiền từ từ biến mất, mà thay vào đó là nhiều tầng lớp tinh hoa : người có tiền bạc (homo œconomicus), những trí thức nổi bật, người lãnh đạo chính trị, … những người thuộc  tầng lớp thống trị – thống trị bởi tiền bạc, thống trị bởi triết lý hay thống trị bởi tổ chức hành chính.

Ta phân biệt tinh hoa kinh tế, tinh hoa biểu tượng, tinh hoa chính trị, tinh hoa ý thức hệ,  …

https://huynhmai.org/2014/11/09/tang-lop-tinh-hoa-trong-xa-hoi/

Một cách tổng quát, tinh hoa của xã hội là những người thuộc tầng lớp lãnh đạo, đứng đầu các tổ chức chính trị, kinh tế, tư pháp, quân đội, tôn giáo và cả các nghiệp đoàn và các cơ quan truyền thông. Những người ghi dấu ấn của mình trong xã hội và tạo nên một cái gì mới cho xã hội.

Simone de Beauvoir và khái niệm nữ quyền, Gandi và sự đấu tranh không bạo lực, Hồ chí Minh và tuyên ngôn độc lập 1945, Bill Gates và Microsoft, …

Đó là định nghĩa lý thuyết. Trên thực tế, cần thêm vào đó một số điều kiện khác.

Có thể là điều kiện đạo đức và ở đây tôi bắt đầu trả lời câu hỏi của bạn đọc trẻ tôi vừa nêu ở đầu bài. “khái niệm người hiền, người tử tế”.

Là một người suốt đời đã đi dạy, tôi cốt ý là giúp giới trẻ học để sống ở đời để sống cùng nhau trong xã hội. Đó cũng  là mục tiêu tối thượng,  mà UNESCO đã đề ra từ hơn một phần tư thế kỷ.

Học để sống ở đời – không chỉ giúp trẻ biết giải thích các hiện tượng của thiên nhiên như trời mưa trời gió mà còn có khả năng giải mã các hiện tượng xã hội như cấu trúc của gia đình, sinh hoạt trên facebook, bạo lực ở học đường hay các vấn đề vĩ mô hơn như  thể chế chính trị, tự do và độc tài, …từ đó trẻ có thể tạo cho mình khả năng suy xét – cái mà tiếng Pháp gọi là discernement – người có discernement là người biết suy nghĩ, không hành động theo cảm tính. Đó là khởi điểm của đạo đức và trẻ thành người … hiền.

.

Học còn để sống với người khác trong xã hội – ” Thương người như thể thương thân” là câu ông bà ta đạy cách sống ở đời. Phương Tây thì nói “không làm cho người khác những gì ta không muốn người khác làm cho mình” – Tử tế là như thế. “Ăn ở có nhân nghĩa, có tình người” – Tử tế là phần đóng góp của mỗi cá nhân để xã hội sinh hoạt nhịp nhàng và để trường tồn. Giới chuyên môn chúng tôi gọi đó là chất keo của xã hội. Thiếu chất keo tiếp nối giữa các thành viên với nhau thì xã hội xuống cấp, tiêu vong. 

Học xa hiểu rộng giúp con người ta biết những giới hạn của mình, của người, của một nền văn hóa nào đó, … Tức là giúp ta tránh những lý luận chủ quan, những quan điểm cục diện, tinh thần quốc túy…

Nhưng biết suy xét, học cao hiểu rộng vẫn chưa là tinh hoa của xã hội

Tinh hoa của xã hội cần thêm khái niệm quyền lực, quyền lực tạo một khúc quanh của biến chuyển xã hội.

Quyền lực cụ thể, khả năng đưa ra những quyết định có liên quan đến cộng đồng và được cộng đồng tuân thủ. Một tướng lĩnh ra quân chống ngoại xâm là thí dụ cổ điển. Quyết định in thêm giấy bạc hay từ bỏ quyền tư hữu là vài thí dụ khác. Trong lịch sử, quyết định đánh quân Nguyên của các bô lão ở Hội nghị Diên Hồng là một thí dụ khác cho thấy giới bô lão có vị trí tinh hoa trong xã hội.

Khi Simone de Beauvoir viết Giới tính thứ nhì, bà gióng hồi chuông báo động về bất bình đẳng giới. Bà có cái quyền lực mà tôi gọi là quyền lực biểu tượng. Bà Hannah Arendt nói về cái ác bình thường bà đã cho một định nghĩa mới về cái ác. Bà cũng có quyền lực biểu tượng.

.

Ai là tinh hoa ở Việt Nam hiện thời ?

Trên lý thuyết, đó là những người có quyền, nắm vận nước trong tay. Họ được chính thống hóa bởi cấu trúc Đảng và nhà nước. Nhưng cơ cấu tập trung dân chủ và quyết định với trách nhiệm tập thể làm cho khó có một cá nhân nào nổi bật như tinh hoa. Đôi khi một vài viên chức đăng đàng phát biểu với những ý tưởng canh tân táo bạo nhưng khó mà biết đâu là truyền thông tiếp thị đâu là chính sách thực tiển.

Bên cạnh đó, tầng lớp trí thức khoa bảng, đúng ra cũng là tinh hoa của xã hội. Nhưng đại đa số những thành viên của tầng lớp này không có những vai trò đích thật để đưa đất nước ra … con đường sáng – để dùng chữ của nhà văn Hoàng Đạo – như phát minh khoa học, cải tổ giáo dục hay canh tân nông nghiệp, …

Còn tinh hoa kinh tế? Việt Nam ta có những tỉ phú đô la. Đại gia thì ta có nhưng tinh hoa kinh tế thì không vì những đại gia Việt Nam không hoàn toàn làm giàu cho xứ sở và để dấu ấn của mình trên tình hình kinh tế nước nhà, giúp cộng đồng sống tốt hơn.

Trong chừng mực nào đó, bà Nguyễn thị Phương Thảo có thể, xin nhấn mạnh trên chữ “có thể”, tôi chưa có dịp nghiên cứu vị trí của bà trong xã hội,  thuộc thành phần tinh hoa vì bà đã khai trương hệ máy bay giá rẻ và … cách mạng hóa những hình thức di chuyển của dân tình. Trong khi những người khác, giàu nhờ bất động sản chẳng hạn, có tiếng là đại gia nhưng không thể xem họ như tinh hoa của xã hội.  

Cũng có thể ông Phạm Nhật Vượng với VinUniversity sẽ để dấu ấn khi Đại học này thực hiện được chủ đích trở thành một Đại học thuộc top 50 hay top 100 thế giới – điều mà ông Vượng đã tuyên bố. 

Cuối cùng, xã hội học khác đạo đức học.

Tinh hoa tạo dấu ấn cho xã hội. Dấu ấn đó có thể là dấu ấn tích cực cũng như tiêu cực. Hitler với chủ nghĩa phát xít, đã đưa cả thế giới vào thế chiến, đã giết sáu triệu dân Do thái, nhưng ông vẫn được xếp vào tinh hoa của xã hội, tinh hoa ý thức hệ.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

UNESCO và giáo dục Đại học

Les rôles de l’Université suivant l’UNESCO

.

Đây là một bài gần 2000 chữ đã đăng trên Dân Trí ngày 14.11.2011

http://dantri.com.vn/dien-dan/unesco-va-giao-duc-dai-hoc-1321575049.htm

nhưng vẫn còn tính cập nhật

Trong khung cảnh những tranh luận về cải tổ Giáo dục Đại học đang diễn ra hiện nay, thiết nghĩ nên xem lại những định hướng của UNESCO về Đại học, có thể coi đây là tài liệu tham khảo hữu ích.

Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc UNESCO  có hai văn kiện quan trọng về vấn đề giáo dục Đại học.

– Văn kiện đầu là Tuyên ngôn thế giới về giáo dục Đại học cho thế kỷ XXI  tầm nhìn và hành động ký ở Paris, ngày 09.10.1998 bởi 182 quốc gia trong đó có Việt Nam

– Văn kiện thứ nhì là Tuyên bố của Hội nghị quốc tế UNESCO về giáo dục Đại học (Paris, 5 đến 8 tháng 7 năm 2009 ). Hội nghị này có chủ đề là “Sự năng động mới của giáo dục Đại học và nghiên cứu để cho tiến bộ và phát triển của xã hội”.

 Giới thiệu những nét chính của hai văn kiện này :

Tuyên bố UNESCO 2009 chỉ là một cách nhìn lại những thành quả đạt được 10 năm sau Tuyên ngôn 1998. Tuyên bố này nhắc lại một số điểm quan trọng mà các thành viên của UNESCO đã thống nhất trong Tuyên ngôn thế giới về giáo dục Đại học.

Cả hai văn kiện nhấn mạnh vai trò của giáo dục cũng như triết lý của Đại học : không những đào tạo cho sinh viên có kiến thức vững chắc và biết vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh hiện thời và cả cho tương lai. Hơn nữa, còn đào tạo những công dân có ý thức trách nhiệm, sẵn sàng bảo vệ hòa bình, nhân quyền và những giá trị dân chủ.

Phần mở đầu của Tuyên ngôn 1998 đưa ra những nhận định vô cùng thiết thực :

Số sinh viên tăng mạnh, phát triển xã hội càng ngày càng dựa trên nền tảng tri thức thành ra giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học trở thành những cấu thành tối quan trọng cho sự phát triển văn hóa, xã hội, kinh tế, môi trường, … của nhiều quốc gia trên thế giới

Không có cơ sở giáo dục đại học và không có nghiên cứu thích hợp để đào tạo một số lượng lớn trí thức có trình độ chuyên môn cao, thì không một nước nào có thể tự phát triển một cách bền vững.

Giáo dục Đại học còn có thể góp phần tích cực giải quyết những vấn đề mà chính phủ và các cộng đồng xã hội phải đối diện, hầu thực hiện lý tưỡng hòa bình và an ninh xã hội, nâng cao đời sống nhân loại

Cấu trúc của Tuyên ngôn  chỉ có  17 điều đi từ những vai trò của giáo dục Đại học tới những điều căn bản như bình đẳng giữa Nam Nữ trước Đại học ; giáo dục Đại học cho tất cả công dân, tự do hàn lâm, vai trò của Quốc gia, những hợp tác quốc tế về giáo dục hay những chi tiết kỹ thuật như sự cần thiết phải đánh giá các trường Đại học, …

Trong khuôn khổ bài này,  xin đi sâu về vai trò của giáo dục Đại học theo UNESCO

Đại học có nhiều vai trò. Thế kỷ thứ 21 là thế kỷ của tri thức, không phải là một khẩu hiệu rình rang và trống rổng mà thực tế là như thế. Tài nguyên thì khai thác mãi cũng cạn, thế giới phải đối mặt với những cam go của sự sống còn của 7 tỉ người, trong lúc mà nhiên liệu mai một (dầu hỏa sẽ hết trong 40 năm nữa ?), biến chuyển môi trường là một thách thức rình rập ngoài hiên (băng hà tan, ngập lụt, khí hậu,… đó là chưa nói đến ô nhiểm, khủng hoảng kinh tế,…). Không có tri thức làm sao giải quyết những khó khăn cận kề đó ?

Điều 1 của Tuyên Ngôn 1998 UNESCO đi thẳng vào vấn đề và liệt kê chi tiết những vai trò của giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của Đại học để phát triển xã hội và cải thiện đời sống  (những chữ có gạch dưới được trích dịch từ bản Tuyên ngôn):

– Đào tạo tay nghề cao, những công dân có trách nhiệm chuyên nghiệp tùy theo nhu cầu hiện tại và tương lai của xã hội

Truyền kiến thức và đào tạo chuyên nghiệp là sứ mạng cổ điển của Đại học. Nhưng Đại học có bổn phận phải trả lời những nhu cầu đặc thù của xã hội chứ không phải làm việc riêng lẻ và ẩn mình trong « tháp ngà » của khoa học. Nói cho cùng, Đại học là một thành phần của xã hội, lại được xã hội nuôi dưỡng (tài trợ, đóng học phí) thì nếu phải đào tạo giới trẻ trong những ngành nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội thì cũng hợp lý thôi.

Nhu cầu hiện tại dễ xác định. Nhưng tầm nhìn phải xa hơn. Xã hội ở thế kỷ thứ 21 biến chuyển nhiều, biến chuyển nhanh và biến chuyển sâu. Đào tạo thế hệ trẻ giỏi khoa học kỹ thuật là đào tạo cho tương lai nên phải dự đoán đúng những nhu cầu tương lai của xã hội.

Chữ “có trách nhiệm” quan trọng. Tiếng Việt ta nói “vừa có tài vừa có tâm”, tài và đức đi đôi. Dĩ nhiên Đại học không phải lên lớp dạy luân lý cho sinh viên, nhưng qua cách dạy (lấy trò làm trung tâm), cách làm khoa học (nghiêm chỉnh và trung thực), liên hệ đối xữ thầy-trò (dân chủ và văn minh), giữa đồng môn (bình đẳng trong tương trợ), môi trường trong sạch (không vị lợi chẳng hạn), … Đại học có khả năng truyền đạt và rèn luyện đạo đức cho sinh viên.

Có trách nhiệm với xã hội còn có ý nghiã xa hơn : có khả năng nhận định về xã hội và phê bình những hiện tượng “bất thường” để góp phần phòng ngừa tai họa và đem lại cuộc sống tốt cho tất cả mọi người. Nói một cách nôm na, có khả năng và trách nhiệm “gióng hồi chuông báo động” để giúp xã hội tránh hiểm nguy.

Chú ý tới đào tạo khởi thủy và đào tạo cập nhật suốt đời sau đó trong một bối cảnh tôn trọng quyền làm người, phát triển bền vững của xã hội, dân chủ, hòa bình và công bằng.

Đào tạo khởi thủy quan trọng. Đó là cơ sở, những hiểu biết căn bản, hành trang để vào đời của một sinh viên Đại học lúc tốt nghiệp ra trường. Nhưng khoa học phát triển bằng những bước của người khổng lồ, kiến thức hôm nay không chắc sẽ còn có giá trị ngày mai. Dĩ nhiên, các cá nhân có thể trở về Đại học để cập nhật kiến thức. Nhưng cũng có thể hiểu là Đại học phải đào tạo thế nào để các cựu sinh viên mình được trang bị sẳn sàng và có khả năng tự học sau đó để cập nhật kiến thức.

Xin nhấn mạnh ở chủ đích của những đào tạo này : những chủ đích nhân bản, dân chủ, hòa bình và bình đẳng.

Phân phối truyền bá hiểu biết cũng là một sứ mạng của Đại học.  Tuyên ngôn UNESCO, trong điều 1 viết tiếp : Biểu dương những ý tưởng và hành động tạo nên và phân phối, truyền bá trí thức và kết quả của nghiên cứu khoa học, trong sứ mạng giúp cộng đồng, xã hội phát triển văn hóa, xã hội, nghệ thuật.

Không những chỉ dạy sinh viên mình, chỉ giúp sinh viên mình nghiên cứu khoa học mà còn phải mang khoa học đó ra ngoài xã hội để mọi người đều tiếp cận được. Đó là bổn phận của Đại học đối với cộng đồng, dùng những phương tiện truyền thông đại chúng (thuyết trình, viết báo hay lên truyền hình) để phổ cập những hiểu biết mới, bằng một ngôn ngữ dễ hiểu, cho cả cộng đồng xã hội, cho mọi người cùng nâng cao kiến thức của mình để sống tốt hơn.

Nhiệm vụ sau đó của Đại học là giúp hiểu biết, bắc cầu cho sự thông cảm giữa các văn hoá không kỳ thị giữa những văn hóa khác nhau trên phương diện quốc tế cũng như nhưng văn hóa khác nhau trong cùng một xã hội.

– Giúp bảo tồn những giá trị xã hội (điều 1 e) : theo xu thế tiến bộ, truyền bá khoa học nhưng vẫn không quên những giá trị truyền thống, lịch sữ và văn hoá vì đó là những cội rễ, là nền tảng của xã hội

Và sau cùng,  Đại học có trách nhiệm đào tạo giảng viên và giáo sư cho tất cả các bậc học để hoàn thành sứ mạng giáo dục toàn xã hội.

Truyền hiểu biết thôi chưa đủ. Phải thêm vào sáng tạo và phát minh. Đó là vai trò nghiên cứu để phát triển hiểu biết trong những lĩnh vực khoa học và mỹ thuật, nhiệm vụ quan trọng khác của Đại học (điều 5 của Tuyên ngôn) : Đổi mới canh tân sáng tạo nếu không thì sẽ không làm sao theo kịp đà tiến triển của thế giới.

Tuyên bố UNESCO 2009 cũng trở lại một vấn đề tâm điểm trong các vai trò của Đại học :

Giáo dục Đại học để chống nghèo đói, để  phát triển bền vững, để thiết lập công bằng xã hội”. Hơn 60 điều để thấy là còn nhiều việc phải làm để thực hiện hết tầm nhìn đã phác họa năm 1998 của Tuyên ngôn Thế giới.


Riêng đối với nước ta, giáo dục Đại học rất cần cho phát triển bền vững, chống bất bình đẳng xã hội và mưu cầu một đời sống tốt cho tất cả mọi công dân. Kỹ năng chuyên môn về khoa học kỹ thuật là điều kiện phải có để phát triển nông nghiệp, công nghiệp, bảo vệ môi trường,

Đặc biệt cần quan tâm nhiều hơn đến vai trò nghiên cứu khoa học của Đại học để không ngừng nâng cao trình độ của các giảng viên cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy và giúp cho sinh viên.làm quen với công việc nghiên cứu khoa học, tạo cơ sở cho việc tự học và sáng tạo lâu dài sau này..

Kết luận

Đại học có vai trò đào tạo những thế hệ tương lai biết suy nghĩ và năng lực suy nghĩ – tức là những người đi trên hai chân, một chân làm ra vốn liếng, một chân bảo tồn đạo đức. Một mặt lo kinh tế, mặt kia lo xã hội. Vừa thấy hiện tại lại để ý lo cho tương lai. Biết từ đâu đến và biết sẽ đi về hướng nào.

Tham vọng đó là tham vọng đào tạo những « người quân tử », nếu nói theo kiểu xưa, hay những người trí thức, nếu nói theo kiểu hiện đại hơn. Một số người quan niệm rằng giáo dục Đại học là để đào tạo tinh hoa cho xã hội, không phải một giai cấp tinh hoa thống trị mà là những tinh hoa có trách nhiệm, ý thức được vai trò và bổn phận mình với xã hội. Âu đó cũng là quan niệm về kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ bên ta và cũng là cốt lõi của Tuyên ngôn UNESCO 1998.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Mời đọc thêm bài này:

https://huynhmai.org/2015/04/11/truong-hoc-o-chan-troi-2020-2/