Bỏ qua nội dung

Sảnh của bệnh viện André Vésale

Cổng vào của bệnh viện. André Vésale là tên của một nhà giải phẫu học, người Bỉ, của thế kỷ XVI – Bệnh viện Đại học này gồm 421 giường, one day clinique, đội ngũ khẩn cứu và chỗ khám bệnh ngoại trú 

Cận cảnh mái bằng kính của mặt tiền bệnh viện

Sảnh của bệnh viện, bên trái là quầy Information được đặt tên là Sara

Sảnh rộng, có máy ATM, có chỗ bán hoa, chỗ làm tóc, … và tủ sách mả ai cũng có thể đến lấy về đọc hay mang đến tặng những sách mà mình hết muốn giữ riêng

Đây là chỗ để dung dịch khử trùng cho tay mà khách đến nên dùng trước khi đi thăm người bệnh

Chỗ để xe lăn. rất cần nếu gia đình muốn đẩy người thân đang nằm ở nhà thương đi dạo một vòng ra vườn ngắm cảnh và … hứng gió

Nhà hàng, cũng dành cho người đi thăm và người bệnh nếu muốn dùng bữa – Người bệnh được nhà thương phục vụ ăn uống ba bữa mỗi ngày nhưng dùng cơm với người thân cũng là một hạnh phúc

Tôi ngồi ở đây khá lâu và có dịp ngắm bộ đèn trên trần nhà

Nguyễn Huỳnh Mai – ảnh và chú thích

Advertisements

Văn hóa và bất bình đẳng ở trường học

Việt nam ta chưa có nhiều nghiên cứu về trường học mặc dù là phải nghiên cứu để có thể tổ chức và giúp trò học hành tốt nhất, tối ưu hóa các ràng buộc.

Ở đây tôi điểm một sách được xuất bản cách đây mấy tháng ở Pháp.

Netter J.,Culture et inégalités à l’école. Esquisse d’un curriculum invisible, Văn hóa và bất bình đẳng ở trường học. Phát họa một lộ trình vô hình. Presses universitaires de Rennes, NXB Đại học Rennes, 2018, 202 p.,

Julien Netter là một nhà xã hội học. Ông dạy và nghiên cứu ngành giáo dục ở Đại học Paris-Est-Créteil, Pháp.

Thật ra, sự bất bình đẳng của trẻ ở trường học được nhiều tác giả, trong đó nổi bật nhất có lẻ là Pierre Boudieu và Jean Claude Passeron với sách “ Những người thừa kế” – Les héritiers – mà hai ông xuất bàn từ 60 năm trước. Boudieu và Passeron cũng đã giải thích sự bất bình đẳng trong những kết quả gặt hái được ở trường là do các vốn liếng mà trẻ có nhờ môi trường gia đỉnh, trong đó có vốn văn hóa và vốn biểu tượng.

Julien Netter cho ra đời một khái niệm mới “lộ trình vô hình” tức là những chờ đợi trong việc học mà thầy ngầm “ra lệnh” cho tất cả học trò nhưng có trò thì đủ khả năng hiểu và thực hiện tốt, một số trò khác thì không có những khả năng đó. Từ đó, cái hố bất bình đẳng giữa hai loại học trò từ từ hiện hữu và càng ngày càng rộng sâu hơn.

.

Phương pháp nghiên cứu

Để đi đến kết luận này Julien Netter đã quan sát ròng rõi 468 giờ, trong 18 tháng tại 14 lớp của 7 trường tiểu học vùng Paris trong đó có trường với học trò thuộc tầng lớp ưu đải trong xã hội, trường khác thì với học trò kém ưu đải và những trường có cả tất cả các tầng lớp.

Ông đã chọn hai giờ đặc thù, giờ địa lý và giờ thủ công dạy gấp giấy origami, tức là những môn, trên nguyên tắc, không cần nhiều khả năng đặc biệt, lại là những môn rất cụ thể, dễ tiếp cận.

Trong cả hai trường hợp, các trò phải “hiểu” và “ứng dụng” những chi tiết “chính” để sắp xếp chúng hầu có thể tìm ra vị trí của các thành phố trong bài địa lý hay thứ tự gấp giấy hình để đi đến kết quả cuối cùng.

Ông Netter quan sát thấy là những thao tác này dễ thực hiện cho một số trò nhưng lại là rất khó khăn cho một số khác vì thật ra chúng đòi hỏi một vài khả năng trí tuệ mà các trò này chưa được chuẩn bị.

Theo Julien Netter, đó là do gia đình đã xã hội hóa các em khác nhau, thành ra chúng lĩnh hội với những mức độ khác nhau ba khả năng tối cần cho sự học:

. khả năng tổng hợp,

. khả năng tìm thấy, cho một trường hợp cụ thể, những gì ta cần để giải quyết vấn đề

. và khả năng tiếp cận, thấu hiểu các vấn đề khác nhau.

Khả năng này, Julien Netter gọi là “biết dùng nhiều ngôn ngữ khác nhau tức là biết chuyển dịch và đối chiếu các hoàn cảnh và kinh nghiệm để tìm sự mạch lạc nội tại của riêng vấn đề phải giải quyết”.

.

Đó là diễn tiến của “lộ trình vô hình” quyết định sự thành công hay thất bại của học trò ở trường.

.

Nếu trường học không để ý đến các đặc thù của trò, gia đình khác nhau, thì trường học vô tình đào sâu hố bất bình đẳng giữa các trò.

.

Kết luận

Tóm lại, người đi dạy cần chú ý đến “lộ trình vô hình” ấy – các trò không được chuẩn bị giống nhau bởi gia đình chúng – để bổ sung thêm giải thích và làm sao cho tất cả các trò đều có thể phát triển những khả năng cần thiết cho việc học.

Nguyễn Huỳnh Mai

Thiên tài, năng khiếu và khả năng sáng tạo?

Một bài cũ, kinh điển, mang ra để một lần nữa nói về công việc sáng tạo của các nhà văn hay các nghệ sĩ.

Bài này VHNA đã lên trang ở đây (2014):

http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/thien-tai,-nang-khieu-va-kha-nang-sang-tao

.

Le génie, la capacité (ou la “douance”)  et l’inventivité (ou la créativité) suivant l’analyse de Pierre-Michel Menger, sociologue, professeur au Collège de France (chaire de « Sociologie du travail créateur »).

.

 

Khả năng sáng tạo là một nhóm chữ quan trọng.

Quan trọng vì khả năng này lúc nào cũng cần thiết.

1. Khó có hai anh chị em hoàn toàn giống nhau, kể cả những anh chị em sinh đôi thật. Khó có hai hoàn cảnh xã hội y như nhau để có thể áp dụng những khuôn mẫu sinh hoạt. Ta vẫn nói «lịch sử không tái diễn hệt như lần trước» cũng như «nước không bao giờ chảy lại trên một dòng sông». Thế có nghĩa là lúc nào ta cũng phải thích ứng, phải sáng tạo.

2. Thông minh cũng có khi được định nghĩa như khả năng tìm ra và áp dụng, tức là sáng tạo, tìm ra được lời đáp thích ứng nhất cho một vấn đề nào đó.

3. Cha mẹ dạy con giúp trang bị cho chúng khả năng và «bản lĩnh». Bản lĩnh gồm các cấu thành như tự tin, tự trọng mà biết kính trọng người đối diện. Tức là vừa có những kiến thức thực tế vừa giàu vốn liếng tâm lý và triết học, để trẻ có thể sống tốt sau này. Cho chúng nhiều vốn  để chúng có thể sáng tạo.

4. Thầy dạy trò cũng như thế. Thầy giúp trò phát triển để thích ứng với hoàn cảnh – có vốn tri thức thật đó, nhưng mỗi một trong chúng ta thừa biết, tri thức thời nay rất mau lỗi thời nếu ta không tiếp tục cập nhật. Khả năng sáng tạo, một lần nữa, rất cần để nối kết các mãnh ghép của tri thức.

Muôn lời như một, khả năng sáng tạo rất cần để sống, nói chung. Bên cạnh đó, có những sinh hoạt chỉ thuần sáng tạo.

.

.

Năng khiếu, ít nhất là trong nghĩa hẹp, nhấn mạnh trên một tài đặc biệt có sẵn nơi một ai đó, như năng khiếu về âm nhạc, năng khiếu về văn chương.

Còn thiên tài, tiếng Pháp là génie, là một cái gì có vẻ như bẫm sinh. Ta sẽ bàn đến sau.

.

.

Từ sáng tạo đến một tác giả: Pierre-Michel Menger

Từ lâu nhiều người  đã cố ý tìm xem ai  sẽ nối nghiệp  Pierre Bourdieu ở Collège de France. Boudieu mất đã hơn mười năm, và ghế Xã hội học của  Học viện này trống rất lâu.

.

Gần đây, Pierre-Michel Menger (sinh năm 1953),  một nhà nghiên cứu ở Trung tâm quốc gia khảo cứu khoa học Pháp (CNRS). Ông cũng là giám đốc nghiên cứu ở Trường Cao đẳng Khoa học Xã hội (EHESS) Paris – tức là ở hai chức vị của Pierre Bourdieu ngày trước – Pierre-Michel Menger vừa được bầu vào «ghế» Xã hội học về công việc sáng tạo ở Collège de France (chaire de « Sociologie du travail créateur »).

Collège de France là Viện Khoa học đặc biệt của Pháp. Đặc biệt vì không phải là Đại học cũng không phải là Trường lớn. Collège de France được xem là Đại học của Đại học, vì là cơ sở uy tín nhất của khoa học. Được bầu làm giáo sư ở Collège de France là vinh danh lớn cho một khoa học gia ở Pháp.

.

Những nghiên cứu của ông Menger đặt trọng tâm trên việc sáng tạo – khởi thủy là luận án Tiến sĩ của ông trong đó ông đi sâu vào sự sáng tạo trong âm nhạc- . Ông cô đọng những khác biệt giữa các khái niệm thiên tài, năng khiếu và khả năng sáng tạo.

Từ luận án, ông đã quyết định đi “khai quang” vùng đất còn ít được biết và ít nghiên cứu của công việc sáng tạo.

Ngay tới Beethoven, theo ông Menger, cũng không hẳn là một thiên tài. Beethoven có trở thành Beethoven là nhờ sự ủng hộ tiếp sức của những mạnh thường quân thời ấy – để ông có thể tự do tiếp tục viết nhạc và thả mình theo khả năng sáng tạo.

.

Thiên tài là gì theo Pierre-Michel Menger?

.

Thiên tài dưới mắt của nhiều người là một khả năng bẫm sinh – từ trên trời rơi xuống – đúng như chữ «thiên» trong thiên tài. Thế nhưng nếu không miệt mài cật lực làm việc thì có lắm thiên tài đi nữa cũng sẽ bị chôn vùi trong tro vụn.

Tại sao có người miệt mài cật lực làm việc ? Làm sao giải nghĩa những động lực giúp ta cố gắng ? Ông Menger nói đến động cơđền bù.

Động cơ là lực đẩy ta tiến tới hay tiếp tục làm một việc nào đó. Lòng mẹ thương con là động cơ khiến người phụ nữ sẳn sàng hi sinh cả thân mình để mưu cầu sự sống hay hạnh phúc cho con.

Menger phân biệt động cơ nội tạiđộng cơ từ bên ngoài.

Tôi làm việc vì như thế thỏa mãn được những giằng co bên trong nội tâm, được thỏa mãn, vui với  thành quả thu thập được (động cơ nội tại)

Hay được ngẩng mặt với đời vì kỳ côngcủa mình,  vì đã vượt qua thử thách dưới thanh thiên bạch nhật, vì đã mang về một kết quả mà chỉ riêng cá nhân tôi đã  thực  hiện được  (động cơ bên ngoài – sự hảnh diện- ).

Đó là nói về động cơ.

 

Cái gì phân biệt động cơ và đền bù?

Đền bù là những gì ta nhận được từ tha nhân. Bổng lộc và chức tước. Nhiều người làm việc chỉ vì cái lợi tức thì. Đền bù – cái kiểu học ngành này thì ra trường được lương cao, lợi tức nhiều hơn hay được bia đá ghi danh. Trong đền bù có sự trao đổi, tính toán và minh bạch. Cũng có  cái thực dụng nữa. Dĩ nhiên cũng có những đền bù ròng tinh thần, như việc được tuyên dương.

Nhưng ranh giới giữa động cơ và đền bù mong manh.

Có những đền bù – nhất là những đền bù tinh thần hay đền bù xã hội – rất gần với động cơ. Người phụ nữ ngày xưa thủ tiết thờ chồng để được đời cho bốn tiếng «tiết hạnh khả phong» là người phụ nữ đi theo động cơ nội tại hay vì mong muốn đạt được cái đền bù của xã hội?

Trong công việc sáng tạo,  ta thường gặp động cơ hơn đền bù. Van Gogh, Mozart, … đến cuối đời chết trong nghèo khổ nhưng đã sáng tạo đến cùng. Tương tự, giải Nobel là một đền bù lớn nhất mà một nhà khoa học có thể mong đợi nhưng khi nghiên cứu tiểu sử của các nhà khoa học, ta chưa thấy ai làm khoa học vì nhắm cái giải Nobel!

.

Menger định nghĩa năng khiếu là khả năng cho một việc gì – một khả năng vừa thuộc nội tại của cá nhân vừa tùy thuộc xã hội.

Mozart được sủng ái ở châu Âu vào thời của ông. Ông có … năng khiếu về âm nhạc. Nhưng năng khiếu của ông một phần đã được phát triển và vun trồng bởi hoàn cảnh gia đình – cha ông là maître de chapelle,  nhạc sĩ của vua – và những sáng tác thanh nhạc của ông lúc đó là hợp thời. Một cách thái quá, ví dụ như ông sinh ra ở Bali chẳng hạn  thì không hẳn Mozart đã được biết tới.

.

Trong dấu ngoặc, trường học có bổn phận phải phát triển khả năng trẻ là như thế.

Để «thiên tài» và «năng khiếu» không bị mai một.

Chữ thiên tài được để trong dấu ngoặc vì riêng người viết bài này, tất cả chúng ta đều có những thiên tài tiềm ẩn. Được phát hiện hay không là tùy thuộc phần lớn vào hoàn cảnh gia đình xã hội.

Ta vẫn nói thời thế tạo anh hùng.

.

Pierre-Michel Menger nghiên cứu và viết nhiều về vấn đề này.

Trong «Chân dung của nghệ sĩ», ông phá vở khái niệm của phàm phu tục tử về thiên tài sáng tạo hay năng khiếu bẩm sinh.

Đối với Menger, sáng tạo nghệ thuật cũng là một công việc như bất cứ công việc nào. Ta có thể nghiên cứu sự sáng tạo dưới khía cạnh xã hội học hay kinh tế học – dù rằng nghệ sĩ thuộc một thế giới mà nhiều người trong chúng ta chưa hay không hiểu được.

Trở về trường hợp của Beethoven, Menger đã  tránh được hai vết xe đổ. Vết thứ nhất là xem thiên tài như một giải thích cần và đủ cho hiện tượng Beethoven. Vết xe đổ thứ nhì là xem Beethoven như một sản phẩm của thời thế.

Thật sự hiện tượng Beethoven cũng như bất cứ hiện tượng nào, phức tạp hơn nhiều.

Có thể lúc khởi thủy, Beethoven không có tài gì nổi bật hơn các nhạc sĩ đương thời của ông nhưng một số mạnh thường quân ở thành phố Vienna lúc đó đã nâng đở ông, xem ông như một đầu tư đáng giá. Đúng vậy, một mạng xã hội rất cần cho một nhạc sĩ. Sáng tác sẽ không có giá trị nếu không có người nghe. Nhạc sĩ sẽ cạn nguồn sáng tạo nếu không được hoan nghênh.

.

Thế nhưng sự ủng hộ của môi trường thôi không đủ.

.

Những người nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc hàn lâm là những trường hợp hiếm, ít người sánh ngang tầm, họ có thể làm ta ngợp và thán phục. Nhưng khi đi vào chi tiết, dùng những dụng cụ phân tích thông thường thì ta thấy gì ?

.

Họ tự lập tự chủ. Không tùy thuộc đền bù xã hội, không sáng tác theo thời. Beethoven như thế ấy. Beethoven sống với nhạc trong đầu và ông sống để sáng tác. Chuyện ủng hộ của mạnh thường quân, với ông,  là chuyện nhỏ.  Cần nhưng không đủ.

.

Rời trường hợp của Beethoven, Menger đã khảo sát nghiên cứu thế giới của nghệ sĩ và người sáng tác:  từ nguồn gốc xã hội của họ, quá trình họ được đào tạo, những sinh hoạt của họ sau đó, những hành động trước công chúng, … Đồng thời, Menger khảo cứu thế giới xung quanh họ : nhà phát hành, giới phê bình, chính sách công, …để có thể phân tích những ảnh hưởng hổ tương và đưa ra một lý thuyết về sự sáng tạo dưới  góc nhìn tổng thể.

Bàn về công việc mình làm, ông Menger thừa nhận rằng ông không tính toán mà chỉ đi theo sở thích và đam mê muốn giải mã một lĩnh vực chưa có nhiều khai phá. Trong chừng mực đó, công việc của ông là một công việc sáng tạo.

Có thể vì đó, ông đã so sánh nghệ sĩ và nhà khoa học – khoa học là một việc làm cho thỏa mản cao, một việc làm độc lập, … tương lai của nhà khoa học cũng không ổn định, không phải kiểu sáng cấp ô đi tối cấp ô về, hoàn toàn không như những dòng kẻ sọc của một bản đàn, bất di bất dịch.

.

Thế giới của khoa học gia  giống với thế giới của nghệ sĩ?

 

Làm khoa học, ở nghĩa rộng, là công việc những người bán phần mềm tin học, những nhà cố vấn, người bán lời khuyên tức là phần tri thức, thế giới của các kiến trúc sư, của các nhà báo, những người làm nghề độc lập, bán dự án, …

Họ cũng sáng tạo như nghệ sĩ. Việc làm của họ cũng bất định như nghề của nghệ sĩ và lương bổng cũng không cố định ba cọc ba đồng mỗi tháng. Tương lai cũng khó dự trù trước. Có những văn phòng tư vấn gặp thời, nổi danh và làm giàu trong khi những văn phòng khác thì dù trình độ sáng tạo không kém, lại khiêm tốn hơn.

Sự bất định này ông bàn đến trong nghiên cứu «Công việc sáng tạo. Tự tiến thân trong bất định» Le Travail créateur. S’accomplir dans l’incertain (Gallimard/Seuil, 2009).

Những người này không có lương. Họ nhận thù lao nhưng thù lao, nói cho cùng cũng chỉ là một cách tính ước lệ giá trị của công việc họ làm.

.

Công việc sáng tạo khác công việc thường ở chỗ nào ?

Công việc thường nhật là những công việc đã vào lề, đã được qui hoạch, có qui trình. Người làm các công việc này chỉ làm một cách máy móc không cần thêm …gia vị hay sáng tạo cá nhân. Sản phẫm của công việc thường là những sản phẫm đã được vào khuôn mẫu rập nhau. Nhưng công việc có thể thành nhàm chán và người làm việc thành người lệ thuộc.

Trong khi công việc sáng tạo thì thử nghiệm, thành công thất bại tiến triển đều là những kết quả bất ngờ.

Người sáng tạo sống với công việc mình. Đi từ trạng thái thai nghén, ấp ủ, thực hiện, giới thiệu, hoàn chỉnh, thất bại, thành công … Thật sự đó là những công đoạn sôi nổi nhưng cũng rất căng thẳng.

Thành phẫm ra đặc biệt có một không hai. Lợi tức của người sáng tạo cũng bất định.

.

Nhưng thế giới kinh tế  càng ngày càng đòi hỏi nhiều sáng tạo, đổi mới vì hầu như tất cả những công việc thường đều được cơ khí hóa,  cho robot thực hiện, không cần can thiệp của người..

Đó là kết luận của Pierre-Michel Menger.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

.

Vài tài liệu của Pierre-Michel Menger về vấn đề này:

Portrait de l’artiste en travailleur. NXB Seuil, 2003.

Portrait de l’artiste 
en travailleur. Métamorphoses du capitalisme. NXB Seuil, 2003.

Profession artiste. Extension 
du domaine de la création. NXB Seuil/Textuel, 2005.

Le Travail créateur. S’accomplir 
dans l’incertain. NXB Gallimard/Seuil, 2009.

Les intermittents 
du spectacle. Sociologie d’une exception. NXB EHESS, 2011.

.

Lý do nào khiến các nhà văn … viết ?

Bài này sơ lược đề cập đến vài thí dụ và hoàn toàn không nói đến những nhà văn …chơi với chữ, cho chúng những ý nghĩa mới và sáng tạo không những với nội dung mà cả với ngôn từ, khi ngôn từ không bị giới hạn với vai trò “phương tiện tải nội dung”. Marcel Proust, René Char là hai trường hợp điển hình.

Một gợi ý của nhà văn Nguyễn thị Hải Hà đã là khởi điểm của những dòng này … 

.

Một cách lãng mạn, chúng ta thường nghĩ rằng các nhà văn viết nhờ cảm hứng và con chữ trào ra từ ngòi bút, không nặng nhọc, không khó khăn.

Nhưng viết văn là một công trình sáng tạo. Tức là cần một cái đầu làm việc hết công suất, mang nặng đẻ đau đứa con tinh thần. Muốn viết thì phải có một cái gì để viết, một câu chuyện có đầu có đuôi, có cấu trúc, các tình tiết cần được triển khai – mở rồi đóng – để rồi đi đến đoạn kết. Khi … lâm bồn lại cần kỷ thuật : khả năng viết thành câu, đúng văn phạm thôi chưa đủ, câu văn phải bóng bẩy, lung linh, trôi chảy, mạch lạc, … lôi cuốn người đọc.

Nhiều khi người viết văn cần có một nhà xuất bản ủng hộ. Viết xong mà không ai in thì khó cho tác giả tiếp tục công việc trí tụê này.

.

Nhà văn Nguyễn thị Vinh, cách đây hơn nửa thế kỷ từng tuyên bố rằng “bà cần viết như bà cần thở”. Tức là viết để trả lời một nhu cầu nội tại. Sáng tạo là một nhu cầu, để không ù lì, vật vờ sống như cây cỏ. Viết có khi là để hiểu mình hơn. Nhu cầu này có thể … vô vị lợi. Viết để … cân bằng cuộc sống, viết như một niềm vui. Cũng có thể là một nhu cầu tâm lý sâu lắng hơn : để lại một vết tích trên đời. Và được biết đến là một đền bù mạnh mẻ đủ để nhà văn vượt đèo leo núi.

Simone de Beauvoir thì tự cho mình “sứ mạng” phải chia sẻ với mọi người cuộc sống và nhân sinh quan của bà. Bà đã viết về thân phận phụ nữ, về người già, về những mối tình tay ba. Nhiều sách của Simone de Beauvoir có hơi hướng tự truyện là như thế. Nhưng cái chính, cho trường hợp của bà de Beauvoir là viết để giúp độc giả ý thức được điều này hay điều kia. Jean Paul Sartre cũng vậy, với triết lý hiện sinh.

Đồng thời với hai ông bà, cặp đôi Louis Aragon và Elsa Triolet hướng nội hơn. Viết để hạnh phúc và viết về cái hạnh phúc của họ. Hơn nữa, trong một chừng mực nào đó, Louis Aragon có thể được xếp vào hạng các tác giả … chơi với chữ như vừa kể ở đầu bài.

Vài khi, nhà văn viết vì lý do kiếm sống. Ít nhất đó là trường hợp của nhà văn người Bỉ, Georges Simenon, lúc khởi nghiệp.

Chúng tôi được cái may mắn – hay vinh dự ? – quen biết Georges Simenon đầu những năm 1970 và đã góp phần … mang gia tài văn học của ông về Đại học Liège, thành lập kho nghiên cứu về tác giả này – Fonds Georges Simenon.

Để tiếp tục nói về Georges Simenon, lúc đã có tiếng tăm, ông thường kể về cái nhu cầu có nhiều “vai” hay bản sắc khác nhau – ông vẫn thấy thiếu thốn với chỉ riêng một cuộc sống của chính bản thân nên phải sáng tạo ra những nhân vật khác nhau. Viết để hiện hữu, viết để làm giàu cho bản thể mình.

Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo và nhiều nhà văn khác đầu thế kỷ XX bên ta cùng mang động cơ “khai sáng” xã hội, góp phần bài trừ cái nghèo, sự bất bình đẳng, các hủ tục, …

Viết để thể hiện vai trò chứng nhân của một hoàn cảnh xã hội nào đó – Amélie Nothomb trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là Stupeur et Tremblement (Sự hãi hùng và rung rẫy), đã giới thiệu, vừa hư cấu vừa thật, cấu trúc và sinh hoạt của xã hội Nhật .

Hay viết để được nhìn nhận bởi quảng đại quần chúng – các nhà văn nữ Hồi giáo : họ viết văn để hiện hữu, để thoát vị trí bị đè nén trong xã hội, để được nhìn nhận bằng bản thể của họ, qua tác phẫm của họ. Hoặc ngược lại, viết để trả lời sự chờ đợi của độc giả, … như trường hợp của một số tác giả của best seller tiếp tục viết nhưng rất mau chìm trong quên lãng.

Còn trăm ngàn lý do khác để viết. Có những lý do quang vinh như giúp giải trí bạn đọc, kể những truyện giả tưởng hay để chia sẻ một ít kinh nghiệm và hiểu biết, những truyện có thật với vài chi tiết hư cấu. Có những lý do … cơm áo gạo tiền, cho trường hợp một số tiểu thuyết bán ở các trạm tàu, nhà ga chẳng hạn.

Cho đa số các trường hợp, hầu như tất cả những lý do kể trên tiềm ẩn, nhiều hay ít, làm động cơ cho việc viết lách của nhà văn.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Rốt cuộc, một nhà xã hội học, thông thường, không có khả năng viết văn. Viết báo cáo khoa học khác với viết văn. Cùng lắm thì ông/bà ấy chỉ “biết” mổ xẻ hành động viết của các nhà văn …

Hai sách tham khảo:

Dominique Viart, Anthologie de la littérature contemporaine française. Romans et récits depuis 1980. NXB Armand Colin, 2013.

Nancy Huston, L’Espèce fabulatrice, NXB Actes Sud, 2008.

Kỹ năng học

Một phần phiếu điểm của một học sinh lớp 5, tiểu học

Ta đang chuẩn bị để bắt đầu chương trình mới vào năm học sau. Thế nhưng dù nhiều tiếng nói đã góp ý về chấm điểm xếp hạng, về học cách học, về động cơ học tập, … có lẻ những điều đó còn mơ hồ đối với giới sư phạm bên ta. Học bên ta, rốt cuộc, vẫn là theo chương trình, vẫn là truyền kiến thức. Tức là chú ý đến việc đào tạo “một cái đầu đầy” chứ không là một “cái đầu biết suy nghĩ”, nội dung chương trình vẫn là cứu cánh chứ chưa là phương tiện để giúp trò tiến bước trên con đường học làm người có tri thức, biết suy nghĩ, biết sống với người khác để cuối cùng, hạnh phúc.

Trên đây là phần đầu tiên của một học bạ bậc tiểu học, “học bạ”  hay đúng ra là “phiếu tiến triển” – progress report – chứ không là “phiếu điểm” – vì không có điểm – ở Mỹ, phần kỹ năng học.

Trong đó, theo thứ tự quan trọng

. hợp tác với người khác, với bạn, …

. hoàn thành công việc học

. chứng minh khả năng sáng tạo trong suy nghĩ

. chứng minh khả năng phê phán

. chứng minh có cố gắng, có động cơ, có chuyên cần

. dấn thân và chú ý đến việc học

. theo được những hướng dẫn bằng ngôn từ và trên giấy viết

Cách chấm điểm của học bạ này thì chỉ có ba hạng :

. Đạt (demonstrating)

. Đang tiến triển (progressing)

. Chưa đạt (not yet evident)

.

Chuyện dễ và hiển nhiên như câu chào hỏi buổi sáng.

Ở trong môi trường như thế, trò sẽ chủ động lấy thói quen nắm quyền làm chủ cách học của mình. Giáo viên ở đó để giúp trò trên con đường học hỏi.

Xin chào tạm biệt cách dạy nhồi nhét, tạo áp lực cho cả thầy và trò.

Xin chào tạm biệt chấm điểm xếp hạng.

Nguyễn Huỳnh Mai

Có kỹ năng học rồi mới có thể … học những kỹ năng khác.

Xin mời đọc :

https://huynhmai.org/2015/03/09/kha-nang-va-ky-nang/

https://huynhmai.org/2015/03/10/kha-nang-va-ky-nang-phan-2/

https://huynhmai.org/2017/02/25/ky-nang-tong-quat-cua-mot-sinh-vien-o-chau-au/

Một cái giường cũ, …

Đầu giường với cấu trúc trang hoàng, hình vỏ sò, bằng đồng

Chân giường, cũng cùng họa tiết, chỉ khác là thấp hơn khoảng 35cm. Cái laptop của tôi được đặt ở đây để thêm vào một chi tiết …hiện đại

 

Chúng tôi … ra riêng lúc cả hai còn là sinh viên, tức là lúc điều kiện tài chính còn khó khăn. Để xây dựng tổ ấm, chúng tôi đi xin họ hàng những …đồ phế thải. Trong các món ấy, có cái giường, hen rỉ, đen đúa, từ lâu bỏ trong hầm nhà bà ngoại của chồng tôi. Thế là cả hai chúng tôi bắt đầu ra tay cọ rửa, đánh bóng và sơn phết lại. Mua thêm cái nệm mới là có một cái giường … mới. Trong ba tháng dài, mỗi tối, như nàng Pénélope, tôi móc len làm một cái khăn trải giường màu trắng, đúng kiểu cách của cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, theo niên đại của cái giường …

Gần năm mươi năm sau, cái giường vẫn được giữ gìn cẩn thận. Khăn trải giường, từ lâu, chỉ được mang ra vào những dịp đặc biệt. Mới đầu là giường ngủ của đôi vợ chồng son. Con gái chúng tôi thừa hưởng, sau đó, cái giường đầy nữ tính này. Cuối cùng, khi cô ấy ra riêng, phòng của cô được dùng như phòng ngủ cho khách đến nhà chơi và ai nấy đều trầm trồ ngạc nhiên với cái giường – bây giờ thành một món đồ cổ, mặc dù bề rộng chỉ có 1,20m, thật là khiêm nhường nếu so với các giường king sze hiện đại !

Các con tôi biết rằng mẹ của chúng đã bỏ lại ở Việt Nam những chứng tích của quá khứ vì lúc đầu hoàn toàn không có dự định ở lại bên Bỉ, … Thời cuộc đã quyết định, một phần, số phận của mẹ chúng. Thành ra cái giường cũ này, bây giờ, là một trong những chứng tích hiếm hoi của mẹ chúng.

Như một số đông người tha hương, tôi đã phải bắt đầu cuộc sống và … lịch sử đời mình ở nơi định cư lần thứ nhì  – có người phải bắt đầu từ xứ thứ ba…

Nguyễn Huỳnh Mai (bài và ảnh)

Viết thêm:

Bài vừa lên trang, một bạn đọc hỏi tôi : Làm sao giữ một khăn trải giường bằng len từ nửa thế kỷ ?

Vâng, giặt sấy nhiều lần, vật gì cũng mòn chứ không phải chỉ riêng tấm khăn trải giường. Nhưng tôi ý thức được giá trị của “tác phẩm” của mình độ từ hai mươi năm nay nên không còn dùng hàng ngày.  Vã lại, nếu nhìn gần thì sẽ thấy những chỗ … được trùng tu :

Nhìn gần mới thấy là vá víu vụng về !

Tết của người Việt tại Bỉ?

Bài này đã đăng trên Dân Trí ngày mồng hai Tết Bính Thân, cách đây ba năm

http://dantri.com.vn/dien-dan/tet-cua-nguoi-viet-tai-bi-20160206223330382.htm

 

Ce sont des forsythia de mon jardin que j'ai rentrés à l'intérieur deux semaines avant le Têt pour qu'ils fleurissent

Mai vàng ngày Tết của người Việt tại Bỉ đúng ra là hoa  forsythia mà chúng tôi phải cắt rồi mang vào nhà từ ba tuần trước để hoa nở – nhờ trong nhà có sưởi ấm – Hoa chỉ có bốn cánh nhưng tạm đủ cho người xa xứ  thỏa lòng đón xuân…



Chúng tôi cũng mừng Xuân với múa lân (ảnh J.E. Poirrier)

Chúng tôi cũng mừng Xuân với múa lân (ảnh J.E. Poirrier – Flick). Trẻ con rất ấn tượng với tiếng trống và với vẻ kỳ dị của lân đỏ hay lân đen – còn kỳ dị hơn cả những khủng long mà chúng thấy ở các Viện Bảo tàng hay qua sách vở.

Tet 3

Mathieu Hà là một nghệ sĩ gốc Việt. Bên cạnh anh là các chị của đoàn múa Trường Sơn

Văn nghệ Tết kết hợp những điệu múa Việt với sự hiện diện của bạn bè sở tại...

Văn nghệ Tết kết hợp những điệu múa  với sự góp sức tích cực của bạn bè sở tại…Văn hóa Việt tạo thêm sắc màu cho xã hội Bỉ.

 

Cũng bánh chưng, nem cuốn, dưa món. Nhưng thêm vào một tí kim chi với cách bài trí theo ...Tây

Cỗ Tết của chúng tôi cũng có bánh chưng, nem rán, dưa món. Nhưng thêm vào một tí kim chi với cách bài trí theo …Tây

 

ìa báo SGTT

Như bìa báo này đưa tựa: ở đâu đó, Việt kiểu trên đất Bỉ vẫn giữ hồn Việt

 

Ảnh cuối cùng trên đây là bìa báo Saigon Tiếp thị  (năm 2001), đăng hình một thiếu nữ người Việt thuộc thế hệ thứ nhì, tức là chào đời ở Bỉ, nhưng vẫn thỉnh thoảng, như ở đây, cô mặc áo dài cầm nón lá,  làm tình nguyện viên cho Tuần lể Việt Nam ở Bỉ, năm ấy.

Hồn Việt trên đất Bỉ là như thế . Tết vẫn cổ truyền nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Ngảy cận Tết, các gia đình đưa nhau đi dự các buổi văn nghệ. Để người lớn gặp nhau, hàn huyên nhân ngày xuân về và chúc Tết nhau. Còn trẻ con thì  có dịp cho tim mình đập cùng nhịp với những âm hưởng mà chúng chỉ biết qua lời kể của  cha mẹ chúng.

Nguyễn Huỳnh Mai (ảnh 1, 3, 4, 5  và chú thích)