Skip to content

Saigon, le trajet des larmes

 

Si vous avez un peu de temps, brossez ces deux liens pour avoir quelques flashs du spectacle

http://www.festival-avignon.com/fr/spectacles/2017/saigon

https://www.mc2grenoble.fr/spectacle/saigon/

Saigon, c’est le nom de la pièce, écrite et mise en scène par Caroline Guiela Nguyen. Tout se passe en deux temps 1956 et 1996. Mais beaucoup de choses se mêlent entre ces deux repères chronologiques.

D’abord, la fin de la guerre d’Indochine. Pour, enfin, le retour de Hào au Vietnam là où il est plus étranger que les étrangers – il ne conprend même plus la langue parlée.

La grande histoire de 1956 avec Dien Biên Phu le retrait des soldats français on le sait. Mais ce qu’on sait moins c’est le retour non glorieux des anciens soldats français. Ou encore l’émigration de certains vietnamiens (ceux qui sont arrachés à leur terre natale en laissant sur place un ou une amoureux(se) parfois). Ceux-ci  deviennent des viet kieu (vietnamiens de l’étranger) avec la nécessité de survie dans le pays d’accueil – ouvrir un restaurant devient le formule adopté par certains.

Et ce restaurant vietnamien qui  est la scène des trajets de larmes, de mal être de toutes les natures, du passé qu’on ne parvient pas à enterrer et cela se transmet à la génération suivante: Ceux de cette génération là grandissent en France mais continuent à vivre avec les fantômes du Việt Nam comme si 1956 et 1996 se conjuguent au présent.

D’ailleurs la pièce passe presque d’un repère chronologique à l’autre, du ViệtNam à quelque part en France, à Paris. Tantôt en français tantôt en vietnamien – les cris du coeur s’expriment mieux en langue maternelle –.

Pour les spectateurs francophone, le surtitrage dépanne.

Un point immuable pourtant: Marie Antoinette, la restauratrice, qui s’active dans son arrière cuisine. Encore que elle n’est pas simple spectatrice des événements: elle aussi, elle a perdu un fils dans la guerre, on ne sait pas où, quelque part en France ou sur le bateau qui l’a amené vers la France.

Sinon, c’est l’histoire d’Edouard, de l’armée en déroute qui en 1956 doit rentrer en France avec son amoureuse Thúy. Antoine, leur enfant, quarante ans après vit avec sa mère, une veuve qui aime son enfant, un peu envahissante, comme le cas de beaucoup de mères vietnamiennes

C’est aussi l’histoire de Hào qui a dû quitter Mai pour s’êmigrer vers la France. La fin de la guerre d’Indochine crée des répercussions sur des simples gens que la grande histoire ignore. Hào s’est ensuite marié presque malgré lui. il a une fille mais reste quelque part inconsolable – la nostalgie du pays ou la nostalgie du premier amour?

Les français d’Indochine, même rentrés au pays restent hantés par l’expérience indochinoise… Ceux là, personne ne se soucie d’eux non plus.

Ce sont, après tout, des histoires banales mais ici, la beauté c’est le langage de l’intime.

La passivité de Lam, l’aide cuisinière et narratrice de temps en temps. La quasi violence du soldat français le jour où l’armée coloniale doit s’évacuer, la fierté de Hào qui refuse de l’aide. Cette fierté se retrouve, quarante ans plus tard, chez des jeunes vietnamiens à qui Hào, devenu việt kiều, de retour au pays, voulait donner de l’argent.

Pour traduire de l’intime en langage théâtral, la metteuse en scène mise sur le détail, peu de mot mais rien n’est oublié par exemple déjà la taille des acteurs, l’expression du visage, la langue fait beacoup aussi, à commencer par l’accent – la restauratrice a un accent franco-vietnamien typique.

Les cris, les plaintes en việtnamien, même surtitrés, ont un poids tout autre avec sa musicalité et son effet de surprise.

Sinon, la scène donne une vision panoramique où rien ne manque: l’arrière cuisine de Marie Antoinette, le comptoir, son frigo – avec des noix de coco fraiches dedans – les tables, les chaises, les fleurs en plastique et les néons fluo. Ces néons qui éclairent l’estrade pour le karaoké car l’intime s’exprime aussi avec Trinh công Sơn, Sylvie Vartan et des chansons du folklore.

.

Il y a des morceaux d’âme de soi que chaque spectateur peut trouver dans les détails sur scène. Moi-même, j’y perçois le mal être de l’exilé.

 

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

Thà thắp một ngọn nến …

 

Thà thắp một ngọn nến hơn là nguyền rủa trong bóng tối (ảnh: M. Poirrier)

Đó là mệnh lệnh của Tổ chức Ân xá Quốc tế – Amnesty International.

Ngày 10.12, tôi cũng thắp một ngọn nến, gọi là để nghĩ đến những người bị giam cầm bên kia các song sắt …

70 năm trước, ngày 10.12.1948, Liên Hiệp Quốc đã cho ra đời Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Nguyễn Huỳnh Mai

https://huynhmai.org/2013/06/17/tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen/

Stanilas Dehaene, não bộ và dạy toán cho trẻ ở Tiểu học

Stanilas Dehaene, le cerveau et enseigner les maths aux enfants à l’école primaire

 

Bài này khởi thủy đã đăng trên Hoc Thế Nào cách đây hai năm:

Stanilas Dehaene, não bộ và dạy toán cho trẻ ở Tiểu học – Nguyễn Huỳnh Mai

Một phiên bản gọn Dân Trí vừa đăng lại trên trang khoa học

http://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/khoa-hoc-da-chung-minh-moi-tre-deu-co-kha-nang-ve-toan-20171207072505588.htm

.

Trước khi vào đề: chú thích về nguồn

Dưới đây là tóm lược vài ý của ông Stanilas Dehaene dựa trên ba tài liệu:

1. Dehaene S., La bosse des maths. 15 ans après. NXB Odile Jacob, 2010.

Phiên bản tiếng Anh của sách này là The Number Sense: How the Mind Creates Mathematics. NXB Oxford University Press, 2011.

Sách này, đúng ra là phiên bản cập nhật của một quyển, có tựa là La bosse des maths, mà ông Stanilas Dehaene đã cho xuất bản trong thập niên 1990.

2. https://www.youtube.com/watch?v=0yCWPAelZBo

Một buổi nói chuyện của ông Stanilas Dehaene, cho đề tài Khả năng về Toán. tổ chức bởi Les Mardis de l’espace des Sciences thuộc ĐH Renne (Pháp), 2011.

3. https://www.youtube.com/watch?v=4NYAuRjvMNQ

Bài thuyết trình của ông Stanilas Dehaene về Những nguyên tắc căn bản của sự học, trong khuôn khổ các sinh hoạt của Collège de France, 2012.

Cách trình bày, bố cục, so sánh, ghi chú hay “thuyết minh” là phần của tác giả bài này.

.

Ông Stanilas Dehaen không là một nhà toán học mà là một tâm lý gia, chuyên về Khoa học não bộ của sự học và đã được giới thiệu cách đây không lâu trên Học Thế Nào:

http://hocthenao.vn/2014/11/18/hoc-duoi-goc-nhin-cua-khoa-than-kinh-nguyen-huynh-mai/

—–

Trẻ, từ lúc mới sinh ra, có khả năng về số, về toán. Điều này khoa học đã bắt đẩu đưa giả thuyết từ thập niên 60 và minh chứng được từ hơn mươi năm nay – Khả năng này, thú vật cũng có: các con bồ câu biết chọn những ô có nhiều thức ăn ; các con khỉ, khi được huấn luyện, làm toán cộng mau hơn người, …

Đếm, đối với trẻ con từ lúc lên hai, gần như là một “phản xạ”, là một “nhu cầu” : chúng đếm những cột đèn khi đi đường, những bậc thang khi leo lên gác, hay những quả banh, hòn bi, … khi chơi đùa. Các bậc cha mẹ hay giáo viên chỉ cần dựa trên “nhu cầu” đó của trẻ để giúp chúng nhân bội lên và phát triển những khả năng mà não chúng đã được thiết bị.

Tức là não của mọi trẻ đều … đã được thiết bị và có khả năng về toán.

Trước đây, một nhà di truyền học, Albert Jacquard đã nói tương tự như vậy “mọi trẻ, lúc chào đời, trừ một thiểu số bị bệnh tật, đều có tiềm năng thông minh, môi trường có cho phép những tiềm năng ấy thành thông minh thật sự hay không là chuyện khác”. Albert Jacquard đã dựa trên lý luận về di truyền.

Có khác chăng là ông Dehaene xác định dựa trên quan sát não bộ qua các nghiên cứu của ông từ thập niên 1980 và hiện ông vẫn còn tiếp tục với một chương trình tài trợ bởi Cộng đồng châu Âu, Humain Brain Project, một chương trình qui tụ hơn 150 khoa học gia của nhiều nước.

Từ những hiểu biết này, ta không thể bảo rằng có những trẻ bẫm sinh có khiếu về toán. Mà phải nói là tất cả các trẻ đều bẫm sinh có khiếu về toán.

Cho trường hợp của những “thần đồng” mà báo chí hay các phương tiện truyền thông khác thường nêu, ông Dehaen cho hai giải thích

. hoặc đó là những người chỉ biết đếm và có sinh hoạt toán suốt ngày suốt đêm, ông kể chuyện một đứa trẻ chỉ say mê mò mẫm các cuốn lịch nên có thể trả lời cho biết ngày trong tuần của bất cứ ngày tháng năm nào. Ngoài ra bé ấy không biết gì khác.

. hoặc, vì một dị tật trong cấu trúc của não, cá nhân nào đó chỉ có một phần não ở thùy đỉnh phát triển và tiếp theo đó được chính bản thân hay môi trường khai thác tối đa để thành “hiện tượng”.

Ông Stanilas Dehaene nhấn mạnh trên hai từ “làm việc” và “khai thác” trong hai thí dụ vừa kể. Chứ không có gì là siêu nhiên – sur naturel –

Thần kinh học, nhất là với máy quét cộng hưởng từ sinh hoạt (IRMf), hiện cho phép định vị và quan sát sinh hoạt của thùy đỉnh não, lobe pariétale, nơi các tế bào thần kinh chuyên toán trú ẩn : chúng rực sáng, qua hình ảnh của máy quét, vì chúng tiêu thụ nhiều ôxy và đường hơn, khi ta làm toán.

Nhưng không chỉ cần thùy đỉnh não để làm toán, trẻ, cũng như người lớn, còn cần thân thể, cần dụng cụ, cần ngôn ngữ. … Ta cần những ngón tay, ta cần những khúc gỗ, cần hiểu thế nào là thêm vào, bớt đi, phân chia, ta cũng cần một mảnh giấy, cần một bút chì, … hay phức tạp hơn, ta cần một bàn tính của người Tàu (boulier), một máy tính, …

Trong một quyển sách khác, Les neuronnes de la lecture, ông Stanilas Dehaene nhấn mạnh trên vai trò của khả năng đọc-hiểu như là một điều kiện tối cần thiết để tiếp cận các kiến thức.

Một cách ngắn gọn, lúc chào đời, trẻ nào cũng được trang bị những khả năng về toán, ít nhất là dưới dạng “trực giác” – intuition – , cả những ý niệm sơ khởi về thống kê, xếp loại, về cảm nhận không gian và thời gian. Ta có chung những khả năng này với những động vật khác. Phần đông các loài chim và cầm thú cũng giỏi cảm nhận và tính toán lắm. Bằng cớ là chúng biết tha mồi về tổ hay về hang, biết phải di chuyển khi mùa đông về để trốn cái lạnh, …

Các khái niệm về toán ta đã có đó. Nhưng muốn phát triển ta cần kỹ thuật thêm vào. Các kỹ thuật này nằm trong các phương pháp dạy toán.

Trước khi bàn về phương pháp sư phạm, Stanilas Dehaene trả lời rành rọt rằng máy tính bỏ túi (caculatrice de poche) và máy vi tính (ordinateur) không làm thui chột khả năng về toán của trẻ nếu trẻ biết cách dùng các tiện lợi này hầu để dành “sức” cho những công việc khác, phức tạp hơn. Như thế, ông đánh tan lập luận theo đó trẻ cần học bảng cữu chương để rèn trí nhớ hay để “học” toán.

Dạy toán sai phương pháp có hại

Minh họa cho điều này, ông Stanilas Dehaene đưa một thí dụ cụ thể: Khi hỏi “kết quả của 6+5–5”, một em bé 6 tuổi trả lời nhanh hơn một em 9 tuổi. Vì bé đầu dùng khả năng tự nhiên còn em thứ nhì thì, “bác học” hơn hay nói cách khác, vì đã bị “méo mó bởi trường học”, em làm hai cái tính nhẫm 6 + 5 trước rồi 11 – 5 sau nên mất thời gian hơn.

Thí dụ này cho thấy là thông thường các giáo viên không biết “khai thác”, không “dựa” trên những khả năng vốn có của trẻ để dạy toán cho chúng. Thế là các giáo viên … vô tình xóa mất những khả năng ấy và thay vào đó bằng những phương thức học toán phức tạp hơn, một cách vô dụng và làm trẻ…”dốt” đi.

Xin lập lại: não của trẻ không là một cấu trúc rỗng mà ta phải làm đầy. Não của trẻ đã được tổ chức với những phương thức đã được kiến trúc sẳn, khi tiếp cận với môi trường, khi học,… trẻ chỉnh đốn những gì cháu đã có sẳn.

Về phương pháp, cho các nghiên cứu của mình, ông Stanilas Dehaene không chỉ dùng hình ảnh não bộ qua máy quét IRMf mà đồng thời còn dùng những trắc nghiệm tâm lý, quan sát sinh hoạt của mắt, …Thông thường đối tượng nghiên cứu của ông là những trẻ có tuổi đời từ vài tháng tới tuổi trưởng thành. Những nghiên cứu này hoàn toàn không có hại cho trẻ và được các Hội đồng Đạo đức khoa học – Comités d’Ethique – cho phép.

.

Thế phải dạy toán theo cách nào?

Không chơi chữ nhưng ở đây, ông Stanilas Dehaene cho ba chữ chính với vần ION, tiếng Pháp, ở đuôi : émotion, attention, passion – tức là xúc động, chú ý, đam mê.

Xúc động, chú ý, đam mê, mà ông Stanilas Dehaene nêu, không chỉ cần cho toán. Các chữ đó cũng có thể là những phương thức cần cho mọi môn học.

http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/van-hoa-hoc-duong40/ban-ve-vai-ky-nang-%C2%ABben-le%C2%BB-can-cho-mot-nguoi-di-day%E2%80%A6

Nhưng xin trở lại vấn đề toán và lý giải của ông Dehaene.

Tạo xúc động cho trẻ bằng những vật lạ, gây tò mò cho chúng. Môi trường muôn hình vạn trạng, đầy vật thú vị, không đến nổi phải đếm sao trên trời hay đếm lá trong rừng – dù là đếm lá trong rừng đã cụ thể hơn đếm sao – giáo viên chỉ cần nhìn xung quanh mình là có đủ dụng cụ để dạy toán ! Những hộp lớn nhỏ, những đũa dài ngắn, những nia thúng tròn, vuông…

Ở chỗ khác, các nhà tâm lý giáo dục đã nói rằng trẻ chỉ học và nhớ những gì có ý nghĩa với chúng.

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở xúc động thôi thì chưa đi quá cái khả năng cảm nhận. Nên phải tiếp tục từ cảm nhận, chủ tâm khám phá để đi sâu hơn vào các khái niệm toán – tức là rời cụ thể đi vào lý thuyết, dùng cụ thể như vật dụng “khai quang” để đi đến lý thuyết. Sau đó, khi đã tiếp thu lý thuyết, dùng lý thuyết, trở lại giải mã cho cụ thể, cho những trường hợp tương tự… Quá trình này cần sự chú ý, kiên trì. Xúc động ban đầu thành “lực” để kéo theo kiên trì.

Để gây chú ý giáo viên cần áp dụng những nguyên tắc rất đơn giản như sáng tạo tối đa rong cách thức trình bày để bài học gần gũi với học trò để chúng dễ tiếp cận; như cấu trúc thành hệ thống có thứ tự các dữ kiện hay các đòi hỏi, và nhất là không đưa ra cùng một lúc hai sự kiện khác nhau hay hai lệnh khác nhau, …

Tất cả những “cách làm” này ông Stanilas Dehaene đã thực nghiệm và quan sát kết quả tích cực qua máy quét cộng hưởng từ sinh hoạt (IRMf) não bộ của trẻ trong các nghiên cứu.

Còn đam mê là động cơ để vượt khó. Bên ta thì nói “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Đam mê là lực để vượt núi qua sông. Phương thức để cho trò đam mê không có nhiều đường: nếu chúng hiểu việc làm của chúng, nếu chúng thấy ích lợi hay cái đẹp ở cuối chân trời, nếu chúng được tự do quyết định hướng đi của mình, … chúng sẽ băng đèo vượt suối.

Thầy giáo ở đó để truyền đam mê. Bằng những cách lý giải, bằng những khuyến khích tích cực, bằng cách cho trò cái gương về say đắm của mình, bằng cách vẽ đường cho trò đi…

Bao nhiêu đó vẫn chưa đủ? Cho phép trò làm sai là một phương pháp thêm vào. Không chỉ có con chó của Pavlov biết tránh cái bẩy có điện giật, không chỉ có con bồ câu của Skinner biết chừa những ô trống không có hạt ngô. Làm sai, tức là thất bại, tự thân lả một hình phạt có ý nghĩa cho bất cứ người đi học nào và “sửa sai” cũng là một challenge cho trẻ, một động lực giúp trẻ vượt khó để đi đến thành công. Không cần giáo viên chen vào phạt hay cho điểm xếp hạng.

Trong dấu ngoặc, đánh giá-đào tạo – évaluation-formation – để tiếp tục học, biết chỗ nào sai để hoàn thiện, tốt hơn là đánh giá-chế tài – évaluation-sanction. Các nhà giáo dục đã nói nhiều về vấn đề này.

Cuối cùng, như một chuyên viên thần kinh toàn diện, ở đây, ông Stanilas Dehaene thêm vào: hãy để cho trẻ ngủ đủ. Giấc ngủ như một … phương thức sư phạm vì giấc ngủ là một công cụ rất tốt, có thể là tốt nhất, để phục hồi khả năng trí tuệ, để giúp sắp đặt lại các tiếp thu và để ổn định trí nhớ. Khi trẻ có vấn đề ở lớp, không thiết tha học, không chú ý hay không đam mê mà các phương thức đưa ra ở trên đều không mang lại kết quả thì ta phải xem thử giấc ngủ của em ấy có tốt không. Khó khăn ở trường học có thể chỉ là biểu hiệu của một vấn đề nào đó về giấc ngủ.

Thay lời kết?

Dựa trên khả năng số học mà bất cứ trẻ nào cũng có, dùng khả năng ấy như điểm tựa, như bàn đạp để hoàn thiện hiểu biết về toán của trẻ. Không dạy trẻ làm theo lô gích của người lớn mà để chúng làm theo lô gích của chúng, những gì não chúng đã được cấu tạo. Chúng sẽ học nhanh hơn, dễ hơn, ít sai hơn. Giáo viên ở đó để cung cấp dụng cụ, để cho thêm động cơ và để giúp chúng can đảm bước vào thế giới trừu tượng đầy biểu tượng của Toán. Nhưng sau khi đã hiểu và vượt qua được những khó khăn của các biểu tượng cơ sở thì phần còn lại chỉ là … thích thú.

Các “lớp học đảo ngược” không nói khác hơn.

.

Đa phần những gì ông Stanilas Dehaene cho thấy, thật ra khoa giáo dục đã, gần hay xa, đề cập tới. Cái khác là ông Dehaene mang đến những bằng cớ của khoa thần kinh và khoa tâm lý của sự học, ít nhất là cho thời điểm thập niên đầu ở thế kỷ thứ 21 mà ta đang sống.

Nguyễn Huỳnh Mai

Nụ cười của các thiên thần

Đại thánh đường Reims, ngay dưới chân , hình chụp gần

Hai bên vòng cung của cửa vào là các thánh và thiên thần. Xin chú ý nụ cười của thiên thần này

Thiên thần này nữa, dù bị … mất một cánh, nụ cười vẫn ở đó

 

Có người thích cái ồn ào náo nhiệt của các chợ Giáng sinh. Có người đi tìm  đèn màu của các khu phố. Tôi thì rất yêu nụ cười thầm lặng, và tạc trên đá,  của các thiên thần này.

Chợ Giáng sinh, một tập tục lău đời,  hiện đang dựng trước Đại thánh đường, với những gian hàng xinh xắn

 

và bắt đầu đón khách – Từ nhiều thế kỷ trước, chợ Giámg sinh là phiên chợ lớn nhất năm. Hiện các khu thương mại giữ vai trò phân phối hàng hóa. Chợ Giáng sinh chỉ còn như hình ảnh của truyền thống

 

Ảnh và chú thích : Nguyễn Huỳnh Mai

Học dưới góc nhìn của khoa Thần kinh

A propos de la neuroscience de la cognition

Bài này, đã gửi về Dân trí – Thật ra đây là  cập nhật nội dung của một bài viết cách ậy ba năm – khoa học tiến bộ như thế đấy:

https://huynhmai.org/2014/11/14/hoc-duoi-goc-nhin-mot-bac-si-than-kinh/

.

 Khoa thần kinh của sự học giúp ta hiểu được những vai trò và biến đổi của não bộ khi ta học. Bài này chỉ nhập môn. Bài tiếp theo sẽ bàn về thành công hay thất bại của một số phương thức sư phạm, về nhu cầu học của trẻ và về cái hại của stress trong sự học. Tất cả đều dựa trên các phản ứng quan sát được của não bộ người đi học

Phương pháp của khoa này tựu chung là đi từ kiến trúc của não bộ, những vùng riêng biệt và từ đó quan sát cách sinh hoạt của các cấu trúc đó trong lúc trẻ học. Chuyên viên thần kinh của sự học dùng máy quét cộng hưởng từ sinh hoạt (IRMf – scanner par résonnance magnétique nucléaire de fonctionnement), máy đo đồ thị sinh hoạt của não (EEG – électroencéphalographie), máy đo cử động của mắt (eye tracking). Họ lập ra một loại bản đồ của não bộ – brain maping – cho thấy những hình ảnh của não bộ, những thay đổi linh động các vùng của não cộng với di chuyển của mắt, … trong lúc trẻ tập đọc, làm toán hay lúc học để thuộc lòng.

Những kết quả thu nhặt được tới giờ cho thấy là hai điều quan trọng trước tiên: trẻ “học” rất sớm và “học” lúc ngủ,

Não bộ của trẻ làm việc rất sớm, ngay từ lúc mới chào đời, những thu thập này được tích trử có ngăn nắp trong các vùng khác nhau của não bộ tùy theo bản chất của sự vật – cho trí nhớ về màu sắc, trí nhớ về âm thanh ngôn ngữ hay về toán chẳng hạn.

Ta cũng tưởng là các sinh hoạt não bộ của trẻ sẽ ngưng lại, bị gián đoạn trong lúc chúng ngủ. Thật sự thì não của trẻ hoạt động với một cường độ lớn trong lúc ngủ mơ, như thể chúng quay cuộn phim những gì chúng vừa sống ban ngày theo một vận tốc nhanh gấp bội – Nhờ thế mà chúng nhớ.

Từ lúc nảo trẻ học được? Từ lúc mới chào đời hay là ngay cả khi còn trong bụng mẹ?

Những nghiên cứu cho thấy, từ những năm 1980, rằng trẻ trong bụng mẹ, trong ba tháng cuối của thai trình, có thể nhớ những mùi vị qua mùi vị của nưỡc ối – thí dụ khi bà mẹ dùng những gia vị như cà ri, một gia vị có khả năng vượt qua hàng rào của nhau thai.

Bào thai còn có khả năng nhớ những âm thanh như giọng nói của mẹ, một số bản nhạc.

Trẻ vừa chào đời vài giờ đã ghi nhận được các chìa khóa của ngôn ngữ khi được đặt trong môi trường có các âm thanh. Khả năng tiếng mẹ được activated – mở – từ lúc đó và các nhà khoa học quan sát được sự phát triển của vùng não phía trái, tức là vùng của ngôn ngữ.

Tất cả những khám phá này đặt lại vấn đề “năng khiếu trời cho”.

Tương tự như thế, khả năng hấp thụ các khái niệm về số, về toán cũng bắt đầu phát triển nơi các trẻ sơ sinh mới ra đời từ vài giờ.

Tức là nếu môi trường cho những stimuli – kích thích – đúng và liên tục thì trẻ sẽ phát triển khả năng về ngôn ngữ, khả năng về toán… Thật ra nơi trẻ, đó là những phát triển dây chuyền trong đó có, ồ ạt chen nhau, những khả năng lúc chào đời và những tiếp thu đầu đời.

Hiện các chuyên viên về khoa thần kinh của việc học đã minh chứng rằng trong não của các nhà toán học vĩ đại thì vùng mà họ dùng thường xuyên trong công tác nằm đè lên vùng chuyên cho đếm và số mà họ đã vốn có khl còn bé – Nói cách khác, những tiếp thu đầu đời là khởi điểm của những bộ óc lớn về Toán sau đó!

Khái niệm về sự mềm dẽo, uốn nắn được của não bộ

Khái niệm này hiện được thừa nhận rộng rãi. Đó là khả năng của não bộ cấu trúc lại tùy theo kinh nghiệm sống của cá nhân.

Thế sự học có làm não bộ khác đi?

Câu trả lời là tùy theo cách nhìn vấn đề.

Trên bình diện vĩ mô, ta thấy là các dây thần kinh của bất cứ cá nhân nào đều có những liên kết giữa các bó kết nối – grands faisceaux de connexions – giống nhau. Cấu trúc đó đi từ tiến hóa của loài người từ nhiều ngàn năm trước – và giống nhau – dù là họ không cùng văn hóa hay nghề nghiệp.

Những tiến bộ về toán và tin học chưa được “ghi” vào cấu trúc vĩ mô não của nhân loại,

Nếu nhìn gần hơn, trên vi mô, ở đây ta lấy đơn vị là milimètre, não bộ của các cá nhân đều khác nhau và lịch sử quá trình học hỏi của cá nhân được “dịch” ra, trong não, bởi lực và vận tốc mà các kết nối sẽ diễn ra. Một người biết chữ chẳng hạn thì cách tiếp nối giữa các sợi trục thần kinh cho ngôn từ và thần kinh thị giác mạnh hơn và nhanh hơn. Những vùng này cũng phát triển hơn so với não một người không biết chữ.

Cũng trên vi mô, hiện ai cũng biết rằng kinh nghiệm học hỏi làm thay đổi một cách cơ bản những liên kết giữa các các tế bào thần kinh. Tức là “chuyện” của hàng triệu dây liên hoàn, tạo ra hay làm thay đổi hàng tĩ tĩ (một số với 18 số 0) các phân tử tiếp nhận trong não.

Tựu chung, có những biến chuyển làm não bộ phải tái cấu trúc và thay đổi các mạch não làm cho não của ta có diện mạo khác. Sự học tạo ra những biến chuyển đó.

Trong thí dụ của việc học đọc. Những nhà nghiên cứu đã quét não của một bé mẫu giáo rồi sau đó làm scan lại lần nữa khi bé vào lớp 1. Kết quả cho thấy rằng vùng nhận diện chữ viết, lúc bé ở lớp 1, làm việc tốt hơn vùng nhận diện hình ảnh. Trước đó thì ngược lại.

Không được học,  ở tuổi trưởng thành, người mù chữ tiếp thu ngôn ngữ nói – ngôn ngữ nói không cần biết chữ – chậm hơn và trí nhớ về ngôn ngữ của họ cũng kém hơn là người biết đọc. Não của họ không được cấu trúc để giỏi khả năng tiếp thu và lưu giữ ngôn ngữ.

Học và những thay đổi dài hạn của não?

Hiện các nghiên cứu đã chứng minh rằng những người lúc trẻ học nhiều hơn thì giữ được minh mẫn trí óc lâu hơn khi già. Ít bị hay bị trể hơn các chứng bệnh như Alzheimer. Hay bệnh mất trí nhớ của người cao tuổi.

Sự học bảo vệ não bằng một loại … kho tồn trử trí nhớ để dành. Kho mà lớn thì dùng được lâu hơn.

Sự bảo vệ này hiển nhiên nhất đối với những người đã nói hai ngôn ngữ sớm. Những người này, khi chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia, đã rèn hệ thống thích ứng của cả bộ thần kinh của họ.

Những người đã chuyên làm một việc tĩ mĩ như thợ kim hoàn, nghệ sĩ điêu khắc, hay những nhạc sĩ cũng bảo vệ não của họ như thế. 

Học suốt đời cũng là một cách giúp vệ não duy trì khả năng trí tuệ.

Nguyễn Huỳnh Mai

20 nước giàu nhất toàn cầu năm 2015, viễn ảnh 2030

Un article ” les 20 puissances économiques en 2015, perspectives  2030″  écrit pour partager mes connaissances avec mes lecteurs – même si l’économie n’est pas mon champ.

.

Nếu hiện tại kinh tế toàn cầu bị thống lĩnh bởi Mỹ – và Mỹ bỏ xa các nước khác – Châu Âu hiện cũng không đến nổi tệ : Đức hạng 4, Pháp thứ 5 tiếp theo và Anh quốc thứ 6.

Nhưng tới năm 2030 thì tình hình thay đổi rất nhiều. Mỹ vẫn đi đầu nhưng sẽ bị Trung quốc đuổi sát theo.

Đồ thị dưới đây minh họa tình hình. Gạch màu xám là tình trạng của 2015, màu xanh đọt non cho 2030. Các số trên đồ thị là tính theo theo ngàn tỉ đô la Mỹ (tức là với 12 số 0). Năm 2015 thì Mỹ đứng đầu. Trung Quốc thứ nhì nhưng tổng sản lượng chỉ tròm trèm bằng phân nửa số của Mỹ. Nhật bản thứ ba, Theo sau đó là Đức, Anh và  Pháp.

Bảng xếp hạng 20 nước giàu nhất toàn cầu

(Tôi loay hoay mãi vẫn không cài đồ họa vào bài được nên đành để riêng. Xin vui lòng nhấn chuột vào đường dẫn trên để xem)

Theo tính toán này thì vào năm 2030 Mỹ cũng sẽ dẫn đầu các nên kinh tế toàn cầu với một tổng sản lượng là 24 800 tỉ đô la nhưng Mỹ gần như là sẽ bị bám bén gót bởi Trung quốc với 22 200 tỉ đô la. Sau hai nước này, các nền kinh tế khác có giỏi lắm, như Ấn độ chẳng hạn, hạng ba nhưng tổng sản lượng cũng không tới 1/3 của nước đầu bảng hay của nước hạng nhì.

Ấn độ, so với 2015 tức là đứng sau Nhật, Đức và Anh, nhưng đến 2030 vượt họ và lân hạng ba và  có thể trong tương lai xa hơn – 2050 chẳng hạn – sẽ là một cạnh tranh lớn vì dân số Ấn độ sẽ đông như Trung quốc lại trẻ hơn và Ấn độ lại đang tiến bộ nhanh trên lĩnh vực IT.

Cũng theo những tính toán viễn ảnh năm 2030, sau Ấn độ, đứng thứ tư là Nhật bản. Đức sẽ là cường quốc Âu châu đầu tiên trên bảng này và đứng hạng 5 toàn cầu.

Brazil là nên kinh tế nổi trội, hạng 6, đứng trước cả Anh, Pháp, Canada và Nga, những nước trong top 10.

Ngạc nhiên kế tới trong bảng xếp hạng này là Mexico và Indonesia. Hai nước này sẽ vượt lên trước Úc, Hàn quốc và Tây ban Nha vào năm 2030.

Cũng trong top 20 của dự đoán này còn có Turkey và nước châu Phi duy nhất trong bảng: Nigeria, hạng 19, giàu hơn cả Hà Lan, đứng cuối bảng này.

Nguyễn Huỳnh Mai

Tài liệu tham khảo:

Le Monde en 2030 vu par la CIA”, Editions des Equateurs, 2013, 302 p.

Những viễn ảnh trình bày ở trên là của CIA nhưng không phải vì cơ quan thiết lập là CIA mà ta phải nghi ngờ và xem đó như chuyện của tình báo – Tôi dùng các dữ kiện ở đây như những dữ kiện có thể – rất cần cho các kế hoạch quản lý dài hạn.

Giáo dục với thương yêu và phát triển của não bộ

Voici ma réaction devant les violences qu’on fait aux enfants au sein des familles comme à l’école, violences relatées par les media cette semaine, Non seulement on ne doit pas “éduquer” les enfants par la violence pour des raisons pédagogiques évidentes mais aussi, pour des raisons … neurologiques, l’objet de cet article: une éducation avec amour aide à développer l’hippocampe des enfants.

Bài này cũng có thể đọc được trên Dân Trí

http://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/giao-duc-voi-tinh-thuong-yeu-co-tac-dung-phat-trien-cua-nao-bo-20171129133019469.htm

.

Một cách khôi hài các bác sĩ thường nói rằng trẻ rất cần sinh tố A, không phải loại sinh tố ta thấy trong các rau quả hay dầu cá mà A như Amour, tức là yêu thương.

Thật vậy, được bảo bọc, thương yêu nâng đở, khuyến khích khích lệ, … là những biểu hiệu của sinh tố A – Amour. Trẻ rất cần những thứ đó để tự kiến trúc, để cấu tạo bản thể, để lớn lên thành người.

Một nghiên cứu gần đây của ĐH Washing ton (Mỹ) còn cho ta thấy một lợi ích khác của thương yêu: nó giúp trẻ phát triển não bộ, nhất là thùy hải mã (hippocampe).

Dựa trên các dữ kiện được thu thập bằng một khảo sát dài hạn trải từ lúc trẻ học mầm non đến lúc trước dậy thì – trong đó có ba ảnh chụp cắt lát não bộ đ̉ể nghiên cứu ảnh hưởng của sự chăm sóc của các bà mẹ trên phát triển của bộ phận này.

127 trẻ được quan sát trong một nghiên cứu dài hạn như thế trong 11 năm

a/ thái độ của cha mẹ được đánh giá bằng các bảng câu hỏi và bằng quan sát khi các nghiên cứu gia đặt các bà mẹ và con của họ trong những tình huống của đời sống hằng ngày như khi bắt con mình phải chờ cơm hay chờ quà hay khi trẻ đánh rơi và làm vở một lọ hoa, …

b/ Máy quét cộng hưởng từ Scanner MRI – không có X ray – tức là không có hại cho trẻ – cho thấy sự phát triển của não bộ của trẻ khác nhau tùy thuộc vào cách cha mẹ liên hệ với trẻ trong việc nuôi dạy.

Kết quả là các trẻ được nuôi nấng trong thương yêu có thùy hải mã phát triển tốt hơn với những kết quả có giá trị thống kê so với nhóm trẻ có các bà mẹ lạnh lùng hay ít chăm sóc .

Những trẻ lớn lên trong yêu thương giỏi kiểm soát cảm xúc hơn, biết thích ứng đối mặt với stress và có nhiều khả năng trí tuệ, học thành công hơn ở trường.

c/ thời điểm của tuổi mẫu giáo của trẻ có vẻ quyết định nhiều nhất. Tức là những yêu thương lúc trẻ còn nhỏ tuổi cho nhiều hiệu quả hơn. Nói cách khác, trẻ càng nhỏ thì càng cần yêu thương.

Nguyễn Huỳnh Mai

Nghiên cứu của bà

Joan Luby và đồng sự., «Preschool is a sensitive period for the influence of maternal support on the trajectory of hippocampal development»,PNAS, vol.CXIII, n°20, 17mai 2016, trang 5742–5747.