Skip to content

Cô em út

TN nhỏ hơn tôi 15 tuổi

 

Giàu út ăn, khó út chịu”. Câu này thật đúng cho TN.

Suốt thời thơ ấu, TN là đứa con cưng của cha mẹ chúng tôi. TN được ngủ cùng giường với mẹ lâu hơn, được chọn phần quà trước nhất mỗi khi mẹ đi chợ về, được các anh trai bênh vực lúc ở trường, … vì TN nhỏ nhất nhà!

Thế nhưng thời thơ ấu của TN qua nhanh. Tiếp theo đó vận nước thay đổi. Như nhiều người khác, TN bơ vơ trước thời cuộc và trước những khó khăn sau chiến tranh của xã hội. Như có một vết cắt, như gãy gánh giữa đường, tất cả sụp đổ với TN. Trong những năm tế nhị của tuổi niên thiếu, lúc sắp và đang dậy thì.

TN sang đoàn tụ  với tôi ở tuổi 15, cố gắng đi học tiếp trung học – khó quá. Cố gắng thi vào trường Y tá. Cũng bỏ dở nửa chừng.

TN lấy chồng, cũng … được bốn năm, rồi mang đứa con gái, lúc đó chưa đầy hai tuổi trở về sống với mẹ  già.

Nhưng con gái là … con người ta – lấy chồng rồi là cứ như tự đóng cửa nhà cha mẹ đẻ. Mẹ chúng tôi “tái lập lại” những gì bà đã sống lúc bà lận đận vì chồng bà đi kháng chiến, bà mang tôi về nhà ngoại. TN thành …vật tế thần, thành nạn nhân của nếp cũ nhà xưa. Mẹ tôi vốn rất truyền thống, lại không có khả năng tự nhìn lại mình. Bà ruồng bỏ chính cô con gái út của bà.

TN cắn răng, nuốt ngược nước mắt, ở vậy nuôi con. Từ hơn hai mươi năm nay.

Có lẻ tôi là người gần với TN nhất trong gia đình. Và tôi mừng thấy con gái của TN năm nay tốt nghiệp kỹ sư.

 

Nguyễn Huỳnh Mai.

Advertisements

Vấn đề “năng khiếu sư phạm”

Dons et compétences des enseignants?

.

Hôm nay Lao động trên mạng đăng bài này của nhà báo Quang Đại

https://laodong.vn/xa-hoi/tac-gia-thong-tin-soc-70-giao-vien-dung-lop-khong-co-nang-khieu-su-pham-noi-gi-566354.ldo

Dưới đây là những dòng chép lại từ bài báo

Báo Lao Động online ngày 23.9 có bài “Sốc: 70% GV đứng lớp không có năng khiếu sư phạm?”, có thông tin dẫn lại nội dung phát biểu của Thạc sỹ Nguyễn Đình Anh, nguyên Trưởng Phòng giáo dục chuyên nghiệp Sở GDĐT Nghệ An tại Hội thảo giáo dục 2017 về chất lượng giáo dục phổ thông do Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục Thanh niên Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tổ chức ngày 22.9.

Cơ sở của phát biểu nói trên là kết quả quan sát, suy ngẫm của tôi trong mấy chục năm công tác, chủ yếu ở Sở GDĐT Nghệ An.

Ông Nguyễn Đình Anh cũng lưu ý thêm, tỷ lệ 70% GV đứng lớp không có năng khiếu sư phạm không đồng nghĩa với tỷ lệ GV không hoàn thành nhiệm vụ. “Ban đầu, họ có thể không có năng khiếu, nhưng qua thời gian phấn đấu, họ vẫn tích lũy được kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn, hoàn thành nhiệm vụ, thậm chí hoàn thành tốt”, ông Anh lý giải.

Xin mạn phép góp ý về một vài vấn đề

Các con số. 70%, 90% đại đa số hay bất cứ tỉ lệ nào cũng đòi hỏi sự chính xác. Mà muốn chính xác thì phải cân đo tận tường, phải nghiên cứu, có phương pháp và có kiểm chứng. Nếu chỉ qua kinh nghiệm của một cá nhân, dù là quan sát và suy ngẫm trong suốt một thời gian dài, ở đây là 10 năm vi hành trên thực địa đi nữa cũng chỉ là những kinh nghiệm có thể chủ quan, có thể thiếu chiều sâu và không toàn diện, …

Vấn đề năng khiếu sư phạm

Năng khiếu có thể định nghĩa như một khả năng đặc biệt. Nhiều người còn ngầm cho rằng năng khiếu là bẫm sinh – năng khiếu trời cho – Thế nhưng các nhà xã hội học mà đi đầu là ông Pierre Michel Menger thì nghĩ khác

Thiên tài dưới mắt của nhiều người là một khả năng bẫm sinh – từ trên trời rơi xuống – đúng như chữ «thiên» trong thiên tài. Thế nhưng nếu không miệt mài cật lực làm việc thì có lắm thiên tài đi nữa cũng sẽ bị chôn vùi trong tro vụn.

Tại sao có người miệt mài cật lực làm việc ? Làm sao giải nghĩa những động lực giúp ta cố gắng ? Ông Menger nói đến động cơ và đền bù.

Động cơ là lực đẩy ta tiến tới hay tiếp tục làm một việc nào đó. Lòng mẹ thương con là động cơ khiến người phụ nữ sẳn sàng hi sinh cả thân mình để mưu cầu sự sống hay hạnh phúc cho con.

Mengler phân biệt động cơ nội tại và động cơ bên ngoài.

Ông Menger định nghĩa năng khiếu là khả năng cho một việc gì – một khả năng vừa thuộc nội tại của cá nhân vừa tùy thuộc xã hội.

Mozart được sủng ái ở châu Âu vào thời của ông. Ông có … năng khiếu về âm nhạc. Nhưng năng khiếu của ông một phần đã được phát triển và vun trồng bởi hoàn cảnh gia đình – cha ông là maître de chapelle,  nhạc sĩ của vua – và những sáng tác thanh nhạc của ông lúc đó là hợp thời. Một cách thái quá, ví dụ như ông sinh ra ở Bali chẳng hạn  thì không hẳn Mozart đã được biết tới.

Cho các giáo viên thì trường sư phạm và cả xã hội phải là môi trường làm nẩy sinh rồi vun trồng và bồi dưỡng các … năng khiếu sư phạm của giáo viên. Nếu đa phần các giáo viên không có năng khiếu thì có lẻ phải nhìn xa hơn và truy nguồn cái … khiếm khuyết đó.

Chi tiết về bài này ở đây:

http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/thien-tai,-nang-khieu-va-kha-nang-sang-tao

Ông Nguyễn Đình Anh nói rằng dù thiếu năng khiếu, các giáo viên vẫn có thể làm tròn nhiệm vụ dạy trẻ, nhờ kinh nghiệm, tích lũy kiến thức.

Nhiều người chuyên môn lo đào tạo giáo viên ở trời Âu, không đặt trọng tâm lên kinh nghiệm. Vì mỗi kinh nghiệm có cái giá phải trả, kinh nghiệm với lớp A khác với thực trạng của lớp B thành rất khó mà .., tái sử dụng, …

Kinh nghiệm có thể cần, nhưng cần hơn nữa là nghị lực muốn làm tốt việc đưa trẻ đến bến bờ hiểu biết. Tức là động cơ, tức là lòng yêu nghề, yêu trẻ.

Bài này cho thấy một số kỹ năng bên lề rất cần cho người đi dạy: truyền cảm xúc, tạo đam mê, dạy tiếp nhận cái đẹp, tạo tình người và khả năng tự vấn mình

http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/van-hoa-hoc-duong40/ban-ve-vai-ky-nang-%C2%ABben-le%C2%BB-can-cho-mot-nguoi-di-day%E2%80%A6

Vài lời chót?

Nhưng cũng không thể nào đòi hỏi người đi dạy phải toàn tâm toàn sức cống hiến khi quyền lợi không đi đôi với trách nhiệm, khi đồng lương bèo bọt không cho phép họ sống một các thoải mái. Đó là còn chưa nói đến chuyện phong bì phong bao để xin việc,…

Rốt cuộc, trọng đãi các giáo viên với một hệ thống lương bổng thích ứng, với chế độ đãi ngộ tôn sư để học đạo – dùng chữ của xã hội học là phải làm sao cho người thầy được trọng vọng trong xã hội để từ đó gầy nên động cơ cho một số người trong giới trẻ lăn xã vào nghề sư phạm.

Động cơ là khởi điểm của năng khiếu nhưng cũng phải có một chương trình đào tạo up to date – cập nhật – với những hiểu biết mới nhất về tâm lý nhi đồng, về phương pháp sư phạm, về kỷ nghệ thông tin, … để giúp cho người thầy có đủ hành trang cho công việc dạy trẻ hàng ngày. Song song với chương trình và nội dung các môn cần dạy.

Nguyễn Huỳnh Mai

Cách mạng rô bốt thông minh

La révolution des robots intelligents

.

Bài này đã đăng ở đây

http://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/don-nhan-cach-mang-cong-nghiep-4-su-dung-rong-rai-ro-bot-thong-minh-20170916111530598.htm

 Chúng ta đang bước vào thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, sử dụng rộng rãi rô bốt thông minh. Đến nay nhiều thành tựu mới đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực nghiên cứu sản xuất các thế hệ rô bốt mới.

Peper nói: – Chào em, em có cần tôi giúp gì không ? (photo: Thomas Van Ass)

Trong thời đại đầu, rô bốt chỉ làm thay những cánh tay lao động, một cách đều đặn, chính xác, rô bốt không mệt, không cần ngủ, không đình công bãi thị. Trong giai đoạn thứ nhất này, công việc sản xuất vẫn cần những thao tác can thiệp của người, nhất là can thiệp có tính chuyên môn cao: lập trình rô bốt, lấy các quyết định, ra lệnh cho rô bốt.

Một thí dụ nhỏ, máy đọc chính tả cho máy tính viết – reconnaissance vocale. Thời đại đầu, người viết thư vẫn phải đọc lại trên màn hình và chỉnh lỗi chính tả. Những chữ nào không được lập trình trước và không có trong bộ nhớ thì máy chỉ biết nghe và viết y nguyên, theo âm, như đã nghe qua giọng nói .Hiện máy này biết tra cứu tự điển, và viết những chữ đúng và ghi vào trí nhớ cho những lần sau. Tức là rô bốt biết … tự học thêm. Dĩ nhiên là đọc lại vẫn cần nhưng không còn những chữ hay lỗi vô lý như ở thời đại trước. Khả năng này rất tiện lợi cho các từ ngữ chuyên ngành chuyên nghề – chủ máy “dạy” cho máy của mình những ngôn từ kỹ thuật.

Cũng trong lĩnh vực y khoa, một số thao tác ở phòng mổ, rô bốt hiện làm được, làm tốt như bác sĩ chuyên môn ngoại khoa, nhưng bác sĩ vẫn phải có mặt ở đó để điều khiển rô bốt. Nhưng hiện một số rô bốt đã có khả năng chẩn bệnh từ xa.

Từ từ, rô bốt thành những máy thông minh. Một số rô bốt còn biết quyết định giỏi hơn người nhờ trí tuệ nhân tạo và vì không bao giờ mệt, quên hay đãng trí. Xe hơi tự tìm chỗ đậu, xe hơi không người lái, biết chọn hành trình tránh những nơi bị ùn tắc. Hay những máy tính đa ngôn ngữ, đảm bảo việc dịch thuật tức thì.

Peper của ảnh minh họa ở trên biết nói 22 thứ tiếng. Không một cô hay ông lễ tân/tiếp viên nào có khả năng ấy. 

Khởi thủy, cuộc cánh mạng tin học không những giúp thế giới tìm ra các phát minh dễ hơn – các kỹ sư vẫn nhờ máy tính để làm việc có hiệu quả hơn và nhanh hơn, cuộc cách mạng này còn giúp tích cực cho sản xuất, với những sản phẩm và dịch vụ giúp phát triển kinh tế và nhất là cải thiện cuộc sống của con người

Tiến hóa là một hiển nhiên. Không có lý do gì để chúng ta trở về tình trạng “như thời xưa” và ta không thể từ chối hướng đi tất yếu này. Một tương lai không có máy móc và trở về với thiên nhiên là điều bất khả thi.

Đúng theo quy luật phát triển, máy móc và phương tiện thông tin do con người tạo ra, không chống lại, mà hô trợ và con người vẫn giữ vai trò quyết định.

Dùng rô bốt cho những công việc lập lại và những công việc nặng nhọc thì chắc chắn rô bốt làm tốt hơn người và bảo đảm cho công nhân không phải làm việc nhàm chán.

Nhiều nhà máy dùng rô bốt để sản xuất đã vượt qua khó khăn nhờ có sự nhạy bén canh tân thiết bị để tiếp tục sản xuất, nhưng không cần nhiều thợ thuyền và chi phí sản xuất thấp hơn.

Trong quá trình tiến hóa của nhân loại, cần nhiều triệu năm để não bộ ta thích ứng với thiên nhiên và giúp ta sáng chế ra đồ đá hay đồ đồng. Cũng với não bộ đó ta đã sáng chế ra tin học và trí thông minh nhân tạo. Bây giờ là lúc có cơ hội để hưởng thành quả của thông minh nhân tạo.

Công việc của thợ thuyền và vốn liếng?

Hai cấu thành trong sản xuất là vốn và công việc. Cần vốn để đầu tư thiết bị và để thuê nhân công. Nhưng không có nhân công thì không ai sản xuất. Mối liên hệ giữa vốn và nhân công, nhiều kinh tế gia đã bàn đến, trong đó có Marx.

Khi Terry Gou, người sáng lập của Foxconn, mua 30.000 rô bốt để làm việc trong các nhà máy ở Trung Quốc thay thế nhân công, ông cho thấy là dùng vốn để mua rô bốt cho sản xuất rẻ hơn là thuê thợ thuyền. Rô bốt cạnh tranh với công nhân và thợ thuyền thất nghiệp. .

Những biện pháp cần để đối mặt với tương lai?

Theo các tác giả là phải cải tổ giáo dục, phải làm sao cố gắng đào tạo những người biết sống với rô bốt và làm những việc mà rô bốt không làm được.

Khi nói đến hoàn thiện hạ tầng, phải thấy trong đó có hạ tầng thiết bị rô bốt.

Song song, có lẽ công ăn việc làm sẽ hiếm hơn, thế nên sẽ cần một chính sách lương bổng thích hợp để chia sẻ cái bánh xã hội một cách công bằng, một hệ thống thuế vụ tạo bình đẳng hơn và thiết kế, chẳng hạn, một lợi tức tối thiểu cho tất cả mọi người.

Tức là ta cần nhiều ý tưởng phát minh thật sáng tạo cho một tương lai chưa từng có – khác với lối mòn hiện nay.

Đó là đúng nghĩa của những cải tổ đoạn tuyệt chứ không cải tổ trong tiếp nối. Với một sợi chỉ đỏ: giữ làm sao để vẫn tiếp tục có một xã hội đầy nhân ái giữa thời buổi của máy móc và rô bốt thông minh. Vì giới hạn hiện nay của thông minh nhân tạo là ở cảm xúc, đạo đức và tình cảm.

Nguyễn Huỳnh Mai

.

Tài liệu tham khảo

Brynjolfosson E. và McAfee A., Le Deuxième Age de la Machine (Tuổi thứ hai của máy móc) phiên bản tiếng Pháp. NXB Odile Jacob, 2015.

Về đổi mới đoạn tuyệt và đổi mới trong tiếp nối

http://dantri.com.vn/dien-dan/doi-moi-dot-pha-cho-giao-duc-20150911230654935.htm

 

Học để biết hay học để thi ? Động cơ nội tại và động cơ từ bên ngoài

Bài này Dân Trí đã lên trang ở đây:

http://dantri.com.vn/dien-dan/hoc-de-biet-hay-hoc-de-thi-dong-co-noi-tai-va-dong-co-tu-ben-ngoai-20170914210117744.htm

.

Apprendre pour connaître ou pour réussir les examens ? A propos de la motivation intrinsèque et de la motivation extrinsèque

.

Não của trẻ không là một cái lọ rổng mà ta chỉ cần rót tri thức vào để làm đầy. Trẻ cần động cơ thúc đẩy để học.

Ở đây, ta có thể phân biệt động cơ thúc đẩy nội tại và động cơ thúc đẩy đến từ bên ngoài.

.

Để biết, để thỏa mản khát vọng làm chủ kiến thức, để thành người có tri thức, để sống tốt hơn và để hạnh phúc là những động cơ nội tại .

Trẻ con lên ba hay hỏi “tại sao”, tại sao mặt trời mọc, tại sao trời mưa, tại sao con bị bệnh, … là để thỏa mản nhu cầu “biết cho mình”, biết để sống, hoàn toàn không ẩn ý lợi lộc trong đó.

Y như thế, trẻ chơi để khám phá, để thử sức, để sáng tạo, … và trẻ hạnh phúc với các trò chơi của mình.

Nếu trẻ đến trường vì hứng thú, vì ngày nào cũng được tiếp cận những tri thức chúng cần, … thì đó chúng đầy những động cơ nội tại.

.

Trái lại, khi bị ràng buộc, như học để thi đậu, để được xếp hạng cao, để làm vừa lòng cha mẹ, để kiếm tiền, để thăng quan tiến chức – dĩ nhiên trong các tình huống này cá nhân người đi học cũng … được hưởng lợi, nhưng đó chỉ là những “lợi” gián tiếp. Cái động cơ trước mắt là để được “thưởng” hay “không bị phạt bởi xã hội”. Những động cơ này được gọi là động cơ đến từ bên ngoài.

.

Động cơ nội tại làm cho người đi học chú trọng tới nội dung, sẽ tìm kiếm để biết tận tường, sẽ nhớ lâu, sẽ tìm tòi đến ứng dụng và xa hơn nữa, phát triển trí sáng tạo chung quanh tri thức mới vừa tiếp cận… vì đó là chủ đích của mình, học cho cá nhân – cái đền bù nằm trong cá nhân như sự thỏa mãn, bằng lòng, niềm vui, ….

Trong khi động cơ bên ngoài làm cho người đi học tìm đủ mọi cách để đi đến cái đích là thi đậu, là được khen, là kiếm ra tiền, … còn nội dung của tri thức chỉ là phương tiện. Ta có thể gọi một cách quá đáng rằng trong trường hợp đó, người đi học cốt “làm sao để đi qua ải”, đi qua xong thì không cần kiến thức nữa.

.

Thông thường, trong các thư viện dành cho nhi đồng, trẻ chọn sách một mình, cháu chọn một sách vì cháu tò mò khi đọc thấy tựa quyển sách hay thấy hình vẽ ngoài bìa, cháu muốn biết cốt truyện như thế nào. Khi đọc, cháu nhập vai với nhân vật trong sách, cháu mang hết hỉ nộ ái ố vào câu truyện và cháu sẽ hạnh phúc với quyển sách. Đọc xong, cháu sẽ làm giàu thêm cho vốn ngôn từ của mình, có khả năng kể lại truyện ấy và thậm chí viết thêm đoạn kết theo tưởng tượng của cháu. Cuối cùng kết quả là lòng tự tin của cháu sẽ lớn hơn.

Thí dụ cụ thể này sơ lượt cho thấy tầm quan trọng của động cơ nội tại.

.

Trái lại, ở trường hay ở Đại học, một số học sinh, sinh viên học để được điểm cao, có mảnh bằng để kiếm tiền, để đổi đời, … Người đi học trong hoàn cảnh đó thành người ứng phó, tính toán tùy thời cơ chứ không thực lòng học hỏi.

Tương tự, những hình thức chấm điểm xếp hạng, thi cử, học sinh tiên tiến, … cũng nhắm tạo động cơ thúc đẩy từ bên ngoài. Nhưng theo những phương thức như thế, sự học cũng sẽ hoàn tất đó nhưng kết quả thực thụ không bền vững. Ta bảo “có vỏ nhưng không có ruột”: nhiều chữ học xong, thi đậu và rồi trả lại thầy!

.

Trong một số trường hợp, một động cơ có thể vừa từ bên ngoài vừa nội tại – như làm một việc mà mình thích lại được xã hội nhìn nhận và khen thưởng. Các học sinh dự một cuộc thi Olympiade Quốc tế về Toán là một thí dụ. Một nhạc sĩ tập luyện đàn trước khi biểu diễn cũng vậy.

.

Cần động cơ thúc đẩy, nội tại và từ bên ngoài, đến nổi tác giả Pierre Michel Menger đã chứng minh rằng thiên tài chỉ là người có động cơ nội tại lớn và đồng thời được đền bù xã hội cao.

https://huynhmai.org/2014/09/26/thien-tai-nang-khieu-va-kha-nang-sang-tao/

.

Áp dụng vào sư phạm, một người thầy giỏi là một người biết khơi nguồn, tạo động cơ nội tại cho trò của mình và mời chúng vào cuộc, học một cách tích cực chứ không phải học để … tránh đòn hay được điểm cao. Sau đó, biết khuyến khích nâng đở chúng trong những lúc gian nan… Ta gọi đó là đồng hành – đi cùng với trò.

Rồi ngược lại, kết quả của trò sẽ là động cơ cho thầy.

Nguyễn Huỳnh Mai

Chuyện của ba Tiến sĩ đi từ Đại học Liège

Comment certains docteurs peuvent se débrouiller dans la vie. Trois récits de diplômés de l’Université de Liège.

.

Về phương pháp, ba chuyện này được thu thập với phương pháp phỏng vấn chuyện đời – collecte des récits de vie – với một câu hỏi duy nhất: Ôg/bà sống như sao với cái Tiến sĩ ?.

.

Bà AL là một bác sĩ Tai mũi họng, tốt nghiệp ở Liège – dù đã có thời gian tập sự bốn tháng ở Montpellier và Grenoble bên Pháp – Sau đó bà cũng đã học chuyên khoa và nghiên cứu tiến sĩ ở Liège.

Chỉ trong hai ba dòng tóm tắt hết cuộc đời học hành của bà nhưng đó là một quá trình hơn 12 năm kể từ lúc xong trung học phổ thông. 12 năm với những ngày học tới 16 giờ trên 24 hay có những lúc lo cho bệnh nhân bất kể giờ giấc. Lại còn phải “chăn” đàn chuột bạch ở phòng thí nghiệm cho công trình khảo cứu – bà chuyên về thính giác của chuột.

Giản dị lắm, với một cuộc sống như thế nên tuy bà đã kết hôn từ rất lâu, với một bạn đồng nghiệp,  nhưng tới năm 34 tuổi vẫn chưa dám quyết định có con.

Sau tiến sĩ bà theo chồng sang Cambridge, Anh quốc. Chồng bà có học bổng sau tiến sĩ còn bà chỉ đóng vai …”phụ nữ xuất giá tùng phu”, “anh đi đâu thì em theo đó” – y như mẹ của bà ba bốn mươi năm trước.

Thế nhưng qua đến Cambridge, bà cũng tìm ra một học bổng hậu tiến sĩ ở University College of London, một trong những Đại học trong top 15 của bảng xếp hạng các Đại học toàn cầu.

Tiếp theo, là dù phải mỗi ngày ngồi trên xe lữa và xe điện ngầm gần hai giờ, cho bận đi và bận về, để di chuyển từ Cambridge đến London, bà đã có một thời gian làm việc đầy hứng thú :  sinh hoạt trong một môi trường tích cực, với những khoa học gia và bác sĩ chuyên môn vừa giỏi vừa nhân hậu, bà hoàn thành xong một bài báo đăng trên một tạp chí khoa học có chỉ số ảnh hưởng cao, trong năm ấy.

Chuyện có vẻ như thần tiên, nhưng những tháng đầu bà đã phải làm quen với tiếng Anh, không những tiếng Anh khoa học – chuyện đó không khó lắm, nhưng tiếng Anh của các bệnh nhân để có thể hiểu và đối thoại với họ. Và tiếng Anh của phòng mổ với những chữ tắt, từ lóng, từ bị cắt xén, …

Với bệnh nhân thì phải làm sao hiểu họ – dân ở London là dân thập phương, với giọng Ấn, giọng Mỹ, giọng Đức, … rồi chính bà phải dùng một thứ tiếng Anh đầy thông cảm với những tế nhị của ngôn từ – theo ngữ vựng hiện thời là “làm sao diễn tả được sự thấu cảm”.

Ở phòng mổ thì phải hiểu hết và hiểu nhanh, dùng đúng chữ vì ở đó, không được phép dùng chữ sai hay chần chờ: bệnh nhân trên giường mổ ở đó, chuyện là chuyện sống-chết, bà là bác sĩ phẩu thuật, tay nghề là cần thiết đành rồi nhưng cuộc mổ nào cũng là công việc của một nhóm đi từ y tá, bác sĩ gây mê, … phải biết “ra lệnh” hay “tuân thủ” những việc làm của ê kíp.

Chuyện ở phòng thí nghiệm không giản dị hơn. Bà phải … nhập gia tùy tục với nhóm mới, với những us et coutumes – tập quán – khác với nhóm của bà ở Liège.

Thế là bà đã học ngày học đêm để đạt được trình độ cần thiết cho công việc tiếp đó. Bà mất ba kí lô, mắt quầng đen vì thiếu ngủ,.. nhưng bà ngẩng cao đầu tiếp tục ở nhà thương, song song với việc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm để viết bài báo.

Sau 13 tháng, bà về Bỉ, cũng là theo chồng vì nếu không có bó buộc đó thì Đại học London đã đề nghị bà ở lại, làm giáo sư trợ giảng. Lúc trở về Bỉ, bà được bổ nhiệm giám đốc nghiên cứu. Có lẻ trong lịch sử của Đại học Liège chưa có giám đốc nghiên cứu Y khoa nào trẻ như bà lúc ấy.

Chuyện có hậu: bà quyết định sinh con và cho ra đời một bé gái xinh xắn. Nhưng bé ấy sẽ là đứa con duy nhất vì cụ thể mà nói, hoàn cảnh không cho phép bà sinh và săn sóc nhiều con.

.

Ông L là kỷ sư, tốt nghiệp ở Liège. Trong quá trình học, ông đã ba lần trình toà những nghiên cứu về thông minh nhân tạo để chế … mắt biết nhìn thấy, nhìn đa chiều, gần như mắt người, của các robot.

Ngày ông trình tiểu luận ra trường, có một xí nghiệp mời ông về cộng tác với lương khởi nghiệp trên dưới 6000 euros mỗi tháng. Nhưng ông đã chấp nhận một học bổng Tiến sĩ chưa đầy 2700 euros mỗi tháng, trong bốn năm, với bổn phận trợ giảng 4 giờ mỗi tuần cho giáo sư đở đầu.

Thế là ông được tiếp tục cuộc sống … vô tổ chức, như dân du mục: không gia đình, không nhà cửa – ông vẫn ở cư xá sinh viên – nhưng được làm công việc mà ông thích.

Sau Tiến sĩ, ông nhận một học bổng hậu Tiến sĩ ở Italia, ở đó một năm, vẫn đơn thân độc mã. Ông dành dụm tiền mua  một chếc xe nhỏ để thỉnh thoảng chạy về Bỉ thăm gia đình và bạn bè. Đi xe hơi dễ hơn đi tàu hỏa hay máy bay vì tự do hơn, không phải lệ thuộc giờ giấc – mặc dù đó là một hành trình trên 1200 cây số.

Nghiên cứu hoàn thành Tiến sĩ hay sau Tiến sĩ, nói có vẻ dễ lắm, nhưng điều đó có nghĩa là ông phải từ bỏ những đam mê khác như chơi thể thao mỗi tuần trong một đội vũ cầu hay chơi đàn dương cầm vì không làm sao mang cái đàn piano trên … vai lúc đi ra nước ngoài.

Sau Italia, vẫn sau Tiến sĩ, ông được một đại học ở Canada cấp một tài trợ nghiên cứu hai năm, với khoảng 45-50000 đô la Canada mỗi năm trong khi một người cở trình độ ông ra làm bên kỹ nghệ thì lương ít nhất là gấp đôi.

Nhưng ông bén duyên với Đại học, cả trong nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vì đã gặp bạn đời của ông, một người cùng ngành, cũng là người di dân, đến từ … Italia. Quá khứ của lúc ông ở bên xứ Ý hai năm trước là khởi điểm cho cuộc tình.

Sau hai năm đó, ông trở thành giáo sư trợ giảng ở trường ĐH  này và đã cho ra đời, không những là hai bài báo xuất sắc mà còn là một cậu bé hứa hẹn sẽ giỏi Toán như cha mẹ của cậu – một cậu bé có ba quốc tịch: Bỉ như cha cậu, Ý như mẹ của cậu và Canada vì cậu chào đời ở xứ này. Hiện cậu bắt đầu học nói  hai thứ tiếng, Ý và Anh.

Làm Tiến sĩ ở trời Âu thường là như thế đó. Phải có tài, cần mẫn, yêu nghiên cứu, … mà còn phải chấp nhận xa nhà, hi sinh các sinh hoạt khác, …

Ông MD, là một nhà sinh học. Ông xong Tiến sĩ ở Bỉ, học thêm tin học áp dụng vào khoa học của sự sống. Ông lập gia đình sớm, lúc chưa xong Tiến sĩ và vì sinh kế, ông phải đi làm ở một hảng dược – học bổng Tiến sĩ không đủ để nuôi con – , một xí nghiệp đa quốc gia. Cũng cần nhắc là trong quá trình nghiên cứu cho Tiến sĩ, ông đã có lúc đi học hỏi  dài ngày ở Baltimore và Washington DC ở Mỹ. 

Chuyện đời tưởng an bình như thế. Nhưng vợ ông, cũng Tiến sĩ Sinh học như ông, cũng làm trong một xí nghiệp dược quốc tế – kết hôn với người giống mình, các nhà xã hội học đã nói nhiều về cái luật đó – Vợ ông được gửi sang Mỹ trong ba năm.

Phải làm sao bây giờ, chẳng lẻ đóng vai vợ chồng Ngâu suốt thời gian ấy ? Đã thế, hai ông bà lúc ấy đã có hai cháu bé, lên tám và lên bốn.

Cũng may là hai cháu đã được cha mẹ rèn luyện song ngữ Anh và Pháp từ bé. Thế là ông MD từ chức, mang hai con theo vợ sang Mỹ.

Bà ML đã theo chồng sang Anh. Nam nữ bình quyền, ông MD theo vợ sang Mỹ cũng đâu có gì là bất thường.

Vợ ông, vì được xí nghiệp thuyên chuyển nên xí nghiệp đã lo cho bà giấy phép lưu trú và hành nghề tại Mỹ. Còn ông, ông đã phải hoàn tất mọi thủ tục trong lúc tìm việc làm – Dù là dân Âu châu, có trình độ cao, có vợ đi làm ở Mỹ nhưng ông MD đã mất hơn bốn tháng mới xong mọi giấy tờ và tìm được việc – tức là bốn tháng “sống bám” vào lương vợ.

Nhưng chuyên môn cao và có quá khứ kinh nghiệm nghề nghiệp, ông đã tìm được việc làm gần đúng theo sở thích, và xí nghiệp đã đồng ý đợi đến lúc ông được thẻ lao động.

Mỗi tuần ông đến hảng làm việc hai ngày. Những ngày khác thì làm việc từ nhà – vì từ nhà đến hảng là ba giờ lái xe.  

Ba thí dụ của bài này cho thấy là dù các xã hội Âu Mỹ hiện đang khủng hoảng kinh tế, tỉ lệ thất nghiệp cao, nhưng các Tiến sĩ chưa đến nổi phải ở nhà nấu cơm cho vợ hay chồng.

Dĩ nhiên, với ba thí dụ ta không thể kết luận.

Mặc dù có một số điểm chung cho cả ba trường hợp (đi nhiều quốc gia, công bố quốc tế, đa phần họ tiếp tục nghiên cứu, dạy Đại học và dĩ nhiên, tiếng Anh là ngôn ngữ thường ngày dù Pháp ngữ là tiếng mẹ của họ)

Hơn nữa, cũng cần nhấn mạnh trên một chi tiết : các nhân vật kể trên là những người đã “đấu tranh” để được các thành quả ấy. Chứ ở các nước Âu Mỹ, khó mà cậy trên tiên bạc hay thế lực của cha mẹ. Cũng không có ai …làm cỗ cho họ xơi. Trái lại họ phải lo xin học bổng hay xin việc làm.

Cuối cùng, cả ba Tiến sĩ trên đều là những người rất tự lập.

Nguyễn Huỳnh Mai

Nói dối trong đời sống và trên chính trường.

Mensonge dans la vie courante et mensonge en politique – un vieil article “recyclé”.

Thời sự hiện có nhiều chuyện nói dối, xin đăng lại một bài cũ

.

Bài này đã đăng ở đây:

http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/noi-doi-trong-doi-song-va-tren-chinh-truong-nhin-tu-xa-hoi-hoc

.

Trong chúng ta ai cũng là người nói dối và nói dối rất giỏi. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy là trung bình ta nói dối hai lần rưởi mỗi ngày (dẫn bởi tác giả Claudine Biland (1). Nói dối thành bình thường.

.

Nói dối là một hiện tượng cần thiết cho liên hệ xã hội

Gặp người khác ngoài ngõ buổi sáng, có khi ta đã phải nói dối rồi khi khen họ mặc đẹp hay có cái ví sang trọng chẳng hạn.

Ông bà ta vẫn bảo «Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau».

Có những sự thật không cần phải nói vì nói ra thì rất khó nghe.

Có những lời xã giao cần thiết dù không thật tình.

Nhiều trường hợp nói dối được chấp nhận:

Bác sĩ là người có thể nói dối người bệnh, để họ không mất hi vọng, để họ tiếp tục bám víu vào cuộc sống và phấn đấu để lành bệnh dù khi hi vọng còn rất mõng manh.

Thầy giáo cũng lắm khi nói dối, để khen học trò và để khuyến khích chúng tiếp tục cố gắng.

Trong quá khứ, nói dối khi giấu người Do thái trốn trong nhà để họ không bị Đức quốc xã bắt đi trại tập trung và trại diệt chũng.

.

Trẻ có biết nói dối hay không ? Rất sớm trẻ biết … đóng kịch và giả dối  – ở đây có thể chưa là nói dối vì trẻ chưa biết nói – để được tình thương của cha mẹ, được săn sóc, ôm ấp nhiều hơn. Sau đó, theo quan sát và kinh nghiệm sống với bối cảnh gia đình, trẻ có thể sẽ chọn nói dối để không bị phạt, để được thưởng, hay chỉ để bảo vệ cái riêng tư của mình, một loại vườn bí mật mà ngay tới cha mẹ cũng không có quyền xâm nhập hay kiểm soát (2) (3).

Trên chính trường, nói dối là một môn …thể thao mà nhiều người dùng tới. Nói dối để tranh công, chối tội, đổ lỗi, thanh minh… Tùy thời điểm, mùa bầu cử chẳng hạn, nói dối rộ lên, các ứng viên thi nhau nói dối để quyến rũ cử tri, để được nhiều phiếu…

Người quản lý quốc gia có nhiều chiến lược để nói dối và để biện hộ cho nói dối.

Không biết, chưa được báo cáo  là chiến lược thường được dùng.

Họ nói dối khi chỉ nói một cách chung chung. «Ngôn từ,  ngôn từ và còn ngôn từ nữa» để không nói gì hết mà lấp đầy khoảng trống các diễn văn.

«Không giảm ngân sách cho bảo hiểm xã hội nhưng chỉ kiểm soát những chi tiêu của ngân quĩ này».

«Sẽ bớt thất nghiệp bằng cách nâng cao giá trị đào tạo».

« Bảo vệ tỉ giá của đồng tiền để chống lạm phát».

Dân tình cần nghe những điều đó và nhiều khi không đủ sáng suốt để nhận thấy những ngôn từ rổng nghĩa.

Như thế chính trị gia nói dối cốt để bảo vệ quyền tự do quyết định phương thức hành động, cách quản lý sau đó hay để trốn trách nhiệm,…

Nhiều khi họ nói dối bằng cách không đề cập tới, tránh nói đến những điều cấm kỵ. Bán vũ khí là một hành động cần giấu kỹ.

Không,  ta chỉ hổ trợ về quân sự cho nước A hay nước B.

Như vậy để danh chính ngôn thuận trên bình diện đạo đức. Đồng thời, việc bán vũ khí mang lại nhiều lợi nhuận cho nước nhà, hay cho một bè nhóm.

Có lúc họ phải nói dối vì quyền lợi tối thượng của đất nước. Những khi có khủng hoảng, dù là khủng hoảng kinh tế hay khủng hoảng chính trị, khủng hoảng truyền thông… Trấn an dân tình là bổn phận của chính trị gia, Vì nếu không tình trạng sẽ  trầm trọng hơn.

Trong các chiến tranh, dù có thua hay thắng, không bên nào cho biết con số «thật» của những mất mát hay thương vong.

Ngoài ra, khi dư luận có khám phá ra những «bất thường», các chính trị gia lại nói dối thêm bằng cách chối, cho tới chừng nào không chối được nữa (chưa nghe, không biết, chưa có báo cáo) . Ai có tố cáo thì phải mang bằng chứng. Có người chối giỏi đến nổi đối phương tin như thật hay sau cùng  nản chí, bỏ cuộc, không tiếp tục đi tìm chứng cớ (4).

.

Kết luận

Xã hội phân biệt hai loại nói dối. Nói dối với mục đích lừa gạt người khác để mưu cầu lợi ích cá nhân hay lợi ích của một nhóm và nói dối vì một mục đích cao cả.

Con người sống trong xã hội, xã tắc cần được gìn giữ. Thông thường, ta kết án nói dối ích kỷ để bảo vệ cấu trúc, sinh hoạt và sự trường tồn của xã hội, tức là bảo vệ số đông.Trái lại, ta chấp nhận nói dối vị tha.

Nguyễn Huỳnh Mai

—-

. (1) Biland Cl., Psychologie du menteur, NXB Odile Jacob, 2004.

.(2) https://huynhmai.org/2014/03/19/tre-biet-dong-kich-va-khoc-gia-tu-trong-noi/

. (3) Castro D., Petits silences, petits mensonges
. Le jardin secret 
de l’enfant
. NXB Albin Michel, 2012,

. (4) Charaudeau P., Về các diễn văn chính trị, có thể đọc được ở đây:

http://www.youscribe.com/catalogue/rapports-et-theses/savoirs/sciences-humaines-et-sociales/le-discours-politique-ou-le-pouvoir-du-langage-304525

Những người bị bỏ quên của giấc mộng Mỹ quốc

Compte rendu du livre – Điểm sách:

Duvoux N., Les oubliés du rêve américain. Philanthropie, État et pauvreté urbaine aux États-Unis, Presses universitaires de France, coll. « le lien social », 2015, 310 p

Bìa sách…hình lấy từ trang giới thiệu của nhà xuất bản

.

Lời nói đầu

Trước khi đi vào quyển sách xin có ba lời … giáo đầu tuồng

. Điều tra xã hội học hay xã hội nhân chủng học, cho quyển sách này, vô cùng quan trọng. Những nghiên cứu thực địa như thế cho ta những dữ kiện tin được, có phương pháp vững chắc và có chứng cớ, chứ không chỉ là nhận xét hay ý kiến của một cá nhân – dù cho cá nhân ấy là một nhà bác học.

. Đi du học, đi định cư ở nước ngoài, nhất là ở Mỹ, là giấc mơ của nhiều người, trong đó có người Việt Nam. Tôi không có ý bôi đen bức tranh cuộc sống ở Mỹ. Vài người di dân thành công tốt, họ thành tỉ phú  hay có địa vị quan trọng ở Mỹ. Đại đa số sống được – họ trở thành dân middle class yên tĩnh – Nhưng cũng có một số khác thì mòn mỏi sống lê, trong một xã hội giàu.

. Nicolas Duvoux là giáo sư Xã hội học ở Đại học Paris 8. Còn rất trẻ – ông sinh năm 1980 – Các nghiên cứu của ông nhắm vào giới người nghèo, được cứu trợ xã hội tiếp sức, …

Cho công trình này, ông đã “lợi dụng”  tư cách là học giả ghé thăm (hay được mời), visiting scholar, của ĐH Harvard.

Thế là Nicolas Duvoux đi điều tra theo kiểu nhân xã hội học, quan sát sinh hoạt của các t̉ổ chức từ thiện ở những khu phố nghèo của thành phố Boston và phỏng vấn sâu dân cư trong các ghetto ấy.

Cái đặc sắc của Duvoux là nêu lên được những liên hệ giữa ba “tác nhân” hay “diễn viên” của hiện tượng: các cơ quan từ thiện, chính phủ và tình trạng nghèo ở các thành phố xứ Mỹ. 

Phương pháp cùa ông Nicolas Duvoux

Bài đang viết – còn tiếp