Skip to content

Cây quýt kiểng đơm bông

Những hoa nhỏ,  đâm trên chồi của mùa hè năm trước …

Marcel, một ông bạn thâm niên cũng cao tuổi như chúng tôi, mang tặng chúng tôi một cây quýt kiểng cách đây hơn một năm.

https://huynhmai.org/2017/01/01/cay-quyt-kieng-ngay-dau-nam/

Chúng tôi chăm sóc cây từ đó. Khi trời ấm thì mang cả chậu ra hiên tắm nắng, mùa đông lại mang vào nhà,… Hiện cây đang đơm hoa, hứa hẹn một mùa đầy quả…

 

Advertisements

Vượt qua thảm trạng và tái cấu trúc

Dépasser les Traumatismes et Résilience

Một bài cũ, viết từ hơn bốn năm trước đây.

Dẫn nhập

12 công nhân vụ sập hầm thủy điện Đạ Dâng-Đạ Chomo được cứu sống. Hạnh phúc đó không có gì sánh bằng. Nhưng 80 giờ chờ đợi trước khi được cứu là một chấn động lớn có thể để lại những vết tích khó xóa mờ, khó quên.

Hiện các nạn nhân được săn sóc tận tình. Nhưng họ còn cần được theo dỏi trong nhiều năm nữa, theo ý kiến của các nhà tâm thần.

Trong một chừng mực có thể nhẹ hơn, nhưng những người được cứu sống sau một tai nạn, đám cháy hay những nạn nhân của bạo hành, hãm hiếp, … cũng bị những chocs, những chấn thương – vừa thể xác vừa tâm lý – Họ cần được giúp đở. Khoa tâm lý thần kinh học có thể giúp họ.

Một phiên bản ngắn gọn của bài này đã lên trang Dân Trí, ngày 29/11/2013

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/vuot-qua-tham-trang-va-tai-cau-truc-808857.htm

Trong hoàn cảnh đặc biệt kỳ diệu của cứu nạn thành công ở Lâm Đồng, xin đăng lại đây, với vài khai triển, gọi là góp thêm phần cho vấn đề thời sự và để kêu gọi tiếp tục bảo vệ những nạn nhân chấn động, tất cả những nạn nhân.

Thảm trạng và tái cấu trúc ?

Con người là một con vật biết suy nghĩ, có khả năng trí tuệ và có trí nhớ. Nhưng chính những khả năng này làm cho con người, trong thiên nhiên, «mỏng manh» hơn các thú vật: tâm lý con người dễ bị thương tổn và các chấn động có thể là những vết thương khó lành.

.

Chấn động, chấn thương (choc hay traumatisme tiếng Pháp) là những hiện tượng bất ngờ về cường độ cũng như về tính cách mà một cá nhân có thể phải trực diện trong đời sống. Chữ «trực diện» quan trọng vì phản ứng của mỗi cá nhân khác nhau trước chấn động. Có người rất dễ bị thương tổn. Có người thì chịu đựng giỏi hơn. Ở đây, thảm trạng là tiếng được dùng để chỉ chung những hiện tượng đó.

Sau thảm trạng, khả năng phục hồi lối sống bình thường, khái niệm tái cấu trúc cho bản thân và tái lập liên hệ xã hội, rất cần cho một cá nhân vừa bị chấn động để «quên» chấn động, chữa lành vết thương và tiếp tục sống.

Một cái tang (mất đi một người thân, một chỗ dựa, như chính một phần của thân thể ta), một biến cố thiên nhiên (động đất, sóng thần – như thời sự gần đây cho ta thấy với hàng trăm hay hàng ngàn nạn nhân), một tai nạn nghiêm trọng, một biến cố lịch sử (thí dụ nạn diệt chủng Do thái của Đức quốc xã hồi Thế chiến thứ II)… trong đó ta phải trực diện với cái chết, hoặc khi chính ta là nạn nhân của bạo lực, nhất là bạo lực giới tính, bạo lực đối với trẻ em… những thảm trạng ấy làm thương tổn và khó quên.

Hậu quả nhẹ là chứng sợ hải vô cớ, chứng mất ngủ, trầm cảm, không còn nghị lực để làm việc.

Nặng hơn là cách sống cô lập, không cưới vợ lấy chồng, không đi làm, sống ngoài lề xã hội.

Và cuối cùng là rơi vào các chứng nghiện – rượu, ma túy, thuốc, – và phạm tội vì không còn biết tuân thủ luật lệ hay tôn trọnh tha nhân .

Hai bà Emmy Werner Ruth Smith, tâm lý gia người Mỹ, từ đầu thập niên 1950 đến năm 1982 đã theo dõi, ở Hawaï, 700 trẻ em bị bỏ rơi, đã không được đi học, lại là nạn nhân của bạo lực thể xác và giới tính. Ba mươi năm sau, nhóm trẻ này, phần đông, trở thành người lớn không phương hướng, một loại “thân tàn ma dại”, sống lê, hết tin tưởng ở mình và mất tin cậy nơi người đối diện. Thế nhưng, lạ lùng là 28% trong số họ đã học được một nghề, lập gia đình và không bị bệnh tâm lý nặng mà có thể sống gần như là bình thường.

Chính những người thoát khỏi “định mệnh” này đã giúp hai bà xác định được những phương thức của sự vượt qua số phận cùng cực. Bà Werner và bà Smith cho ra đời khái niệm “tái cấu trúc tâm lý bị thương tổn sau thảm trạng” để chỉ những trường hợp, mặc dù vô vàn khó khăn khổ sở, một số người có thể khắc phục được và sống bình thường sau đó.

Những người này sở dĩ đã vượt lên thảm trạng là nhờ có khả năng bấu víu vào, nhờ tình cờ của cuộc sống, trong một thời điểm nào đó, nhờ có một bàn tay hiền lành cứu trợ (một cha sở nhà thờ, một cán sự xã hội, một nhà báo, một nhiếp ảnh gia, một người láng giềng…) hay nhờ một sự kiện bất ngờ (được khẩn cứu nơi một bệnh viện và được sự tận tình của nhân viên bệnh viện sau đó)…

Danh sách những cấu thành giúp tái cấu trúc rất dài, một cách sơ lược ta có thể kể:

. những khả năng nội tại của mỗi cá nhân: trí thông minh, biết tự trọng, khả năng có thể thân thiện với người chung quanh, biết khôi hài…

. nền tảng đã hấp thụ được của gia đình nguyên thủy, nếu có, lúc trước đó.

. sự giúp đỡ của xã hội, môi trường sống của một lúc nào đó (một người lớn tận tình hảo tâm, một cha đạo, một giáo viên hay một cán sự xã hội… như đã nói ở trên)

Nếu tất cả hay đa số các yếu tố này cùng tác động thì sự tái cấu trúc sẽ hoàn hảo hơn.

Nhưng các nhà tâm lý học nghiên cứu về vấn đề này đều thống nhất ở một điểm : chính nạn nhân của những thảm trạng phải tự cứu mình – có cái ý chí và nghị lực muốn thoát thảm trạng – thì “vết thương” mới lành hẳn, không sợ một ngày nào đó lại rướm máu. Môi trường xã hội là tối cần thiết – nhưng chỉ là phương tiện – hay là điều kiện cần chứ chưa đủ – .

.

Phải chữa thảm trạng. Nếu không thảm trạng có thể tiếp tục qua thế hệ con cái.

Một nghiên cứu gần đây (Jonathan Seckl và cộng sự) theo dõi trường hợp của 170 phụ nữ mang thai, nạn nhân những chấn động mạnh trước đó. Những bà mẹ này đã cho ra đời những trẻ nhẹ cân hơn trọng lượng trẻ sơ sinh bình thường (có khi nhẹ hơn đến gần 50%), vòng đầu cũng nhỏ hơn (kém hơn 24%). Vùng trán và vùng limbic của não các cháu bé, qua scanner, cho thấy là kém phát triển.

Nhưng sau đó, một môi trường sống an toàn và thích ứng tốt nhất đã giúp các bé phát triển các mạch điện não cần thiết cho cảm xúc, trí nhớ và khả năng tiếp cận (cũng qua scanner não bộ mà các nhà nghiên cứu đã kiểm chứng).

Mặt khác, các nhà tâm thần học cũng thống nhất rằng khó khăn của cuộc sống lúc trưởng thành thường có nguồn gốc trong quá khứ, của thời niên thiếu. Chứng kiến bạo hành giữa cha mẹ lúc thơ ấu, nạn nhân của bạo hành khi còn trẻ, một sự nghèo khổ cùng cực trong nhiều năm, … Não bộ ghi nhận hết những biến cố của cuộc sống và lập thành một loại … hồ sơ lưu trử chỉ chờ dịp để … xuất hiện.

Mất ngủ kinh niên, lãnh cảm nơi phụ nữ, bạo lực của một số người, …là những biểu hiệu thường gặp mà nguồn gốc cần nghiên cứu.

Không được giúp đở, những trường hợp vượt khó để thành công là những trường hợp ngoại lệ, hiếm hoi. Giá trị sống không còn được bảo vệ.

.

Tự lèo lái vượt qua thảm trạng ?

Trở về thảm trạng, ta có thể kể thí dụ của chính cá nhân ông Boris Cyrulnik, một bác sĩ tâm thần nổi tiếng, vốn là người Do thái sống sót sau chiến tranh diệt chủng. Ông cũng đã phân tích sự tái cấu trúc tâm lý sau chấn động, một quá trình dài và phức tạp nhưng một cách tích cực ông gọi đó là “nghệ thuật lèo lái qua các thác nước đổ ào ào”.

Ông kể chuyện của những người sống sót sau nạn Holocaust (lò thiêu diệt chủng của Đức quốc xã), những trẻ đường phố, những trẻ bị bạo hành… và cho tất cả các trường hợp này, nếu được những người giúp tái cấu trúc, như những bà tiên hiền lành ra tay cứu độ, hay nói đúng hơn những điểm tựa giúp người bị chấn thương dựa vào đó để không bị cuốn theo lốc, để hướng lên, để hiểu những khó khăn của mình, từ từ tự tìm cách băng lành các vết thương tâm lý và để cuối cùng mĩm cười nói, như ông Cyrulnik, rằng tôi đã trải qua “một bất hạnh kỳ diệu” – bất hạnh thật vì đã rất khó khăn khổ sở, nhưng kỳ diệu vì tôi đã vượt qua được và sống an bình sau đó.

Nguyễn Huỳnh Mai

Sách và tài liệu tham khảo:

Cyrulnik B., Un merveilleux malheur, NXB Odile Jacob, 1999.

Lecomte J., Guérir de son enfance. NXB Odile Jacob, 2004.

Seckl J. & al., Vulnerable phenotypes for stress-related mental disorders focus on glucocorticoids. Chương trình EuroStress 437, 2011 (chưa xuất bản).

Tisseron S., La résilience. NXB Presses Universitaires de France, 2007.

Werner E. và Smith R., Journeys from Childhood to Midlife: Risk, Resilience, and Recovery. NXB Cornell Univ. Press, 2001.

Đi xe lửa ?

Nhìn người phụ nữ này,  tôi nhớ chuyện đọc thấy trên  https://chuyenbangquo.com/      về bà hành khách ngồi bên cạnh tác giả, trên xe lửa, với đồ đạc lĩnh kĩnh choán nhiều chỗ

Xe lửa cũng là nơi được phục vụ những thức ăn nhẹ, tùy hành trình

Còn nhà ga ?

là nơi để quan sát người qua kẻ lại

Nam thanh nữ tú, …

chốn đông người

Cũng là nơi để nghe đàn, trộn lẫn với tiếng đài báo các xe sắp chuyển bánh – khó nghe – nhưng có nhạc còn hơn không …

Các thi sĩ bảo rằng mỗi chuyến đi là một biệt ly, là … chết trong lòng một ít. Với tôi, mỗi chuyến đi là một hành trình đẹp  với những hình ảnh đẹp … ở đây, sườn mái nhà ga này bằng sắt – kiến trúc của thế kỷ thứ XIX,  kts Jacques Hittorff

Nguyễn Huỳnh Mai – ảnh và chú thích

Một mai thiếp có xa chàng …

Si jamais je devais me séparer de toi,     Je te rendrais les boucles d’oreilles et je te demanderais de me laisser notre enfant.

IMG_2441

Một đôi bông tai

Một mai thiếp có xa chàng/ Đôi bông thiếp trả, con chàng thiếp xin.

Hai câu ca dao ngắn gọn nhưng đủ nói lên tập tục quà cưới và nổi lòng của người mẹ đối với đứa con – dù đứa con được xem là … con của chồng, hay của nhà chổng – con chàng, thiếp xin.

Bên ta, ngày xưa không có tập tục tặng nhẩn cưới nhưng trong số đồ sính lễ, bao giờ cũng có đôi bông tai. Nếu vì một lý do nảo đó, hôn nhân không tiếp tục được, người phụ nữ trong câu ca dao sẳn sàng trả lại sính lễ nhưng xin được giữ đứa con mà bà đã mang nặng đẻ đau.

.

Các con tôi vẫn đòi tôi chép ra giấy những tục ngữ ca dao Việt Nam. Chúng sợ ngày nào mẹ chúng lìa đời thì chúng sẽ mất đi … một “nguồn” văn hóa Việt Nam. Thời của internet, đi tìm trên mạng thì có đầy những ca dao tục ngữ ấy nhưng không mấy khi các nguồn này cho những giải thích như mẹ của chúng !

 

Nguyễn Huỳnh Mai

Liên hệ giữa cha mẹ và con. Vài mấu thời gian quan trọng

Vụ trao nhầm con ở Ba vì, hồi chót, hai cháu đã về nhà cha mẹ đẻ

http://dantri.com.vn/doi-song/vu-trao-nham-con-o-ba-vi-dem-dau-tien-cua-hai-dua-tre-20180720102653904.htm

Chuyện ruột thịt và nuôi dưỡng nhiều người đã bàn, Nói đúng ra thì trong vấn đề liên hệ giữa cha mẹ và con cái có lẽ phải phân biệt :

. liên hệ huyết thống gồm liên hệ di truyền và liên hệ lúc mang thai của bà mẹ

(nhờ người mang thai hộ, dù là do trứng và tinh trùng của cha mẹ đi nữa thì cũng có thể có những khó khăn vì hiện khoa học đã chứng minh là trẻ có trí nhớ lúc còn trong bụng mẹ)

. liên hệ nuôi dưỡng

Thông thường cha mẹ truyền cho con vốn di truyền, cái gen của mình, tự mang thai con và sau đó nuôi dưỡng con.

Thế nhưng cũng có những trường hợp, con nuôi, cha dượng, mẹ kế, … giữa cha mẹ và con cái không có đủ các liên hệ vừa di truyền, thai nhi và nuôi dưỡng mà chỉ có một hay hai liên hệ vừa kể .

Trong liên hệ nuôi dưỡng ta còn có thể chia ra từng giai đoạn tùy theo tuổi của trẻ với những đặc thù khác nhau có thể có ảnh hưởng đến hạnh phúc của trẻ

. trước 6 tháng

. sau 6 tháng đến 3 tuổi

. từ 3 đến 6 tuổi

. sau 6 tuổi

Mỗi mốc thời gian có những điều quan trọng khác nhau. Đúng ra thì vấn đề này được bàn đến ở trời Âu không vì những vụ trao nhầm con mà vì thiên hạ chú tâm đến vấn đề con nuôi, hay để mang các cháu đi nhà trẻ. Li dị và tái hôn của cha mẹ cũng bắt trẻ chịu những xáo trộn trong các liên hệ nuôi dưỡng.

Thông thường, trước 6 tháng tuổi, việc thay đổi những gương mặt chăm sóc cho trẻ ít có vấn đề đối với chúng. Chúng còn ở giai đoạn bú no rồi ngủ. Vài ngày, tối đa là một tuần, trẻ sẽ quen và quên … quá khứ để chấp nhận thay đổi.

Sau 6 tháng, nhất là lúc 8 tháng, trẻ sợ người lạ mặt. 6 tháng đến 3 tuổi lại là thời điểm của học nói nên một thay đổi trong lúc này có thể ảnh hưởng lên quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ. Nhưng tựu chung về tâm lý, trẻ chưa có một quá khứ dài lâu với những người săn sóc chúng trước đó nên những thay đổi, nếu có, cũng không phải là một biến động đối với chúng.

Từ 3 đến 6 tuổi, thời điểm của tự định nghĩa mình theo mẫu của cha mẹ. Đây là lúc trẻ mõng manh nhất. Nếu có sự thay đổi thì trẻ có thể sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Hình ảnh cha mẹ là những điểm tựa vô cùng quan trọng đối với trẻ vào lúc này.

Trẻ bị bỏ rơi và được đón làm con nuôi trong thời điểm từ 3 đến 6 tuổi thường khổ sở, như có một cái gì tan vở khó hàn gắn đối với chúng. Thậm chí trong việc có thêm thành viên mới trong gia đình giữa thời điểm này cũng cần chuẩn bị tâm lý trẻ kỹ càng để trẻ không có cảm tưởng bị thay thế hay mất tình yêu của cha mẹ.

Sau 6 tuổi, bản thể trẻ đã vững vàng hơn, trẻ đủ “khôn lớn” để hiểu chuyện và hòa mình vào khung cảnh mới nếu có thay đổi trong lúc này. Chúng chấp nhận dễ dàng hơn các biến cố, các giải thích, … nếu có.

Các nhà tâm lý cũng khuyên các cha mẹ nuôi nên chờ đến thời điểm này để kể cho trẻ nghe về nguồn gốc của chúng, nhất là trong các trường hợp trẻ đến từ một quốc gia khác. Chúng sẽ có khuynh hướng tìm về cội nguồn, nhưng đó là một khuynh hướng tích cực, không làm cho chúng bị khủng hoảng.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Về bảng xếp hạng các Đại học của Leiden

Nguyên văn bài dưới đây đã lên trang từ 2014, hôm nay xin đăng lại với cập nhật của bảng xếp hạng của Leiden 2018

http://www.leidenranking.com/ranking/2018/list

trong đó không có nhiều thay đổi,

Top 10 vẫn gồm

. 7 ĐH Mỹ  (Harvard, Stanford, Michigan, MIT, John Hopskin, Berkeley, Washington)

. 2 ĐH Anh (Oxford và University College of London hạng 5 và 9)

.  1 ĐH Canada (Toronto hạng  3)

Bỉ, một nước nhỏ, chỉ với 10  triệu dân, có hai ĐH vào top 55 :  ĐH Công giáo Leuven hạng 36  và ĐH Ghent hạng 55.

……..

 

Có nhiều bảng xếp hạng các Đại học, trong đó bảng của Đại học Giao thông Thượng Hải và bảng của Times Higher Education là hai bảng thường được trích dẫn nhất.Tôi thích bảng xếp hạng của Leiden vì nó chỉ dựa trên những công bố khoa học. Nếu phải dựa trên những giải Nobel hay truyền thống lâu đời của các Đại học thì Đại học Việt Nam khó mà chen chân …

Đại học Leiden vừa công bố bảng xếp hạng 2014 các Đại học thế giới.

http://www.universityrankings.ch/results?ranking=Leiden&region=World&year=2014&q=

từ đó xin ghi vội vài điều về khả năng các trường Đại học Việt Nam có mặt trong top 500 toàn cầu cho vài năm tới.

.

Trong top 500 của bảng xếp hạng này, có 7 trong 12 Đại học Bỉ. Đại học Liège là Đại học đứng hạng 288 dù rằng đối với tôi, đó là nơi tôi đã học, làm việc, yêu thương … từ mấy chục năm qua.

1. Ta không thể phủ nhận giá trị của bảng xếp hạng. Tuy là cách xếp hạng này không cho ta giá trị tổng thể của các Đại học. Ít nhất, cách xếp hạng này khá trung thực và khách quan với các chỉ tiêu mà họ dùng. Các chỉ tiêu này là :

Chỉ số trích dẫn trung bình

Chỉ số trích dẫn trung bình chuẩn hoá

Tỉ lệ 10% cao nhất của các bài báo so với các ấn phẩm tương tự trên thế giới

Dựa trên chỉ tiêu số bài báo công bố và số trích dẫn tức là trực tiếp đánh giá sự góp phần của một Đại học trong quá trình nghiên cứu tìm tòi và khám phá khoa học, làm giàu cho khoa học. Có ảnh hưởng đến khoa học thế giới nói chung. Đó là khái niệm «tác động» – impact-

2. Đại học ở Việt Nam nói chung còn ở giai đoạn truyền kiến thức khoa học (và chưa truyền tốt ), chứ chưa tích cực đi vào nghiên cứu, chưa công bố nhiều, chưa có tác động đến khoa học toàn cầu … Chính vì thế nên còn cần nhiều thời gian để có thể có vị trí cao trong một bảng xếp hạng quốc tế theo các tiêu chỉ này.

Muốn đi tới nghiên cứu, trước nhất phải nắm vững vốn liếng hiểu biết khoa học hiện thời. Tức là các Đại học phải dạy tốt, thật tốt để «cho ra lò» một số sinh viên vững vàng và hăng say đi vào nghiên cứu xa và sâu hơn. Phải từ bỏ cách «đọc chép» và «chép dán» vì đó là những khuôn mẫu ràng buộc (cách học của thời lều chõng ngày xưa, trung thành tuyệt đối với sách dạy của thánh hiền), không cho phép bật nẩy sáng tạo tự tin, đó là chưa nói tới vấn đề đạo đức tôn trọng sở hữu trí tuệ trong việc chép dán !

3. Mặc dù vậy, cũng xin nhân cơ hội này, xướng lên những chủ đề có thể là những «mỏ vàng» cho nghiên cứu, trong lĩnh vực khoa học xã hội, gần xa với chuyên môn của tôi.

. Tâm linh người Việt trong quá trình toàn cầu hóa, từ Khổng Phật giáo qua chủ nghĩa xã hội và qua kinh tế thị trường .

. Văn hóa nông dân và sự đô thị hoá

. Cấu trúc xã hội, quá khứ, hiện trạng, chiều hướng tương lai qua các tiêu chỉ như lợi tức, quen biết xã hội, gia đình, bằng cấp, nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính

. Cấu trúc và sinh hoạt của gia đình ở Việt Nam, từ gia đình cội rể đến gia đình hạt nhân.

. Vị trí của người phụ nữ trong xã hội, từ truyền thống, qua chiến tranh và trong kinh tế thị trường.

Và còn nhiều đề tài nữa.

Việt Nam là một phòng thí nghiệm lớn cho xã hội học. Nắm cơ hội, ta có thể góp phần tích cực cho khoa học này cho thế giới. Muốn vậy, ta phải ngưng suy nghĩ rằng xã hội học chỉ nằm gọn trong lý thuyết Mác Lê hay giao nghiên cứu xã hội học cho những người không chuyên môn. Hiện tình xã hội học trong nước, so với xã hội học Âu Tây, ta cần vùng lên để bắt kịp đà tiến triển hầu có thể gây impact cho toàn cầu.

4. Đồng thời với xã hội học, tôi tin rằng các chuyên gia của các ngành khác cũng có rất nhiều ý tưởng cho các nghiên cứu có thể góp phần tích cực cho cơ ngơi khoa học toàn cầu. Đẩy mạnh nghiên cứu sâu sắc, đăng trình các nghiên cứu đó, chúng ta sẽ sánh vai cùng với các Đại học trên thế giới.

5. Trong dấu ngoặc và để khôi hài một tí, nếu với hơn 4100 Đại học như ở Mỹ mà chỉ có 127 vào top 500 thì không hẳn là một thành quả vĩ đại (xin lỗi, họ vĩ đại không ở số lượng mà ở chất lượng, chỉ có 127 trong 4100 Đại học Mỹ lọt vào top 500 nhưng họ chiếm gần hết các vị trí đầu bảng ! ).

Điều nói đùa chơi này để một lần nữa lập lại : xếp hạng Đại học là một chuyện, nhưng chuyện chính vẫn là kiểm định, đánh giá Đại học để Đại học thực thi tốt sứ mạng của mình, giúp cho giới trẻ đi sống vào thế kỉ XXI với tri thức, biết suy nghĩ, biết hành động tử tế.

Việc phát triển Đại học, cũng như việc cải tổ cả nền giáo dục nói chung, cũng xin nhắc lại, là điều kiện tối cần thiết cho phát triển bền vững. Từ hai mươi năm nay, chúng ta đã phát triển, rất tốt, nhưng đa phần là bán đất đai, nông sản, tài nguyên thô, vật dụng sản xuất không cần chuyên môn, … Đất đai có giới hạn, tài nguyên có ngày cũng sẽ cạn, đó là chưa nói đến những khai thác vội vàng làm ô nhiểm môi trường, … Đã đến lúc ta cần ngồi lại xem phải tiếp tục phát triển bền vững như thế nào trong 30, 50 năm tới hầu mang no ấm và chất lượng sống cho toàn dân và cho những thế hệ con cháu ta.

Tôi không duy tâm linh, không nói «muốn là được», nhưng đầu năm, ta thường tự đưa ra những phấn đấu để năm này tốt hơn năm trước. Biết đâu lần này cải tổ giáo dục sẽ thành công.

Nguyễn Huỳnh Mai

Addendum

Về đánh giá và xếp hạng Đại học, có thể xem thêm ở đây, hai bài đăng trên Dân Trí từ năm 2011

http://dantri.com.vn/dien-dan/cuoc-chay-dua-xep-hang-cac-dai-hoc-542869.htm

http://dantri.com.vn/dien-dan/tra-loi-nhung-cau-hoi-cu-the-ve-danh-gia-dai-hoc-543661.htm

Nhạc sĩ đường phố – hay một cách xin tiền ở Pháp

Hình chụp ở Dijon. Ở góc trái của hình là cái hộp đàn để mở, người qua đường có thể cho tiền vào đó. Nếu phóng to hình, ta sẽ thấy ở cái hộp có cả các tờ giấy bạc 20 euros

Người nghèo ở đâu cũng có. Người đi ăn xin cũng thế. Dù hệ thống bảo hiểm xã hội tốt.

Ở châu Âu, một trong những hình thức xin tiền là chơi nhạc bên hè, vừa làm đẹp thành phố – đẹp bằng nghệ thuật – vừa bảo đảm tự trong cho người … ăn xin : ở đây họ cống hiến một dịch vụ để đổi lấy tiền chứ không xin bố thí. Và họ có giấy phép hành nghề đàng hoàng.

Dĩ nhiên, nói đi thì cũng phải nói lại. Bên ta cũng có những người “bán” các vật dụng nhỏ gọn và chờ đợi khách qua đường vừa mua vừa tặng thêm tiền. 

Nguyễn Huỳnh Mai – ảnh và chú thích