Skip to content

Thế nào là bị xúc phạm trên mạng xã hội?

Le harcèlement sur les réseaux sociaux

Nhân chuyện Bà Bộ Trưởng Y tế bị xúc phạm trên mạng xã hội, nhiều báo xôn xao mấy hôm nay chung quanh vấn đề định nghĩa khái niệm

http://tuoitre.vn/the-nao-la-xuc-pham-nguoi-khac-tren-mang-xa-hoi-20171022101531938.htm

.

Vấn đề này tôi đã nhiều lần bàn đến, trên blog này:

https://huynhmai.org/2017/01/02/bi-xuc-pham-tren-mang-xa-hoi-2/

https://huynhmai.org/2016/08/05/xuc-pham-nguoi-khac-tren-mang-xa-hoi/

https://huynhmai.org/2016/08/06/bi-xuc-pham-tren-mang-xa-hoi/

https://huynhmai.org/2016/08/26/cyber-harcelement-bibliographie/

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

“Tư duy trong cái hộp”

” Thinking in the box, thinking out of the box”

Chuyện lao xao tuần này về việc giáo viên được hay không được dạy những gì ngoài sách giáo khoa làm tôi nghĩ đến khái niệm tư duy trong cái hộp,. một khái niệm được dùng lần đầu tiên bởi (version en français)

Leadership et auto-aveuglement – Sự lãnh đạo và sự mù quáng của chính mình. Viện Arbinger, NXB Ronan Denniel, 2006.

Sách này nhấn mạnh trên một vấn đề mà cả xã hội thường gặp phải, ở vi mô cũng như ở vĩ mô, trong giáo dục cũng như trong các xí nghiệp…

Ta thường mù quáng đến nỗi nghĩ rằng mình lúc nào cũng có lý.

Yêu mình quá độ, tự cao tự mãn

Thiếu khiêm tốn, thiếu suy xét, không biết nhìn xa, không thấy rõ, không cầu thị, không cho phép phản biện, …

là những hình thức  “giam mình trong cái hộp”.

.

Làm thế nào để đi ra khỏi cái hộp?, chống lại chính cái mù quáng của mình ? Và trả lời được ít nhất là đại đa số các vấn đề về thông tin, về quản lý, về liên hệ xã hội?  – để cập nhật hóa, để tiến bộ ?

Suy nghĩ độc lập với những khuôn vàng thước ngọc, tránh những thói quen, không ngủ quên trên tập tục hay theo các lối mòn, … đồng thời dựa trên những tri thức mới nhất, những phân tích tiếp cận khách quan nhất,

Dù rằng có đi ngược lại với cái thuận tình của đám đông, dù biết rằng có …mạo hiểm trong cải cách canh tân,

là một vài trong những cố gắng đi ra ngoài cái hộp.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

TIC thay sách giáo khoa?

Bài này cũng có thể đọc được ở đây:

http://dantri.com.vn/dien-dan/tic-thay-sach-giao-khoa-20171020200931891.htm

.

TIC = Technologie de l’Information et de Communication  – Công nghệ Thông tin và Truyền thông.

Tiếng Việt, ta có thể dịch TIC thành CTT theo chữ Công Nghệ Thông tin và Truyền thông vừa ghi trên.

"Cây" máy vi tính - thay vì trồng cây xanh ...

“Cây” máy vi tính – thay vì trồng cây xanh …(ảnh: M. Poirrier  chụp một tác phẫm điêu khắc trưng bày ở sảnh sân bay Schiphol – Amsterdam, Hà Lan)

 

Theo một khảo sát năm 2013 – các dữ kiện này cần cập nhật nhưng tạm thời tôi chưa có các con số mới hơn – , tại miền Nam nước Bỉ :

99% giáo viên sở hữu một hay nhiều máy tính

95% dùng các phương tiện thông tin TIC để soạn giáo trình

93% dùng internet mỗi ngày

77% nghĩ rằng các phương tiện thông tin TIC giúp làm giàu hơn các phương pháp sư phạm

Vài thực trạng 

. Càng ngày, trong các trường học, thầy và trò dùng bài và hình ảnh trên máy tính thay sách giáo khoa hay bổ sung cho sách giáo khoa

. Bài tập cũng được gửi cho trò, trò làm bài xong, gửi lại cho thầy đánh giá, cũng trên mạng và trò có kết quả tức thì.

. Thầy và trò tìm kiếm tài liệu, chuẩn bị bài vở và giáo trình với mạng internet

. Trò còn có thể làm việc nhóm trên mạng hay tự tổ chức thành forum để làm bài

. Trò, khi gặp khó khăn, có thể tìm sự giúp đở nhờ  các sites chuyên môn giúp học sinh cần hổ trợ.

Hiện thời ai cũng thấy là cách dạy và học “truyền thống” lúc cuối thế kỷ thứ XX từ từ được thay thế hay ít nhất là bổ sung với những phương thức mới trong đó có các TIC-CTT

Nhưng TIC-CTT có thay sách giáo khoa hay không thì cần nhìn xa hơn.

 

Lợi ích của sách giáo khoa

Sách giáo khoa là một điểm tựa, cần cho trò để “cấu trúc kiến thức” – một kiến thức khác với một ý kiến – sách giáo khoa có tính độc lập, khách quan và là điểm chung cho tất cả trò trong cùng một lớp,

Sách giáo khoa cần cho thầy. Người đi dạy không là chuyên viên của tất cả các môn. Sách giáo khoa giúp giáo viên một nội dung có bố cục sẳn sàng để dùng – prêt à l’emploi, nói theo tiếng Pháp – để dồn sức lực của mình và thời gian để chú tâm đến phương pháp sư phạm để truyền cái tri thức, có sẳn trong sách giáo khoa – cho trò,

Sách giáo khoa cũng là những đúc kết cần thiết cho ôn tập, giúp trò không phải lúc nào cũng ghi chép trong lớp.

Thí dụ ở lớp, trong lúc giảng bài, thay vì giáo viên ghi lên bảng và học trò phải chép lại vào tập hoặc thầy đọc và trò ghi , thì thầy và trò cùng đọc trong sách giáo khoa, 

Thầy và trò tiết kiệm được thời gian để làm những chuyện khác, bổ ích hơn.

.

Nhưng sách giáo khoa, một mình, không đủ.

Internet là một nguồn thông tin cập nhật và cần thiết vì những lý do dưới đây:

. Nghề nào hiện cũng cần máy tính, dân tình thường ngày cần E mail, cần Skype, cần các ứng dụng văn phòng. Việc học và dạy ở trường cũng thế, tiếp cận máy tính giúp trò thân thuộc, … cư xử với máy tính như “cá với nước” 

. Học trò rất thích dùng máy tính vì vừa hiện đại vừa là một … món đồ chơi

. Máy tính còn là một dụng cụ để thuyết trình, để tìm tài liệu, để vẽ, để chia sẻ thông tin

. Máy tính còn cho nhiều ứng dụng khác mà cụ thể nhất là mạng xã hội. Hiện giới trẻ không thể sống mà thiếu mạng xã hội.

Cái cần là dạy các em dùng các mạng xã hội và làm chủ chúng chứ không lệ thuộc chúng.

.

Điều kiện cần để dùng TIC-CTT trong trường (và trong xã hội)

. dĩ nhiên, đào tạo thầy để tất cả giáo viên đều có thể sử dụng và làm chủ các phương tiện thông tin mới, kể cả cách dùng những phương tiện này như công cụ giáo dục.

. dạy trò “đạo đức …dùng máy tính” biết phân biệt các địa chỉ trên mạng. Tránh lạm dụng những thông tin cá nhân, biết những giới hạn của quyền sở hữu trí tuệ, …Nhất là:

  • học cách tiếp thu có suy nghĩ, những điều thấy trên internet cũng không hẳn lả thật, là đẹp, là đúng. Có nghĩa dạy các em trước nhất …từ chối tiếp nhận để suy nghĩ rồi mới tiếp thu sau.

  • học một văn hóa “nền”   về triết, về kinh tế xã hội, về lịch sử… tức là những “khuôn khổ” cần có để giúp sàng lọc những tri thức mới, những “sự kiện” mới vừa tra khảo được trên mạng internet – như thế để “mạch lạc hóa những tri thức rời rạc”

  • tìm xem đâu là sự thật đúng nghĩa, tức là đánh giá độ tin cậy của thông tin

  • cuối cùng, việc tìm kiếm thông tin, với qui trình ba điểm trên, có hiệu quả hơn khi đó là một công việc nhóm – nhóm còn có vai trò nhắc nhở nhau những luật và lệ cần tuân thủ trong  cách dùng internet.

Philippe Meirieu, một nhà giáo hiện rất được tin cậy về các phương pháp sư phạm, bày tỏ sự thận trọng của ông khi nói đến tác dụng của các TIC-CTT  trong giáo dục. Ông không xem chúng như những phương tiện thay thế các phương thức sư phạm cũ (hay truyền thống) – Theo ông các TIC-CTT chỉ là những phương thức ngang hàng với những phương thức mà ta đã và đang dùng ở trường. Có thể thêm vào chứ không thay thế

.

Để kết luận

Nếu các TIC-CTT  có thể giúp trò tiếp thu các khái niệm và phát triển kỹ năng của chúng, giúp chúng tổ chức việc học – học với thầy hẳn rồi, mà còn tự học, học với bạn, học với internet,

Nếu các TIC-CTT giúp trẻ giải quyết các vấn đề một cách có suy nghĩ và có hiểu biết

Nếu các TIC-CTT cho thêm hứng thú vào bài học, …

thì ta nên đón nhận những TIC-CTT và ứng dụng chúng như  bất cứ phương tiện sư phạm mới nào khác,

Nguyễn Huỳnh Mai

Rồng ở trên sông Hàn

Le pont “dragon” à Đanang ou une esthétique discutable.

.

Cách đây hơn bốn năm, ít người lên tiếng về hiện tượng cầu Rồng ở Đà Nẳng. Bằng cớ là VHNA đã đăng bài này với  dẫn nhập của TBT :

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/dien-dan/rong-o-tren-song-han

.

Hôm nay, trong một phỏng vấn, cũng trên VHNA, nhà văn Nguyên Ngọc nói đến cái bất bình thường, ngược với văn hóa của cầu Rồng:

https://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/khach-moi-cua-tap-chi45/nha-van-nguyen-ngoc-con-nguoi-nao-thi-lam-ra-van-hoa-ay

Xin đăng bài cũ lại đây, gọi là một đóng góp … phản biện

Con Rồng cháu Tiên. Rồng nằm trong huyền thoại của chúng ta và chúng ta hảnh diện. Điều đó chính thống,  không ai chối cải .

Bên trời Âu,  các em bé  được ru bởi các truyện «công chúa ngủ trong rừng» hay «Bạch Tuyết và bảy chú lùn»  và cả một thế giới thần tiên – Nhưng tôi chưa bao giờ đưa các con cháu tôi đến các khu giải trí của Disneyland mặc dù các khu này tái tạo lại những chuyện cổ tích ấy.

Vì sao ?

Vì trí tưỡng tượng của các cháu rất là phong phú. Các cháu đủ khả năng để thêu dệt những hình ảnh tuyệt mỹ. Trong khi đó Disneyland, hay những khu vui chơi đồng loại, chỉ cung cấp màu mè và thô kệch, với những trò giải trí ồn ào, cho đám đông. Những sinh hoạt giết chết trí sáng tạo của mỗi bé.

Chuyện về rồng cũng thế.

Chưa ai tận mắt thấy rồng thế nào. Nhưng mỗi một trong chúng ta ôm ấp biết bao nhiêu là hình ảnh về rồng : cá chép ngậm ngọc vượt sóng hóa rồng, truyền thuyết về rồng một mắt ở thành Cổ Loa, Thăng Long và giấc mơ rồng bay của vua Lý công Uẩn. Các nhà khoa học thì tìm thấy nguồn gốc và  dáng dấp của rồng qua các khủng long …

Bây giờ ta không cần phải tưỡng tượng nữa. Cứ về Đà Nẳng, ghé qua cầu sông Hàn thì sẽ gặp rồng.

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2013/03/ky-thuat-khong-cho-phep-lam-dau-rong-ngang-cao/

Một con rồng không đẹp.

Đà nẳng thành … Đại sứ của Disneyland. Hay là anh em họ hàng với Disneyland.

Còn tôi, tôi đã diện kiến con rồng này, yên lành và thanh nhã, trong  một Viện bảo tàng ở Dusseldorf :

Dragon

Nguyễn Huỳnh Mai – bài và ảnh

Ta chạy theo hào quang và dịch sách “Cách mạng” của Emmanuel Macron ?

Courir derrière les …pouvoir ? ou la “Révolution” dans un contre – sens 

.

Ông Emmanuel Macron là Tổng thống nước Pháp từ gần sáu tháng. Dân Pháp đã bầu ông trong một hoàn cảnh chính trị đặc biệt – để cản đường phe cực hữu, Bà Marine Le Pen, lên cầm quyền. Cái chính thống của ông Macron phải được hiểu trong hoàn cảnh đó,

Nhưng cũng xin nhắc là chính phủ của ông Macron thiên hữu, bảo vệ người giàu, theo phía chủ nhân, các người nắm giữ vốn tư bản.

Một bằng chứng:  sắc lệnh Pénicaud, tên bà Bộ trưởng Lao động, mà ông cho ra đời, hóa trang dưới những mỹ từ “tự do” – tự do kinh doanh và tự do thương lượng giữa chủ và thợ – cái kiểu tự do giữa người mạnh (chủ) và người yếu (công nhân, thợ thuyền) – làm cho giới làm công càng ngày càng yếu thế trước giới chủ.

Bà Pénicaud đã, trong một đêm, cho cá nhân bà, giàu thêm gần một triệu Euro, khi bà quyết định cho Danone cắt hợp đồng và cho ngưng việc 900 nhân viên – lúc ấy bà là Giám đốc nhân sự của Danone.

Tự do cắt hợp đồng kiểu đó mà gọi là làm “cách mạng” thì quả là lạm dụng ngôn từ.

Việt Nam lại hảnh diện, ở Hội chợ sách tại Francfurt, được bắt tay Tổng Thống Macron, và được quyền chuyển ngữ cuốn sách mang tựa là “Cách Mạng”  của ông để phát hành tại Việt Nam

http://thanhnien.vn/van-hoa/tong-thong-phap-trao-ban-quyen-in-cuon-sach-cua-ong-tai-viet-nam-884478.html

Không phải vì ông Macron thuộc giới cầm quyền của một nước lớn mà ta phải “vinh dự” chạy theo. Còn phải xem những gì ông ấy làm cho dân của ông ấy.

Riêng vể quyển sách “Révolution” – Cách mạng – của ông ấy thì cũng phải tiếp cận một cách có suy xét.

Trong lý luận chữ “Cách mạng” của ông Macron, qua đường hướng ông đã thực hành trong sự nghiệp chính trị của bản thân có nghĩa là :  tự do tư bản, không cực hữu nhưng cũng không … xã hội tức là không nghĩ tới quyền lợi của số đông dân tình.

Mà làm cách mạng không có dân thì có còn là cách mạng nữa không ?

Nói đến cách mạng ta có thể nghĩ đến trước tiên là lật đổ một tình trạng hiện thời để thay thế vào đó một thể thức mới tốt hơn, hợp lòng dân hơn.

.

Đúng ra cách mạng là phải có chủ đích mang tự do, bình đẳng và hạnh phúc đến cho tất cả mọi người.

Nguyễn Huỳnh Mai

“Học” Tiến sĩ ở Đại học Liège ?

Etudier” son doctorat à L’Université de Liège ?

.

Bài này để trả lời các độc giả  hỏi về cách tổ chức của  ĐH Liège cho trình độ Tiến sĩ.

Thật ra các bạn ấy có thể vào trang nhà của ĐH Liège cũng tìm thấy được

https://www.recherche.uliege.be/cms/c_9125192/en/phd

tôi chỉ xin trình bày lại ở đây với vài chi tiết trên …trận địa.

.

Học” Tiến sĩ là gì? Chủ đích

Chữ “học” được để trong dấu ngoặc vì ở đây ứng viên tiến sĩ làm việc, nghiên cứu, tìm tòi, tự học chứ không còn học.

.

Quá trình “học” Tiến sĩ có chủ đích là đạt tới một chuyên môn cao – haute qualification – về khoa học và nghề nghiệp để góp phần vào nền khoa học toàn cầu và tạo thêm cho cá nhân khả năng tìm việc làm.

Sau quá trình học là một chứng chỉ ghi lại hết những giai đoạn mà “học viên” đã hoàn thành. Chứng chỉ này tối cần trước khi được quyền trình luận án Tiến sĩ.

.

Về nội dung, chương trình cá nhân của mỗi ứng viên Tiến sĩ được thiết lập mỗi năm, cho tới lúc tốt nghiệp,  với sự đồng ý của Hội đồng Tiến sĩ – Hội đồng này phê phán tiến bộ của ứng viên mỗi năm.

Chương trình được thiết lập uyển chuyển tùy theo mỗi ứng viên. Điểm chung của mỗi chương trình nằm ở ba trục chính:

. Hoàn thành những môn và seminar chuyên sâu theo ngành của ứng viên – tiếng Pháp là compétence disciplinaire –

. Tiến bộ trong các khả năng cần cho nghiên cứu chung  – compétences transversales – như khả năng tiếng Anh, thực tập và tham dự hội nghị ở nước ngoài, khả năng viết báo cáo khoa học, tham dự các nhóm suy nghĩ về đạo đức khoa học, về lịch sử khoa học, …

. Viết bài báo khoa học với cương vị là tác giả chính, soạn các bài thuyết trình ở các hội nghị quốc tế trong vai trò người được mời.

Điểm thứ ba này rất quan trọng

– mỗi “sinh viên Tiến sĩ” cần viết ít nhất là một bài báo đăng trên các tạp chí khoa học có hội đồng xét duyệt


có ít nhất là hai kỳ Hội nghị quốc tế và ít nhất ba thuyết trình ở Bỉ

– Một Patent hay Brevet sáng tạo có thể thay thế một bài báo và hai bài thuyết trình quốc tế

.

Tất cả những sinh hoạt này bảo đảm “danh tiếng” của ứng viên Tiến sĩ và mở cửa cho các hợp đồng việc làm sau này, chẳng những ở Bỉ mà ở toàn cầu.

.

Trên thực địa, đại đa số các ứng viên Tiến sĩ tự tổ chức công việc của mình, không chạy shows nhưng “chạy” các trung tâm có tiếng trong ngành của mình để đến đó  học hỏi, thực tập. Liên hệ với các bậc thầy cũng trong chuyên môn của mình hay những người đồng song, không những dự các Hội nghị hay Hội thảo mà còn đứng ra tổ chức các Hội nghị ấy với tư cách là local organiser, …

Họ còn tập tành “dạy Đại học” qua những buổi trình bày các thành quả nghiên cứu của cá nhân trước sinh viên trẻ hơn hay với bạn đồng song.

Họ điều khiển các tiểu luận ra trường của sinh viên Thạc sĩ.

.

Về thủ tục hành chính

https://www.recherche.uliege.be/cms/c_9200426/en/avant-de-demarrer

.
Mỗi chuyên khoa có một Hội đồng Tiến sĩ. Hội đồng này có nhiệm vụ:

. nhận đơn xin “học” Tiến sĩ của các ứng viên xem xét các giá trị tương đương nếu ứng viên đến từ một ĐH khác

. chỉ định một giáo sư hướng dẫn ứng viên TS

. quyết định chương trình và theo dõi quá trình tiến bộ mỗi năm của ứng viên

. quyết định chỉ định ban giám khảo của luận án

. quyết định khi luận án có thể được bảo vệ

Mỗi luận án có một GS đở đầu của luận án là người theo dỏi thường xuyên công việc của ứng viên và là người của chuyên ngành.

Ủy ban luận án, cũng gồm những người chuyên môn cho đề tài góp sức cùng GS đở đầu trong việc hướng dẫn luận án . Ứng viên có bổn phận ít nhất là một lần mỗi năm trình báo sự tiến triển của công việc của mình với Ủy ban


Ban Giám khảo của luận án Tiến sĩ thường gồm tối thiểu năm người trong đó có ít nhất là một người ngoại quốc. Những người này được đề nghị bởi Hội đồng luận án và được Phân khoa chấp thuận.

.

Ban Giám khảo cũng như các Hội đồng hay Ủy ban Luận án đều làm việc không có thù lao. Chi phí của họ được Đại học chi trả – chi phí di chuyển hay trú ngụ chẳng hạn.

Ứng viên không phải trả thù lao cho Hội đồng giám khảo của mình.

Thông thường, hơn 90% ứng viên Tiến sĩ làm việc với sự tài trợ của một học bỗng hay được lương trợ giáo của GS đở đầu luận án. Tức là ứng viên không phải bận tâm lo cơm áo gạo tiền để hết lòng chú tâm vào việc khảo cứu – dù là học bỗng hay lương này chỉ khoảng  2000 – 2700  euros mỗi tháng, không cao, nhưng đủ sống.

Thời gian tối thiểu cho một Tiến sĩ, ở ĐH Liège là ba năm nghiên cứu toàn thời gian – full time – Nhưng thông thường các ứng viên cần bốn năm mới hoàn thành được các bó buộc về nghiên cứu, bài báo và luận án.

Nguyễn Huỳnh Mai

Link này có thể đầy đủ hơn

http://www.doctorat.be/en

Một minh họa cho story telling

Le mariage de la reine de beauté Đặng thu Thảo à travers la presse vietnamienne – une illustration du story telling

.

Đám cưới của hoa hậu Đặng Thu Thảo là sự kiện lớn của các báo những ngày cuối tuần này.

Hôm nay Vietnamnet, in lại một bài dài, theo Zing, kể chuyện nàng lọ lem thành con dâu nhà tỷ phú

http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/the-gioi-sao/dang-thu-thao-co-gai-thuan-nong-tho-trang-diem-thanh-co-dau-ty-phu-403315.html

Chuyện tuần tự kể từ lúc cô sinh ra trong một gia đình khiêm tốn, với những khó khăn của cuộc sống thời còn đi học, đến lúc thành hoa hậu rồi chuyện tình với một trong những doanh nhân trẻ thành đạt nhất của thành phố HCM và cuối cùng, cô kết hôn.

Thêm tình tiết, cô làm thơ tặng chồng:

http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/the-gioi-sao/tin-tuc-sao-viet-ngay-06-10-dang-thu-thao-lam-tang-chong-truoc-dam-cuoi-402957.html

Dưới bài này, đọc các bình luận mới thấy độc giả “nhập cuộc” hoàn toàn – cứ như họ xem Thu Thảo -Trung Tín là bạn bè thân thuộc – Bài báo thành công :

https://giaitri.vnexpress.net/photo/trong-nuoc/hoa-hau-thu-thao-hon-chong-dai-gia-trong-tiec-cuoi-3652101.html

 

.

Cách đây hai năm trong một khảo sát

https://huynhmai.org/2015/08/08/bao-chi-viet-nam-tren-mang-tu-chuyen-linh-tinh-toi-vai-tro-cua-bao-chi/

tôi có viết đoạn này khi phân tích các phương thức khai thác tin tức của các báo:

. kể truyện – story telling

Wikipedia định nghĩa story telling là cách kể chuyện, dựng lên một kịch bản.

Các báo viết, chẳng hạn, nhân việc cho trẻ con học hè bằng câu chuyện của ông Bộ trưởng giáo dục kể về kỷ niệm hồi xưa của ông, thời ông còn cắp sách đến trường.. . Gần đây hơn thì là chuyện của một nữ nhân viên công an cho một em bé bị bỏ rơi bú, …

Kể chuyện như thế lôi cuốn người đọc vì có dàn cảnh, có kịch tính nên dễ hiểu hơn và nhất là dễ nhập vai vào câu chuyện hơn.

Các hoa hậu người mẫu thì, trừ vài trường hợp riêng lẻ, thường là những cô bé lọ lem trước khi đăng quang. Đó là những chuyện đẹp, hấp dẫn các cô thôn nữ trong các túp lều tranh cho các cô có thể mơ mộng và có thể chấp nhận những khó khăn hiện tại. Cái kiểu “một ngày nào đó, ông hoàng tử của tôi sẽ đến …”

Mà bắt đầu là chuyện những người nổi tiếng. Ở đây, các tình tiết rất cổ điển trong thứ tự: đẹp, gợi cảm, sexy, nhiều tiền, xe sang, hàng hiệu, tình yêu, … với ngôn ngữ cụ thể và đầy cảm tính.

Ở đây, hoa hậu Đặng Thu Thảo cũng thuộc nhóm người nổi tiếng

Mà : cũng trong nghiên cứu vừa kể trên

Chuyện người nổi tiếng mê hoặc và lôi cuốn người đọc.

Nhất là khi các báo cố tình nhấn mạnh nguồn gốc nghèo khổ của một vài nhân vật nổi tiếng – một loại chuyện thần tiên, sự đổi đời của công chúa lọ lem – Những chuyện như thế cho phép độc giả nằm mơ ngay giữa ban ngày! Một số người còn có thể nhập vai, tự đặt mình vào vị trí của người nổi tiếng đã có thời thơ ấu khó khăn và xem sự thành công của nhân vật ấy như … một sự thắng cuộc trên định mệnh của chính bản thân.

Chuyện người nổi tiếng đáp được:

. Nhu cầu nghe kể chuyện

. Nhu cầu có thần thánh và anh hùng.

. Nhu cầu xem và nhìn cái đẹp – trang phục, nhà cửa, xế hộp, … – dù rằng những cái đẹp ấy hoàn toàn ở ngoài tầm tay của mình – để giải trí, để mộng mơ.  

Sau cùng, chuyện người nổi tiếng thành câu chuyện đầu môi, và báo chí hoàn thành vai trò xã hội hóa người đọc của mình.

.—

Phần còn lại xin nhường cho độc giả suy nghĩ và bình luận để …không bị ru ngủ bởi những phương thức lôi cuốn người đọc của báo chí.

Chỉ xin nói là tôi không phê phán đám cưới của hoa hậu và thành thật  chúc hoa hậu trăm năm hạnh phúc.