Skip to content

Nước Mỹ, nước ta …

A propos de la culture américaine observée par un professeur vietnamien
.

Một bài viết cũ, của thời điểm mà tôi vẫn còn hợp tác với VHNA, xin đăng lại, sau một chuyến đi sang Mỹ thăm các con các cháu của tôi :

Hôm nay đọc bài này

http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/nuoc-my-viet-nhan-ngay-19-5

và thấy gs Mạch Quang Thắng … ca ngợi một số cách hành xử của người Mỹ, nên tôi cũng xin góp vài ý, thuộc về tổng quan.

.

1. Người Mỹ làm việc có hiệu quả?

Nói rằng người Mỹ làm việc có hiệu quả thì họ sẽ trả lời rằng “bạn quá khen, chuyện làm có hiệu quả là điều bình thường. Không có hiệu quả mới là bất bình thường”

Tự ý thức phải làm việc tới nơi tới chốn cần có nơi mỗi người. Nếu không họ sẽ tự thấy không ổn với chính mình, với bạn đồng nghiệp, với xã hội…

Còn những hình thức thi đua hay chế tài, … sẽ không có hiệu quả : xã hội sẽ mất nhiều công sức để tổ chức thi đua hay chế tài. Những hình thức như thế có thể làm triệt tiêu tinh thần trách nhiệm của cá nhân. Và rốt cuộc, như một vòng xoắn đi lên “không có hiệu quả, phải thi đua phải chế tài để bắt buộc mọi người làm việc tốt hơn. Cuối cùng thì không ai lo tròn việc đã được giao phó cho mình”
.

Người Mỹ giản dị, ít chuộng hình thức?

Hình thức cần để tải nội dung nhưng khi chỉ có hình thức không thì việc làm hết hiệu quả.

Chính vì thế mà phòng làm việc có thể đơn giản, nghèo nàn nữa nhưng chủ nhân của những phòng như thế thì … vĩ đại.

Gs Mạch quang Thắng nói về cái đơn giản của các phòng làm việc của các nơi ở Mỹ mà ông viếng thăm.

Đúng ra, cái hoành tráng của các trụ sở hành chính, của những nội thất phòng làm việc các quan chức … là những xa xí phẩm, không làm tăng thêm công suất làm việc.

. Về nội dung,  “Tưởng là họ ít hiểu về Việt Nam. Nhưng không. Khi gặp một số câu hỏi khó của đoàn Việt Nam thì họ đều giải thích lại câu hỏi. Lạ! Câu hỏi khó là vì người hỏi dùng tư duy của người Việt Nam lúc này. Họ hiểu tư duy của người Việt Nam hiện tại về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, tâm lý, khoa học…(có khi hơn cả người Việt Nam hiểu về người Việt Nam ấy chứ).

Điều này cũng bình thường thôi. Họ có cố vấn chuyên về question vietnamienne – các vấn đề Việt Nam – Nếu họ biết “hơn cả ta” về vấn đề Việt Nam là vì họ có nghiên cứu chứ không chỉ biết một cách phiến diện.

Vào bất cứ bảo tàng nào ở Mỹ, họ đều có những phòng đặt biệt cho nghệ thuật châu Á, trong đó có nghệ thuật Việt Nam – và nhiều khi họ có những tác phẩm, hiện vật, …  của ta mà đáng lẻ ra các bảo tàng trong nước phải cố gắng để mua, gìn giữ và trưng bày.

Mỹ cũng đã sáng lập các viện như Viện nghiên cứu Hán Nôm, Viện nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á, … mà ở đó, họ có nhiều tài liệu quí giá. Nhiều học giả làm việc ở các Viện ấy. Làm việc nghiên cứu.

.

Cũng như gs Mạch Quang Thắng, xin phép không viết cụ thể ở đây, mặc dù những chuyện về khoa học xã hội là phạm vi của tôi.
.
.

2. Người Mỹ thân thiện, chu đáo là điểm thứ nhì trong bài viết của gs Mạch Quang Thắng
.
Chu đáo và thân thiện cũng là lẻ thường. Đó thuộc về lịch sự, là những “luật tối thiểu” của sống cùng với xã hội – đoàn Việt Nam sang là khách, thì bên phía Mỹ phải lo đón khách, phải làm cho người khác những gì mà ta chờ đợi được đối xử trong cùng hoàn cảnh. Luật đó là cái vở lòng của các cách sống cùng nhau – vivre ensemble – trẻ ở mẫu giáo, ở tiểu học đã được dạy như thế rồi.

Không có kiểu vung tay quá trán khi họ chi tiêu cho đoàn Việt Nam. Khách sạn không 5 sao 4 sao chi chi hết. Có khi đêm về ngủ khách sạn không sao nào cả. Đi tút nút cả ngày, tối về tắm rồi vật ra giường mà ngủ một giấc thẳng cẳng thì 5 sao, 4 sao mà làm gì. Thực dụng của Mỹ đấy. Thế mới hay chứ.

Dĩ nhiên rồi, tối ưu hóa các ràng buộc là luật đầu tiên trong quản lý tiền bạc. Phải biết tính toán. Chúng tôi ở Liège cũng đã nhiều lần đón tiếp các đối tác sang từ Việt Nam và nhiều khi cũng phải bối rối trước những “đòi hỏi” về khách sạn 4 hay 5 sao của đối tác.

Chúng tôi thường rất kính trọng đồng nghiệp và không bao giờ “xuống” dưới 3 sao khi đón họ ở Liège – mà 3 sao là bị chê rồi! Tuy nhiên, những giới hạn của Đại học không cho phép chúng tôi làm khác hơn. Lần nào phải “đãi” khách 4 sao là phải bù thêm bằng tiền túi!


Gặp người Mỹ ở đâu thì người ta cũng chào. Thế mới hay. Cười thì lúc nào cần, đúng lúc, đúng chỗ thì họ cười tươi. Khác ta lắm,

.

Gs Mạch Quang Thắng nói đúng. Tới bây giờ ta vẫn hay nói là “dân ta thân thiện và hiếu khách”. Có lẻ đã đến lúc phải xem lại cái xét đoán ấy. Là người sống ở nước ngoài từ nhiều năm, tôi vốn không dám phê bình cái “thân thiện hiếu khách” mà ta vẫn tự hào vì sợ chủ quan và sợ lạc vào cái lỗi ethnocentrisme – so sánh văn hóa khi lấy văn hóa của mình làm chuẫn.
.

3. Cảnh quang


Cây cối đường phố ở thủ đô nhiều lắm. Hè phố thoáng, lát gạch nung (gốm), chứ không cầu kỳ. Mà lại đẹp, sạch sẽ vô cùng. Không như ở ta lát cái gạch đá gì đó cứ bới lên bới xuống. Ở đường nào cũng có đường có rãnh riêng cho người khiếm thị (Hà Nội có rồi, nhưng ít quá). Bây giờ mới thấm cái tai hại sao Hà Nội lại đi chặt cây, Hà Nội là là có “đường cong mềm mại”, Hà Nội có “cướp có văn hóa” – Đấy là lời của quan chức Hà Nội nói đấy. Ôi, thủ đô nghìn năm văn hiến, Hà Nội có Hồ Gươm nước xanh như pha mực, có Tháp Rùa soi bóng, có Tháp Bút viết thơ lên trời xanh (Ý thơ của anh Trần Đăng Khoa); thành phố vì hòa bình mà thế sao?

.

Đến đây thì tôi ngưng, không bàn tiếp.

.

Tôi vẫn yêu Hà nội vì những kỷ niệm tôi giữ được cách đây 40 năm, cái thuở mà ở Hà nội cây xanh cao hơn nhà, không kẹt xe hay ngập lụt, không ô nhiểm đủ loại. Tôi vẫn hi vọng là giới quản lý cũng như dân Hà nội tiếp tục trân trọng gia tài của quá khứ và bảo tồn cảnh quang cũng như văn hóa của Hà nội.

.

Hà nội, như tất cả những thành phố ở Việt Nam, cần hiện đại hóa, cần phát triển, dĩ nhiên rồi.

Nhưng cũng cần bảo tồn.

.

Cuối cùng, nói đi cũng phải nói lại: nước Mỹ cũng có những tệ hại, bất ổn, những cái mà tôi gọi là déviances – lệch chuẩn – , của nước Mỹ. Nhưng đó là một chủ đề khác

Bất ổn như Chicago cách đây gần một trăm năm đã cho ra đời Trường phái Chicago. Bao giờ ở Việt Nam sẽ tiến hành những nghiên cứu tương tự về hiện trạng xã hội để có trường phái Sài gòn, trường phái Hà Nội, …

Đi dạo phố ở Washington DC, ở Dallas hay ở Chicago, không phải khư khư ôm cái túi xách để đề phòng cướp giật ngoài đường!

Mặc dù là các cháu của tôi được trang bị, ở trường, những kỹ năng cần có khi gặp khủng bố hay các hành vi bạo lực.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

Phân tích hiện tượng viết blog

Quelques analyses du phénomène des blogs.

.

Bài này đã đăng ở đây (02.05.2013) ở cái thời mà nhà báo Thao Lâm còn phụ trách trang khoa học và chấp nhận đăng những bài về xã hội học  :

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/phan-tich-hien-tuong-viet-blog-725695.htm

Weblog hay sổ tay trên mạng là một hiện tượng bùng nổ từ hơn mươi năm nay. Những blog này có đủ thể loại. Từ nhật ký cá nhân, viết chuyện trời mưa trời nắng. Đến những blog chính trị và triết lý. Một số nhà văn viết blog. Một số khoa học gia hay nhà giáo cũng vậy. Trên trang nhà của những người này là các tác phẩm của họ.

Nhà tâm lý học Rosanna Guadagno và đồng sự (Đại học Alabama, Mỹ) đã nghiên cứu trên 363 sinh viên bằng một bảng điều tra và một số câu hỏi trắc nghiệm về tâm lý.

Kết quả, khoản 20 % trong số này thường xuyên viết blog, phân nửa họ dùng tên thật. Thành phần nam và nữ tương đối như nhau. Họ tự cho là cởi mở trước tiến bộ kỷ thuật.

Nhưng số sinh viên nữ viết blog thường chưa có bạn trai. Viết blog hầu như là một phương tiện để giải quyết vấn đề cô đơn. Tình cảm của các nữ sinh viên này thường bất ổn hơn. Có thể vì đó họ hay trải lòng trên trang blog và viết ra những điều thầm kín của cuộc sống riêng tư.

Trong khi đó, các nam sinh viên trong nghiên cứu thường dùng diễn đàn của mình để viết những đề tài về chính trị hay về kỷ thuật.

Nghiên cứu này không cho ta thấy những điều mới nhưng ít nhất nghiên cứu khẳng định rằng tâm lý nam giới và nữ giới khác nhau, họ dùng blog như một phương tiện mới để thể hiện mình và những điều họ thể hiện, một lần nữa trùng hợp với những khác biệt về tâm lý nam-nữ mà ta đã biết.

Dĩ nhiên, cần nhiều nghiên cứu khác, trên những nhóm dùng blog khác, để xem trong chừng mực nào các kết luận của nghiên cứu này có giá trị đại đồng.

Tài liệu dẫn :

Guadagno R. E., Okdie B. M., C.A. Eno, « Who blogs ? Personality predictors of blogging », Computers in Human Behavior, vol. XXIV, n° 5,  tháng 9,  2008.

Một nghiên cứu khác, của giáo sư xã hội học Sébastien Rouquette (Đại học Blaise Pacal, Pháp), đi vào định phẩm để tìm hiểu những động cơ sâu xa của những người viết blog, tìm hiểu và phân tích những cảm nhận của họ về những phản ứng mà họ nhận được trên mạng từ độc giả.

Phương pháp :

20 phỏng vấn sâu những người viết blog tiếng Pháp (Pháp, Thụy sĩ, Canada) từ 18 tới 58 tuổi, 2/3 là nữ 1/3 nam, giai cấp khác nhau, Phỏng vấn trong thời điểm tháng chín tới tháng chạp năm 2007. Các đối tượng phỏng vấn được lựa chọn dựa trên các thể loại của blog để ít nhất nghiên cứu bao gồm được nhiều loại blog khác nhau.

Phỏng vấn sâu mới biết được những động cơ nào là chính khiến cá nhân viết blog. Lại hiểu được cếu trúc liên hệ giữa các động cơ hay sự tiến hóa trong suy nghĩ của cá nhân với thời gian hay do phản ứng của độc giả gây ra, …

Đồng thời, phỏng vấn sâu mới cho thấy những nghịch lý có thể có, những giằng co tâm lý của người viết blog vì nhiều khi, để trả lời những câu hỏi của một bảng điều tra, các đối tượng chỉ cho những câu trả lời ngắn gọn, hợp thời hợp cảnh chứ không thành thật, không cho thấy hệ thống của các biểu tượng tiềm ẩn làm cho họ đi tới hành động.

Kết quả của nghiên cứu ?

1. Động cơ nào để viết blog ?

Ông Sébastien Rouquette phân biệt bốn loại :

a. để lên tiếng nói như làm nhân chứng. Cuộc sống giàu sự kiện, viết ra diễn tả là ghi lại chứng tích của xã hội ý thức đó như một bổn phận, cái mà có nhà nhân học gọi là ký ức tập thể

b. để trải lòng trong đó có cả khả năng sáng tạo. Kinh nghiệm riêng nhưng có thể có ích cho người khác. Người viết blog chưa là văn sĩ nhưng tập tành viết văn, …

c. cho ý kiến. Như người đi qua đường, thấy việc bất bình thì nói.

d. viết để trả lời nhu cầu cá nhân, cần phát biểu. Khả năng làm câu viết thành văn ở đây được xem như một việc sáng tạo, có giá trị. Nhất là khi chủ nhân các blog nhận được lời bình khen hay đồng thuận của người đọc.

2. Lợi ích của việc viết blog đối với các chủ blogs ?

  • Blog là nơi mà chủ nhân của blog, người viết, trải lòng những gì có thể. Ở đây tiếng Pháp dùng chữ «extime» – cái riêng tư bộc lộ được – để đối ngược lại với chữ «intime» – cái riêng tư phải giữ cho mình.

  • Bản thể của người viết blog như được tăng giá trị, vì đối thoại được với người lạ, vì được người lạ trả lời hay bình luận vì khám phá ra rằng ý tưỡng của mình có người đồng tình, …

  • Người viết hoàn toàn chủ động về nội dung của các bài viết, về hình ảnh mình đồng ý lựa chọn cho lên blog

  • Khi viết, chủ nhân blog phải rèn luyện trau chuốt cách cấu trúc, lập luận của mình để cho sáng sủa hơn, để dễ hiểu hơn và để nhận được sự đồng tình của người đọc. Trong chừng mực đó, người viết blog thu thập được kinh nghiệm viết lách và cho thiên hạ thấy một hình ảnh tích cực về cái «tôi» hay «bản ngã».

Tài liệu dẫn :

Rouquette S., Les blogs «extimes» : analyse sociologique de l’interactivité des blogs. Tic & Société. Vol. 2, n° 1, 2008.

Nguyễn Huỳnh Mai

Nữ trang và vết tích của cả một đời

Mấy món nữ trang mà bà yêu thích nhất …

Trong đó có đôi bông tai ông đã tặng bà làm quà cưới, hai viên kim cương khiêm tốn của cái ngày mà hai người còn là sinh viên. Rôi sau đó là viên ngọc lục bảo lúc hai ông bà sống với nhau tròn 40 năm. Giữa hai thời điểm đó thì… biết bao nhiêu nước đã chảy dưới cầu.

Năm nay ông bà đã hơn 45 năm ngày cưới, truyền thống Tây Âu gọi là noce de vermeil – vermeil là một loại bạc mạ vàng. Nhưng biết thế thôi, hạnh phúc không cần phải diễn dịch ra bằng vàng bạc hay đá quí.

Bà rất ít đi mua nữ trang – trừ những khi muốn tặng quà cho cô con gái và hai cô dâu – , vì cứ xem đó như những thứ không cần thiết. Mẹ của bà, trái lại, ngày xưa, rất thích những món xa xỉ ấy. Cho tới ngày, thời cuộc đổi thay, cụ đã mất hết những nữ trang một đời dành dụm và sưu tập.

Bây giờ đến lượt cháu của bà, mới bốn tuổi thôi nhưng đã bắt đẩu thích vàng vòng  … Có hôm, cháu mừng đến lặng người, không biết nói gì, khi được bà tặng một cái vòng tay bà đã xâu từ những ngọc trai tái sử dụng của một vòng cổ hồi xưa.

Mấy món nữ trang của bà không quí bởi giá trị bằng tiền. Nhưng vô giá vì đó là câu chuyện của cả đời bà.

Nguyễn Huỳnh Mai

Chuyện “Viên ngọc lục bảo” có thể đọc được ở đây:

https://huynhmai.org/2013/02/28/vien-ngoc-luc-bao/

Còn đường dẫn này đưa tới chuyện cái vòng tay của cháu tôi

https://huynhmai.org/2018/03/12/chiec-vong-tay-cua-chau-toi/

Biểu hiệu thông minh của một em bé

L’histoire de mon petit fils qui vérifie que sa trousse flotte réellement dans l’eau.

.

Cách đây hai năm, tôi có mang về từ Hàn quốc, hai cái bao, loại bao đựng viết – có độn, hình con hổ, vừa đẹp mắt vừa êm ái như một con thú dồn bông – cho hai bé nhỏ tuổi nhất trong các cháu của tôi.

 

Cái trousse hình con hổ

Chuyện không có gì đặc biệt nếu chỉ ngừng ở đó.

Thế nhưng cô cháu ngoại lên bốn của tôi đã dùng món quà này làm bao đựng cái máy ảnh của cô ấy

Kích cở của cái bao vừa vặn cho máy ảnh.

Chuyện vẫn chưa hết: tuần rồi, nhân một buổi đi dạo bằng thuyển trên hồ, cô ấy vô tình làm rơi cái túi với máy ảnh trong đó. Thôi rồi, trời còn lạnh lắm, không làm sao nhảy xuống hồ tìm cái máy ảnh. Trong tích tắc, mắt cô bé long lanh sắp khóc.

Nhưng kỳ diệu làm sao, cái bao con hổ, nhờ vật liệu độn bên trong, cái bao nổi trên mặt nước. Cha cô bé đã với tay vớt món đồ rơi xuống nước. Dĩ nhiên là cái bao ướt sũng. Hên là máy ảnh của bé waterproof.

Cô bé hú hồn và sung sướng về cảm ơn một lần nữa món quà của bà (=tôi).

Tôi mang câu chuyện kể cho các cháu nội của tôi, hiện sống bên trời Mỹ – vì cháu út cũng đã nhận cùng món quà ấy. Cái đặc biệt là trong lúc tôi đang kể chuyện qua skype với cậu anh cả, cháu bé, lên năm, không nói không rằng, đi vào nhà tắm, xả đầy nước vào chậu rửa mặt rồi  “thực nghiệm với cái trousse hình con cọp” của mình.

“Et il flotte réellement” – Nó nổi thật.

Thằng bé lên 5 thông minh : nó chỉ tin những gì nó tận mắt kiểm chứng.

 

Nguyễn Huỳnh Mai

Sách và đọc sách ở một công viên, Paris (Pháp)

Một bà cụ, hơn 60, ngồi đọc sách trước chỗ các cháu bé nô đùa

Gần đó, một phụ nữ, trung niên, cũng ngồi đọc sách, trong nắng vàng

Thiếu nữ này, trẻ hơn, ngồi bệt trên các bậc thang, đọc một tạp chí hay một giáo trình

Một tủ sách nhỏ ở đó, mời gọi, nếu bạn cần đọc, cũng ở trong công viên này

Như thế, dại gì mà nghịch điện thoại ?

Những ảnh này, tôi chụp hôm qua khoảng giờ trưa, ở quận 9, thủ đô Paris của Pháp.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Về khái niệm caregiving – chăm sóc trẻ

A propos de la notion  de “caregiving”

.

Bất cứ trẻ nào cũng cần người lớn thương yêu săn sóc và làm chỗ dựa cho chúng. Những trẻ bị bạo hành ở trường mầm non sẽ giữ những “vết chàm” suốt đời, Bảo mẫu cũng là một caregiver.

.

Caregiving – chăm sóc trẻ – là làm thế nào để trả lời đúng nhu cầu có chỗ dựa của trẻ đồng thời giúp chúng phát triển trên con đường đi tới tự lập.

Tối thiểu, caregiver, người chăm sóc trẻ

  • chia sẻ những cảm xúc của trẻ

  • an ủi chúng khi chúng gặp thất bại hay khó khăn

  • nâng đở chúng trong mọi trường hợp

  • giúp chúng tìm giải pháp cho tất cả những vấn đề chúng có thể đối diện – đói lạnh tả ướt đồ chơi rơi quá xa, …cho trẻ còn trong nôi

  • gợi ý các đường hướng giải quyết vấn đề cho trẻ lớn hơn gợi ý chứ không giải quyết thay chúng

.

Chăm sóc trẻ theo caregiving là khả năng của bậc làm cha hay mẹ :

  • nhận biết và biết biết diễn dịch những dấu hiệu bằng lời và bằng các hình thức khác của trẻ để hiểu tình tình nhanh chóng

  • biết nhu cầu tình cảm của trẻ mà không nghĩ rằng chúng đóng kịch hay làm nũng một cách không chính đáng

  • đồng cảm với chúng khi chúng gặp khó khăn hay bế tắt để giúp chúng “mạnh” hơn

  • khích lệ chúng trong những hoạt động khám phá môi trường và giúp chúng giải quyết những khó khăn trên đường đi

  • tôn trọng cảm xúc của chúng, giúp chúng giải thích bằng lời tất cảc trạng thái hỉ nộ ái ố khi chúng gặp phải

  • tôn trọng “lịch” phát triển của chúng, không so sánh chúng với các trẻ khác trong gia đình hay ở nhà

  • chia sẻ với trẻ những trạng thái tâm lý của chính mình khi cần để trẻ cảm nhận được cách “đối thoại hai chiều”f

.

Trên đường phát triển học lđể àm người, trẻ không có khả năng điều hòa các cảm xúc khó ở, các nhu cầu của mình.

Vai trò của cha mẹ là người ở đó để bảo đảm với chúng rằng

  1. Con không cô độc trên đời

  2. Cha hay mẹ rất thông cảm với con dù cha hay mẹ không ở trong cùng hoàn cảnh

  3. Cha hay mẹ sẽ giúp con tìm giải pháp

Một trẻ được nuôi dưỡng trong môi trường an bình như thế sẽ “sáng tạo” cho mình những kỷ năng sau đây:

  • biết đặt tin tưởng ở người đối diện khi gặp vấn đề,

  • biết rằng mình được tha nhân tôn trọng và yêu quí, mình có giá trị dưới mắt tha nhân,

  • tự tin trên giá trị của mình – tôi biết tôi có khả năng, tôi biết tôi quan trọng dưới mắt của ai đó, tôi tin rằng tôi sẽ không bị bỏ rơi khi gặp khó khăn và t đó, tôi sẽ vượt qua được các khó khăn trên đường đời

  • trẻ ít bị stress, không khóc nhè và lúc lớn lên có nhiều khả năng sẽ là người lạc quan hơn trước mọi tình thế.

.

Cứ như với một bản thể vững chải, mạnh thì có nhiều “sức” hơn để chống chọi với khó khăn của cuộc sống.

Ngắn gọn, caregiver tốt – người chăm sóc tốt – là người vun trồng cái “vốn” bản thể ấy cho trẻ.

(còn tiếp)

Nguyễn Huỳnh Mai

Vài cơ sở tối cần thiết để dạy toán, theo Stanilas Dehaene

Stanilas Dehaene được giới thiệu ở đây : 

https://en.wikipedia.org/wiki/Stanislas_Dehaene

và ở đây:

Học dưới góc nhìn của khoa thần kinh – Nguyễn Huỳnh Mai

.

Không chơi chữ nhưng ở đây, ông Stanilas Dehaene cho ba chữ chính với vần ION, tiếng Pháp, ở đuôi : émotion, attention, passion – tức là xúc động, chú ý, đam mê.

Xúc động, chú ý, đam mê, mà ông Stanilas Dehaene nêu, không chỉ cần cho toán. Các chữ đó cũng có thể là những phương thức cần cho mọi môn học.

Nhưng xin trở lại vấn đề toán và lý giải của ông Dehaene.

Tạo xúc động cho trẻ bằng những vật lạ, gây tò mò cho chúng. Môi trường muôn hình vạn trạng, đầy vật thú vị, không đến nổi phải đếm sao trên trời hay đếm lá trong rừng – dù là đếm lá trong rừng đã cụ thể hơn đếm sao – giáo viên chỉ cần nhìn xung quanh mình là có đủ dụng cụ để dạy toán ! Những hộp lớn nhỏ, những đũa dài ngắn, những nia thúng tròn, vuông… Ở chỗ khác, các nhà tâm lý giáo dục đã nói rằng trẻ chỉ học và nhớ những gì có ý nghĩa với chúng.

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở xúc động thôi thì chưa đi quá cái khả năng cảm nhận. Nên phải tiếp tục từ cảm nhận, chủ tâm khám phá để đi sâu hơn vào các khái niệm toán – tức là rời cụ thể đi vào lý thuyết, dùng cụ thể như vật dụng “khai quang” để đi đến lý thuyết. Sau đó, khi đã tiếp thu lý thuyết, dùng lý thuyết, trở lại giải mã cho cụ thể, cho những trường hợp tương tự… Quá trình này cần sự chú ý, kiên trì. Xúc động ban đầu thành “lực” để kéo theo kiên trì.

Để gây chú ý giáo viên cần áp dụng những nguyên tắc rất đơn giản như sáng tạo tối đa trong cách thức trình bày để bài học gần gũi với học trò để chúng dễ tiếp cận; như cấu trúc thành hệ thống có thứ tự các dữ kiện hay các đòi hỏi, và nhất là không đưa ra cùng một lúc hai sự kiện khác nhau hay hai lệnh khác nhau, …

Tất cả những “cách làm” này ông Stanilas Dehaene đã thực nghiệm và quan sát kết quả tích cực qua máy quét cộng hưởng từ sinh hoạt (IRMf) não bộ của trẻ trong các nghiên cứu.

Còn đam mê là động cơ để vượt khó. Bên ta thì nói “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Đam mê là lực để vượt núi qua sông. Phương thức để cho trò đam mê không có nhiều đường: nếu chúng hiểu việc làm của chúng, nếu chúng thấy ích lợi hay cái đẹp ở cuối chân trời, nếu chúng được tự do quyết định hướng đi của mình,… chúng sẽ băng đèo vượt suối.

Thầy giáo ở đó để truyền đam mê. Bằng những cách lý giải, bằng những khuyến khích tích cực, bằng cách cho trò cái gương về say đắm của mình, bằng cách vẽ đường cho trò đi…

Bấy nhiêu đó vẫn chưa đủ? Cho phép trò làm sai là một phương pháp thêm vào. Không chỉ có con chó của Pavlov biết tránh cái bẫy có điện giật, không chỉ có con bồ câu của Skinner biết chừa những ô trống không có hạt ngô. Làm sai, tức là thất bại, tự thân lả một hình phạt có ý nghĩa cho bất cứ người đi học nào và “sửa sai” cũng là một challenge cho trẻ, một động lực giúp trẻ vượt khó để đi đến thành công. Không cần giáo viên chen vào phạt hay cho điểm xếp hạng.

Trong dấu ngoặc, đánh giá-đào tạo – évaluation-formation – để tiếp tục học, biết chỗ nào sai để hoàn thiện, tốt hơn là đánh giá-chế tài – évaluation-sanction. Các nhà giáo dục đã nói nhiều về vấn đề này. Tuyệt đối, ông Dehaene không nói đến đánh giá chế tài, không phạt và đồng thời không tạo áp lực học hành.

Cuối cùng, như một chuyên viên thần kinh toàn diện, ở đây, ông Stanilas Dehaene thêm vào: hãy để cho trẻ ngủ đủ. Giấc ngủ như một … phương thức sư phạm vì giấc ngủ là một công cụ rất tốt, có thể là tốt nhất, để phục hồi khả năng trí tuệ, để giúp sắp đặt lại các tiếp thu và để ổn định trí nhớ.

Khi trẻ có vấn đề ở lớp, không thiết tha học, không chú ý hay không đam mê mà các phương thức đưa ra ở trên đều không mang lại kết quả thì ta phải xem thử giấc ngủ của em ấy có tốt không. Khó khăn ở trường học có thể chỉ là biểu hiệu của một vấn đề nào đó về giấc ngủ.

Thay lời kết

Dựa trên khả năng số học mà bất cứ trẻ nào cũng có, dùng khả năng ấy như điểm tựa, như bàn đạp để hoàn thiện hiểu biết về toán của trẻ. Không dạy trẻ làm theo lô gích của người lớn mà để chúng làm theo lô gích của chúng, những gì não chúng đã được cấu tạo. Chúng sẽ học nhanh hơn, dễ hơn, ít sai hơn. Giáo viên ở đó để cung cấp dụng cụ, để cho thêm động cơ và để giúp chúng can đảm bước vào thế giới trừu tượng đầy biểu tượng của Toán. Nhưng sau khi đã hiểu và vượt qua được những khó khăn của các biểu tượng cơ sở thì phần còn lại chỉ là … thích thú.

Đa phần những gì ông Stanilas Dehaene cho thấy, thật ra khoa giáo dục đã, gần hay xa, đề cập tới. Cái khác là ông Dehaene mang đến những bằng cớ của khoa thần kinh và khoa tâm lý của sự học, ít nhất là cho thời điểm mà ta đang sống.

Áp dụng những cơ sở nói trên xong thì giáo viên có thể dạy bất cứ nội dung nào, trẻ sẽ học một cách tích cực và tiếp thu với hạnh phúc.

.

Nguyễn Huỳnh Mai