Bỏ qua nội dung

“Số phận từ trong nôi” theo Camille Peugny

Một bài cũ…

Le destin au berceau. Inégalités familiales et reproduction sociale.

Camille Peugny là một nhà xã hội học người Pháp, còn rất trẻ, sinh năm 1981, tức là nhỏ tuổi hơn các con của tôi nhưng đã xuất bản ít nhất là hai quyển sách có giá trị – cả hai đều thuộc lĩnh vực bất bình đẳng xã hội, sở trường của ông ấy.

Peugny C., Le Déclassement. NXB Grasset, 2009.

Peugny C., Le destin au berceau. Inégalités et reproduction sociale. NXB La République des idées-Le Seuil, 2013, 117 trang.

Bài này tóm lượt và bàn về vài kết quả ông viết trong quyển thứ nhì kể trên.

.

Cha nào con nấy hay sự “di truyền” của giai cấp xã hội là lý thuyết kinh điển, tất cả các nhà xã hội học đều biết, theo Pierre Bourdieu, theo Yanick Lemel, theo Claude Thélot… Nhưng gần đây thì sao? Tình thế có thay đổi không? Nhất là từ lúc mà giới trung lưu càng ngày càng đông hơn và 80% dân tình được xếp trong “giai cấp” trung lưu này. Chỉ trừ 10% người nghèo và 10% người giàu.

Có thể nào như thế thì đại đa số sẽ bình đẳng hơn và sự thăng tiến xã hội sẽ tùy theo tài cáng khả năng thực sự của từng cá nhân?

.

Sách của Camille Peugny cho thấy là thực ra tình thế vẫn không thay đổi, con người ta như bị dán dính vào giai cấp của mình, bị hoàn cảnh xã hội của gia đình quyết định cho tương lai. Tỉ lệ của thế hệ con vẫn nằm trong giai cấp của cha họ không giảm đi.

Ông Peugny cho thấy nếu năm 1983, 36% con cái vẫn tiếp tục ở trong thành phần xã hội của cha mình thì tỉ lệ này năm 2009 thành 34%.

.

Nhưng từ đó, đừng vội kết luận rằng như vậy ít nhất là hai phần ba còn lại của thế hệ con cái sẽ “tung hoành” thăng tiến xã hội hay bị xuống cấp, có địa vị khác xa so với cha của họ.

Thật ra, hướng đi và địa vị xã hội của thế hệ con không khác hoàn cảnh cha của họ bao nhiêu.

Vì sao ?

Ông Peugny cho thấy là cần nhìn gần tình trạng. Hiện dù phiến diện, con cái có vẻ như chiếm địa vị cao hơn cha mẹ chúng nhưng lương của chúng giảm đi nhiều so với bậc thang lương bổng trong quá khứ, các hợp đồng nghề nghiệp của chúng bất ổn hơn, nhiều khi bị gián đoạn bởi những lúc thất nghiệp, … Một chứng cứ thêm nữa: thế hệ con mua nhà khó khăn hơn cha mẹ chúng trước đó,

Rốt cuộc trong tổng thể, con cái xuất thân từ tầng lớp bình dân rất khó thăng tiến xã hội.

.

Vai trò của trường học và bằng cấp?

Từ 1984 tới 2009, trong khoảng 25 năm này, tỉ lệ con cái tầng lớp thợ thuyền tốt nghiệp Đại học, ở Pháp, đã tăng từ 6% lên 24%

có nghĩa là trên 100 trẻ,  con của thợ thuyền,  thì có 6, ngày trước, hay  24, gần đây, trẻ tốt nghiệp Đại học

Nhưng trong lúc đó, tỉ lệ của con cái hàng công tư chức bậc cao, hàng lảnh đạo – tiếng Pháp là cadres supérieurs và professions libérales –  tốt nghiệp Đại học tăng từ 50% lên 74%.

Tức là về số lượng, con cái gia đình cha mẹ “cao” vẫn đi trước. Đó là chưa nói đến chuyện khi quan sát gần hơn, sự “cạnh tranh” còn tùy ở chất lượng: chọn ngành nghề nào, Đại học nhưng trường nào, …Cuối cùng, con cái những người có khả năng và phương tiện  vẫn sẽ thành công tốt hơn trên đường nghề nghiệp sau đó.

Thế là mức học vấn của toàn xã hội tăng cao hơn. Nhưng sự “phổ cập” giáo dục Đại học chỉ làm trể hơn sự cạnh tranh và bất bình đẳng xã hội vẫn tồn tại.

.

Làm sao cải thiện tình thế?

Ông Peugny đưa ra hai đề nghị trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Theo ông, phải nhấn mạnh thêm nữa vai trò của trường học, nhất là phải đầu tư nhiều hơn cho trường Tiểu học.

Trường Tiểu học quan trọng vì trẻ còn nhỏ, giúp trẻ, nhất là những em không thuộc thành phần ưu đải,  thành công tốt thì các kết quả này sẽ ảnh hưởng tích cực cho học trình tiếp theo.

Phương thức thứ nhì là cần phát triển giáo dục suốt đời.

Vì như thế là có thể giúp những người đã “lở” chuyến tàu học hành lúc trẻ, vì hoàn cảnh xã hội quyết định, có thể hoàn thiện chuyên môn trong nghề nghiệp sau đó.

Paul Minon (1971) và Mai Poirrier (1982) đã đề nghị, cho hoàn cảnh Bỉ, những phương thức tương tự. Họ đã nhấn mạnh trên trường mẫu giáo và, cũng như Peugny, họ đã nói tới école de deuxième et de troisième chance – trường học cho cơ hội thứ nhì hay thứ ba – khi đề cập đến vấn đề giáo dục suốt đời (1) (2).

.

Ông Peugny kết luận là nếu sự tái tạo giai cấp xã hội, nếu vị trí của cha mẹ tiếp tục ảnh hưởng đến số phận của giới trẻ như thế thì điều này sẽ càng ngày càng làm lung lay sự đoàn kết trong xã hội.

Nguyễn Huỳnh Mai


Các chữ “giai cấp”, ” tầng lớp xã hội” … được để trong ngoặc kép vì những khái niệm này cần được định nghĩa rõ ràng hơn. Giai cấp theo Marx khác với giai cấp theo Mills hay Warner. Còn các tác giả, từ thập niên 1980 về sau, nói về các tầng lớp nghề nghiệp và xã hội.

(1) Minon P., Première orientation et réussite scolaire. NXB Presses Universitaires de Liège, 1971.

(2) Poirrier M., Enquête du Fonds du Logement. NXB Fonds du Logement, 1982.

Advertisements

Triết lý giáo dục của Việt Nam ?

Tình cờ tôi đi lạc vào trang này, đăng toàn văn một giáo trình của bà Đặng Huỳnh Mai, nguyên Thứ trưởng bộ Giáo dục

http://www.academia.edu/9463742/%C4%90%E1%BA%B7ng_Hu%E1%BB%B3nh_Mai_GI%C3%81O_TR%C3%8CNH

Ngay từ những dòng đầu tiên, với tiêu đề “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo Việt Nam – thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, bà Đặng Huỳnh Mai cho biết, và khai triển, hai điểm chính:

Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và chính phủ

Giáo dục xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa

.

Đó là triết lý giáo dục của Việt Nam ?

Chẳng nhẻ nào, hơn bốn mươi sau chiến tranh, Việt Nam vẫn đặt cốt lõi của giáo dục trên “Hồng” chứ không phải “Chuyên”.

Thành ra trẻ phải biết lịch sử của Đảng Cộng sản. Sinh viên, bất cứ là ngành nào, đều phải học “Triết học Mác Lênin”, và ta có cả trường ĐH chuyên ngành “Lý luận” với đủ trình độ Cử nhân, Cao học và Tiến sĩ – một ngành học chỉ hữu dụng ở Việt Nam chứ không mang bằng cấp ấy đi tìm việc làm ở xứ khác được.

.

Còn học để phát triển, để khẳng định cái Tôi, học để sống với người khác hay học để hạnh phúc … có lẻ ta chưa cần tới.

Nguyễn Huỳnh Mai

 

Viết thêm

Cũng trong giáo trình này, phần phụ lục, trang 126-127, TS Tô thị Thu Hương có giới thiệu “Chuẩn giáo viên Tiểu học của Bỉ” – Xã hội Bỉ chờ đợi rất nhiều ở các giáo viên nhưng trong tất cả những chờ đợi đó không có dòng nào nói về vai trò phải phục vụ đường lối chính trị của quốc gia hay của chính phủ.

Ở Bỉ, chúng tôi cốt đào tạo những người trẻ biết suy nghĩ chứ không là những chú lính chì.

Bây giờ tôi mới nghiệm ra và hiểu nguyên nhân của câu mà nhiều đối tác của tôi, ngày xưa, trong các chương trình hợp tác khoa học, thường nói “Việt Nam ta làm khác” … Việt Nam ta làm khác đến nổi mà các hợp tác khoa học, ít nhất là với Bỉ, càng ngày càng tàn lụn…

Chỉ số dân chủ 2018

Tôi có viết bài này, trong đó có định nghĩa và giải thích phương pháp “chấm điểm” “xếp hạng” các chỉ số dân chủ

https://huynhmai.org/2016/06/28/thieu-so-cai-tri-nhom-loi-ich-va-chi-so-dan-chu/

Hơn hai năm sau, chỉ số dân chủ của Việt Nam tụt đi 11 hạng và hiện ta đứng ở vị trí thứ 139 trong số 167 nước được đánh giá. Với chỉ hơn 3 điểm, trên 10, Việt Nam thuộc nhóm các nước “Chuyên chế Độc tài” – chế độ kém dân chủ nhất trong số bốn chính thể theo phân loại của EIU – The Economist Intelligence Unit, một cơ quan nghiên cứu  và truyền thông có trụ sở ở Anh quốc .

Màu xanh lá cây đậm là dân chủ trọn vẹn. Mảu đỏ là độc tài
Ảnh chụp màn hình, trang http://www.eiu.com/topic/democracy-index

Xin nhắc lại, EIU đánh giá chỉ số dân chủ và phân biệt – các chi tiết trong dấu ngoặc là dữ kiện của 2018 – :

. “Dân chủ Trọn vẹn” (có 20 nước, 14 ở châu Âu, + New Zealand, Canada, Uruguay, đảo Maurice, Malte và Costa Rica)

. “Dân chủ Có Khuyết điểm” (gồm 55 nước. Mỹ, Pháp, Bỉ, … ở trong hạng mục này )

. “Chính thể Hỗn hợp” (39 quốc gia trong đó có Thái Lan, Bhoutan, Nepal, …)

. “Chuyên chế, độc tài”. (53 nước trong đó có Việt Nam, Nga, Trung quốc, Cuba, Lào (hạng 151) , Campuchia  (hạng 125)  và nhiều nước châu Phi hay ở Trung Đông)

 

Về top 5, cho 2018, những nước dân chủ đứng đầu bảng, ta có :

1. Norway

2. Iceland

3. Sweden

4. New Zealand

5. Danmark

Một số tác giả đã nêu sự song hành giữa chỉ số dân chủ và chỉ số hạnh phúc của dân tình – điều này đúng cho các nước Bắc Âu.

.

Trái lại, cuối bảng, 5 nước chuyên chế độc tài nhất là :

163. Chad

164. Cộng hòa Trung Phi

165. Cộng hòa Dân chủ Congo

166. Syria

167. Triều Tiên

.

Đức hạng 13.  Thế có nghĩa là nếu chỉ tính ở châu Âu, Đức là một trong 10 nước dân chủ nhất, chỉ thua 4 nước đầu bảng và Luxembourg, Thụy Sĩ, Hà Lan, Irlande, Finland.

Ở châu Á, Hàn quốc dân chủ nhất, hạng 21. Sau đó là Nhật xếp thứ 22, Đài Loan thứ 32, Ấn độ thứ 41 và Singapour hạng 66 .

Nước Mỹ, dù nhiều người không đồng tình với chính sách của ông Trump, hạng 25

Pháp, với phong trào áo gilet vàng từ hai tháng nay, hạng 29

Bỉ, xứ nơi tôi đang sống, hạng 31.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

.

Trang Wikipedia tiếng Việt chưa cập nhật chỉ số dân chủ 2018.  Năm 2017, Việt Nam đứng hàng 140

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%89_s%E1%BB%91_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7

“Ai rửa bát ?” hay “Bạn có rửa bát ?”

Bài báo hôm nay trên Lao động

https://laodong.vn/xa-hoi/bat-ngo-ti-le-dan-ong-viet-rua-bat-giup-vo-moi-ngay-va-muc-thu-nhap-651607.ldo

cho những kết quả rnhư sau

Đồ thị của bài báo dẫn trên – Lao động online 11/01/2019, tác giả Đặng Chung dẫn nghiên cứu của TS Nguyến Việt Cường

 

Mặc dù kết quả bi quan : chỉ 0,5% các đối tượng của nghiên cứu trả lời “tôi rửa bát hoàn toàn”, kết quả này chưa hẳn, theo nhận xét thận trọng của bản thân người viết bài này, thể hiện tình trạng “thật”. Vì sao ? Vì câu hỏi không hoàn toàn … vô can.

Về kỷ thuật ròng mà nói, ở đây câu hỏi là “Bạn có rửa bát ?”là một câu hỏi ngầm gợi ý chuyện nam giới “cần” phụ việc rửa bát. Kết quả có thể trấn an ta chỗ này : các ông không vội khai là mình rửa bát chỉ có 4 người khai như thế !.

Câu hỏi lại có thể khiến cho đối tượng tự cảm thấy cần trả lời một cách … hợp tình, hợp cảnh theo những “mẫu” mà nam giới đã được giáo dục trước đó hay theo những “lý tưởng của xã hội tiên tiến” để minh chứng rằng “mình không lạc hậu”, nên câu trả lời thành ra không trung thực…

.

Tôi đề nghị hỏi “Ai rửa chén bát ở nhà bạn ? “ với một bảng gồm bốn cột đi theo, chẳng hạn như

.                                                           bạn              vợ bạn              người khác

mỗi ngày

thường xuyên

thỉnh thoảng

không bao giờ

Một câu hỏi như thế sẽ dễ trả lời hơn, chỉ cần đánh đấu x cho chỗ thích hợp, lại cho ta biết việc phân công rửa bát trong nhà và có thể cho ta kiểm soát sự thành thật hay hợp lý của các dấu x khi so sánh, nội tại, các câu trả lời

Hể đánh dấu “bạn rửa bát mỗi ngày” thì đến chỗ “không bao giờ” thì phải lả “vợ bạn”, chẳng hạn .

Dĩ nhiên, “thường xuyên” và “thỉnh thoảng” không hoàn chĩnh vì mỗi người có thể hiểu khác nhau. Tạm thời, ta có thể chấp nhận. Nếu cần thì thêm vào thường xuyên (+3 lần/tuần) ; thỉnh thoảng  (-1 lần/tuần).

Nguyễn Huỳnh Mai

Viết thêm :

Tựa bài báo đặt rằng …”đàn ông Việt giúp vợ …” Thế là mặc nhiên nhìn nhận rằng việc rửa bát là công việc của phụ nữ, các ông có tốt bụng làm việc đó là để giúp vợ ???

Ngày xưa ở Bỉ, người ta cũng quan niệm như thế. Nhưng quan niệm này lỗi thời rồi : việc nhà là công việc chung, ai cũng có trách nhiệm, không phải là “giúp vợ” hay “giúp chồng” gì hết. Có như thế mới từ từ đi đến bình đẳng giới. Phụ nữ Việt Nam chắc còn phải chờ đợi nhiều năm nữa…

Cũng xin đừng nói là “máy rửa chén sẽ làm công việc đó”. Vì dù có sắm máy rửa chén đi nữa, vẫn phải sắp xếp chén vào máy và mang chén bát cho vào tủ khi máy rửa xong. Tức là máy “giảm nhẹ” bớt công việc nhưng công việc đó vẫn còn hiện hữu. Thế là câu hỏi vẫn “Ai lo chuyện chén bát ?” – dù có máy rửa chén.

Tôi có viết bài này, 2013, hiện tình hình ở các nước phương Tây có khá hơn đôi chút

https://huynhmai.org/2013/10/26/chuyen-phan-cong-viec-nha-giua-chong-va-vo/

.

 

 

Kinh điển: Tiếp cận cái chết theo Cicero

Bài này đúng ra đã lên trang cách đây gần hai năm, một trong những bài mà tôi thích nhất – vì nó thể hiện cái … thông thái của một người … biết đọc. Nhân dịp đầu năm Dương lịch, xin đưa ra lại để chúc mọi người sống thọ nhưng biết tiếp cận cái chết như các nhà hiền triết.

Sách “Về tuổi già” của Cicero chụp trên nền lá xanh trong vườn  – ảnh M. Poirrier

Giới thiệu Cicero

Wikipedia giới thiệu Cicero (106 TCN – 43 TCN) như sau (1):

Cicero là một triết gia và nhà hùng biện, chính khách, nhà lý luận chính trị La Mã. Ông xuất thân từ một gia đình khá giả. Với thành tựu của mình, ông được xem là một trong những nhà hùng biện vĩ đại nhất La Mã. Ông cũng giới thiệu đến người La Mã các trường phái chính của triết học Hy Lạp và tạo ra một số từ vựng triết học La tinh (như humanitas, qualitas, quantitas, và essentia) nên ông cũng được xem là một nhà ngôn ngữ học, nhà dịch thuật và triết gia.”

Xin nói thêm là với nhiều người, Cicero được xem như là một luật gia giỏi.

Sách vở ghi lại rằng trong một bài biện hộ, Cicero gióng câu hỏi “Ai là người được lợi trong vụ án?” (“Cui bono” theo thành ngữ La tinh – hai chữ ngắn gọn nhưng vang như sấm). Tìm ra người đó là tìm ra được uẩn khúc của vấn đề, và thường là tìm ra được người chủ mưu nữa.

Ở đây là bản dịch mười trang trong sách song ngữ (La tinh – tiếng Pháp) De la vieillesse – Cato Maior (Về tuổi già – Cato Người xưa) của Cicero trong đó ông bàn về tuổi già nhưng viết dưới hình thức hỏi đáp giữa Cato Người xưa, triết gia, thế kỷ III TCN một cụ ông 84 tuổi (đúng ra Cicero, lúc viết tác phẩm này, chỉ khoảng lục tuần, đặt lời của mình vào … miệng của Cato) và hai thanh niên Scipion Emilien và Laelius (hai nhân vật có thật, ở độ tuổi 35, cùng thời với Cato Người xưa, đối tượng đóng vai “học trò” để Cato truyền bài học triết lý ở đời). Cicero hay dùng đối thoại giả định để bàn về triết lý một cách gần gũi và sống động.

Cicero thuyết giải về tuổi già lần lượt qua bốn khiếm khuyết, bốn khiếm khuyết mà ông biện minh rồi từ bỏ tiếp theo đó, với lập luận:

. sinh hoạt (ít hơn) – từ sinh hoạt quân sự, xã hội tới sinh hoạt trí tuệ hay sinh hoạt sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt giáo dục, …

. sức lực vơi kém

. hưởng thụ và sảng khoái cũng đi xuống – sảng khoái vật chất, sinh lý và sảng khoái trí tuệ

. gần đất xa trời hay tiếp cận cái chết

điểm thứ tư, cuối cùng ở trên – gần đất xa trời, hay nói khác đi quan điểm của Cicero về cái chết – là nội dung của bài này, được dịch dưới đây (2). Trong sách của Cicero là từ đoạn đánh số 67 tới đoạn 85.

.

Nguyên bản của Cicero được chép lại có đánh số các đoạn, có tiểu tựa nhưng đa phần không thay dòng. Người dịch dùng thư thuật xuống dòng khi cần để dễ đọc hơn.

Về phương pháp thì bài này được viết hai lần: lần đầu là bản dịch sát nghĩa, từng chữ. Lần thứ nhì là viết lại thành câu cú theo tiếng Việt. Sau này, khi có dịp, các chú thích điển tích sẽ được thêm vào.

Không chuyên môn dịch, nhất là dịch từ tiếng La tinh – kết hợp với tiếng Pháp, lại không giỏi Việt ngữ, tiếc nuối lớn nhất tác giả bài này là đã không thể hiện được cách hành văn của Cicero. Vài chỗ người dịch đã phải thu ngắn gọn vì thiếu kiên nhẫn nhưng được cái là vẫn cố gắng trung thành với nguyên tác.

.

Bác bỏ khiếm khuyết thứ tư của tuổi già: về sự tiếp cận cái chết

Đó là một sự cần thiết của thiên nhiên.

Già tức là cận kề ngày đi về lòng đất. Nhiều người lớn tuổi lo lắng và sợ chết. Thật là tội nghiệp cho những người đó, đã sống nhiều năm nhưng chưa học cách coi thường cái chết.

Cái chết thật ra là chỉ bước cuối của cuộc sống hay là bước đầu của một cuộc đời khác – một cuộc đời bất tử – chứ không có con đường thứ ba. Nếu là bước đầu của một cuộc đời mới thì thật là đáng mơ ước. Lý luận như vậy thì cái chết không còn là một sự việc đáng sợ. Mà sợ cái gì chứ? Rằng ta sẽ khổ  sở hay sẽ hạnh phúc sau khi chết?

Mặt khác, ngay cả đến cho người trẻ, họ đâu có chắc rằng sẽ sống đến già. Họ có thể bị bệnh nặng, đau đớn và lìa đời. May mắn thay là còn một số nhỏ người tuổi thọ cao, nhờ đó thế gian có được thêm người hiền, người bác học. Không có họ, thế gian đã không có những thành phố văn minh.

Bác (trong đối thoại với hai người trẻ, dịch sang tiếng Việt, Caton xưng “bác”) trở lại vấn đề cái chết đang đe dọa ta. Ta không nên ghép cái chết với tuổi già vì những người trẻ cũng có thể lìa đời như ta vừa nói trên. Chính bản thân bác , bác đã mất một đứa con trai tuyệt vời . Và cháu, Scipion, anh của cháu cũng đã lìa đời khi tương lai đầy hứa hẹn: cái chết là số phận chung của tất cả mọi lứa tuổi. Ta thường bảo rằng người trẻ thì hi vọng sống lâu, một hi vọng mà người già không được mơ tưởng.

Nhưng khi ta đã già thì làm sao còn hi vọng sống lâu được vì ta đã sống rồi. Nhưng thế nào là sống lâu? Cuộc sống, theo thí dụ của Argathonius đã trị vì tám mươi năm và sống một trăm hai mươi tuổi – cũng chưa hẳn là dài vì thế nào là dài khi ta thấy điểm chấm hết? Thật đúng vậy, khi đến cuối đường, quá khứ thì đã qua, có còn lại chăng là kết quả của những hành động tốt và những tiếng vang của các cách ăn ở hiền lành. Từng giờ đi qua, từng ngày, tháng hay năm cũng trôi qua và không trở lại. Chi bằng khi còn một khoảng thời gian để sống thì hảy bằng lòng với khoảng thời gian đó.

Anh kép hát không cần phải chơi tới lúc cuối tuồng. Chỉ cần làm sao cho khán giả yêu thích màn mà anh đã diễn. Nhà hiền triết cũng không cần phải đợi đến lúc được hoan hô vào phút chót. Vì một cuộc sống, dù ngắn ngủi, cũng đủ để ông/bà ấy làm điều thiện và sống tốt.

Mà nếu được sống lâu thì cũng không nên than thở vì, hãy làm như người nông phu, ông chấp nhận mùa hè tiếp theo mùa xuân để rồi sau hè là tới mùa thu.

Mùa xuân, hiện thân của thời trai tráng, trẻ, là biểu hiệu tương lai còn ở phía trước. Những mùa khác đánh dấu thời điểm của lúc gặt hái thu hoạch. Tương đương như vậy, tuổi già là lúc để nhớ những kỷ niệm xưa và để hưởng những vốn liếng đã tích lũy trước đó.

Cái chết của người già tiếp theo sau âu cũng chỉ là đúng luật thiên nhiên.

Nếu người trẻ phải chết thì có vẻ không thuận luật thiên nhiên, lại trái với thói thường. Cái chết của người thanh niên cho ta cảm tưởng như một ngọn lửa cao bị sóng gió dụi tắt. Còn cái chết của người già không khác nào sự tàn lụn của ngọn lửa tắt dần, như một trái chín mùi, tự rời cành mà rơi xuống đất, nhẹ nhàng, không bạo lực. Một người cao tuổi già cổi rồi rời dương thế là thể hiện đúng theo luật của thiên nhiên.

Cái chết thành dễ chịu đến nổi ta có cảm tưỡng như nhìn thấy đất liền và chạm tới bến tàu sau một hành trình dài trên biển.

.

Phải chuẩn bị để lìa đời

Thật ra, thời gian lúc tuổi già không có định mức còn lại bao nhiêu lâu. Người già sống đàng hoàng khi ông bà ấy còn hoàn tất được những nghĩa vụ và bổn phận của mình và không sợ chết. Như thế người già còn dũng cảm và mạnh mẻ hơn cả các thanh niên.

Đó cũng là câu trả lời của Solon, khi ông vua độc tài Pisistrate hỏi – “chổ dựa nào khiến ông can trường chống chọi”, ông đã bảo – “tôi dựa trên tuổi già”.

Cách đi đến cuối đường đẹp nhất vẫn là làm sao giữ được trọn vẹn suy nghĩ và sự nhạy bén của các giác quan. Phần còn lại là tùy tạo hóa – tạo hóa có quyền làm tiêu hủy công trình mà tạo hóa đã dựng nên – Như một người đóng tàu hay người xây nhà: khi họ đã có khả năng dựng nên một công trình thì họ cũng có khả năng phá vở nó một cách dễ dàng.

Con người sẽ bị phá tan bởi thiên nhiên, thiên nhiên đã trộn nên hồ vữa. Mà vữa hồ lúc mới xây thì rắn chắc, rồi từ từ, với thời gian cũng sẽ bị bong ra. Vì vậy người cao tuổi không nên bấu víu vào sự sống một cách thái quá hay trái lại, từ bỏ sự sống này một cách vô lý.

Chính Pythagore cũng tự cấm mình lìa đời trước khi có lệnh của đấng tối cao, của Tạo hóa, người gìn giữ sự sống

Nhà hiền triết Solon viết trên bia mộ rằng các bạn của ông không phải nén khóc than khi ông chết nhưng có lẻ Solon chỉ nghĩ tới tình cảm giữa những người bạn này với người quá cố.

Riêng bác, bác đồng ý với Ennius: Xin đừng có ai vinh danh tôi bằng những giọt lệ hay tiếng khóc than trước mộ của tôi.

Tại sao phải khổ sở trước cái chết vì sau đó còn hiện tượng trường cữu nữa mà.

Có thể ta phải đối diện với cái chết. Nhưng thông thường khoảng thời gian này ngắn. Sau đó, có thể ta còn cảm nhận, mà cũng có thể không còn biết gì hết. Nên cần suy nghĩ từ thưở thiếu thời rằng phải khinh thường cái chết. Nếu không, nếu lúc nào cũng khắc khoải lo sợ cái chết mà không biết lúc nào nó sẽ đến thì làm sao giữ cho giữ được đầu óc bình tỉnh?

Về vấn đề này, không cần dài dòng, bác không phải nhắc đến l. Brutus chết khi giải phóng tổ quốc, hay hai ông Decius, đi thẳng đến cái chết tự nguyện, Antilus thẳng tiến đến trường nhục hình để thể hiện lời đã hứa với địch, hay cái chết của hai Scipions đã dùng thân mình để cản đường của Carthalinois…

Như thế, những gì mà các thanh thiếu niên khinh thường chứng tỏ rằng các thanh thiếu niên này thất học mà còn thiếu văn hóa, Các cụ già thông thái thường lắc đầu ngán ngẩm trước các thanh thiếu niên như thế.

Linh hồn bất tử.

Bác không ngần ngại nói với các cháu về cái chết vì bác thấy rõ cái chết hơn các cháu, bác gần cận kề nó rồi

Bác nghĩ rằng cha của các cháu, Scipion và Lélius ạ, hai người đàn ông có tiếng tăm và rất gần bác, vẫn đang sống và sống trong một cuộc đời thật, một cuộc đời duy nhất đáng sống.

Đúng vậy, ở trên thế gian ta bị kiềm chế bởi thân xác, ta bị bó buộc phải thi hành những việc nặng nề. Chứ còn linh hồn, chuyện thần thánh, chuyện thiêng liêng và là chuyện ngàn năm, đâu có những cực khổ như ở dưới đất này. Nhưng bác nghĩ rằng các ông trời bất tử đã rắc các linh hồn trong thân xác con người để cung cấp cho thế gian những giám hộ, những người có khả năng quan sát trận địa của trời để giúp thế gian, Họ giúp với những biện pháp và những nguyên tắc rõ ràng.

Lòng tin tưởng này của bác đi từ những lý luận có phương pháp và nhất là nhờ bác biết được những nhà hiền triết. Như Pythagore và học trò của ông, những người kể như đồng hương, những người đã học từ các nhà triết lý Ý. Họ chưa bao giờ nghi ngờ rằng linh hồn ta có thể rời tính thần thánh trong tạo hóa.

Bác tin như thế cũng vì Socrate, người được xem như là người hiền trong tất cả mọi người hiền bởi nhà tiên tri ở Delphes, đã, vào ngày cuối cùng của Socrate, triển khai tính bất tử của linh hồn.

Đó Scipion, tại sao bác cho rằng tuổi già nhẹ nhàng, không có gì làm khó chịu hay rầy rà. Bác cho là thoải mái nữa.

Nếu bác không có lý khi nghĩ rằng linh hồn con người bất tử thì đó là một lầm lẫn dễ chịu vui sướng và suốt đời bác không từ bỏ cái lầm lẫn này đâu, Sau này khi bác chết rồi thì nếu có bị các triết gia phê bình thì lúc đó, hết nhận thức, hết biết rồi thì sợ gì bị phê bình!

Nếu chúng ta không thể trường cữu bất tử, thì cứ để con người rời đời lúc thích hợp nhất – vì thiên nhiên đã dự trù độ dài của cuộc sống của mỗi một chúng ta cũng như thiên nhiên đã tổ chức hết mọi sự. Tuổi già là màn cuối cùng của bi kịch thì có gì mà phải lo lắng, nhất là khi ta đã sống đủ.

Xénophon, Cyrus người xưa nói như thế này lúc qua đời:

Đừng tưởng rằng, các con thân mến của ta, cha sẽ không còn là gì hết khi cha rời các con. Thật vậy, khi cha sống, các con không thấy linh hồn của cha nhưng các con hiểu, qua hành động của cha, rằng linh hồn ấy ở trong thân thể cha. Hãy tin đi, linh hồn ấy vẫn hiện hữa dù rằng các con không thấy. Những người danh tiếng sẽ chẳng nhận được những vinh danh bất tử nếu linh hồn họ không giúp ta giữ dài lâu những kỷ niệm về họ,

Riêng bản thân bác, bác không thể nào chấp nhận rằng linh hồn sống trong thân thể để chết cùng lúc với thể xác. Hay rằng linh hồn mất khôn khi nó rời một thể xác thiếu khôn.

Trái lại bác tin rằng, khi thoát khỏi các ràng buộc thân xác, linh hồn thành trong sạch, không pha trộn và thành sự khôn ngoan. Hơn nữa, khi thân thể con người bị tan rã bởi cái chết, ta thấy các cấu thành biến mất. cát bụi thành cát bụi. Nhưng linh hồn vẫn hiện hữu dù ta vô hình.

Ngoài ra, các cháu biết là cái chết giống giấc ngủ. Khi ta ngủ, trong trạng thái thoải mái và tự do, linh hồn ta vẫn sinh hoạt, chỉ cho ta biết nhiều biến cố tương lai. Từ đó ta có thể đoán được sinh hoạt của linh hồn khi linh hồn ấy hoàn toàn độc lập với thân xác.

Chính vì thế, hãy vinh danh ta, như một vì thần đã nói, và nếu linh hồn phải chết cùng với thân xác. thì các cháu hãy gìn giữ kỷ niệm, những kỷ niệm không bao giờ mất.

Đó là những gì Cyrus nói lúc qua đời.

Chúng ta hãy nhìn chuyện của chúng ta chẳng hạn.

Bác không thể tin rằng, Scipion ạ, rằng cha của cháu, Paulus, hai ông tổ của cháu, Paulus và Africanus, rằng cha của chính Africanus, chú của ông hay hàng hà sa số những người đại danh, …bác không thể tin rằng họ đã nổ lực để gương mẫu lại cho hậu thế nếu họ không tin rằng hậu thế sẽ lưu danh họ. Đừng đi đâu xa, cho bác tự cao một chút, bác đã không cật lực đêm ngày, trong thời bình cũng như trong thời chiến, nếu danh thơm của bác dừng lại ở giới hạn của đời bác. Nếu mà giới hạn như thế thì bác đã suốt đời yên ổn nghỉ mệt, chứ không cực nhọc  đấu tranh. Dù là bác không biết cách linh hồn của bác nhìn thấy tương lai hay vùng sống dậy lúc rời đời bác.

Dĩ nhiên, tất cả những linh hồn đều không bất tử hay vẻ vang. Nếu người hiền triết đón chờ cái chết với tất cả cái bình thản, khác hẳn thói đời, là vì linh hồn của nhà hiền triết biết phân biệt và thấy xa, biết rằng nó sẽ đi về một nơi chốn tốt đẹp – một điều mà người thường không biết.

Riêng bác, bác rất mong được gặp cha của các cháu, những người mà bác đã kính nễ và thương yêu. Bác cũng muốn gặp, ngoài những người mà bác đã quen biết trong đời, tất cả những  nhân vật mà bác đã nghiên cứu, đọc và viết truyện về họ. Lúc rời đi, thật khó mà kéo bác lại để “nấu” bác như Pélias. Và nếu có ông trời nào cho phép bác trở lại thời niên thiếu, lại bi bô trong nôi thì bác sẽ một mực từ chối. Tại vì cuộc sống cho ta lợi thế gì? Hay đúng ra là những nặng nhọc buồn khổ? Bác không muốn than thở về đời mình như phần đông nhân tình thế thái, ngay cả những người thông thái. Bác không tiếc đã sống vì bác nghĩ rằng mình không sinh ra trên đời một cách vô ích. Bác rời đời, không như bác rời ngôi nhà bác mà như rời một quán trọ tạm thời, một chốn có bùn dơ để đi đến một nơi của toàn những linh hồn  linh thiêng. Bác sẽ gặp những người bác đã kể trên mà bác còn gặp lại Caton, con trai yêu dấu của bác. Bác đã can đảm đặt xác con bác trên dàn hỏa thiêu – đáng lẻ cha thì phải chết trước con – nhưng bác biết là bác không phải xa nó lâu, bác sẽ gặp lại nó.  

.

Kết luận

Đó là tất cả những gì bác có thể nói về tuổi già. Chúc hai cháu sống lâu để có thể bằng kinh nghiệm bản thân, hai cháu thấy bác có lý. Hoặc khẳng định lời bác nói.

 

xxx

 

Vài lời bàn của người dịch

Người ta xướng danh Socrate, Plato như những nhà hiền triết của thời trước Thiên chúa..

Cỏn Cicero thì ít nhất đã bươi tìm và như một nhà khảo cổ, đưa triết lý Hi Lạp vào La Mã, ông ít lý thuyết hơn, nói nhiều về cuộc sống hơn.

Tính hiện đại của triết lý Cicero

Hơn hai ngàn năm trước, giữa lúc thần kinh học còn rất sơ khai, Cicero khuyên là tiếp tục sinh hoạt trí tuệ để duy trì bộ não “những người già duy trì được khả năng tự nhiên của họ, với điều kiện là tiếp tục sinh hoạt”. Các bác sĩ hiện thời không khuyên khác hơn.

Ở chỗ khác, cũng bàn về tuổi già, ông nói đến các khiếm khuyết của tuổi cao. Cicero còn thêm cái chua xót cùa người cao tuổi là “cảm thấy mình thành gánh nặng cho người khác” nhưng không quên thêm vào là nhờ có người cao tuổi mà nhân loại có những kho kiến thức và những kho đạo đức xã hội.

Như thể mọi hiện tượng đều có hai vế, một bên tiêu cực nhưng bên kia tích cực.

Người cao tuổi sức khoẻ có vơi, không còn sinh hoạt nhiều trong xã hội nhưng bù lại được xã hội trọng vọng.

Về các cách hưởng thụ, lớn tuổi thì nhu cầu giảm đi, dù là nhu cầu sinh lý hay nhu cầu ăn uống, nhưng bên cạnh đó, người cao tuổi vẫn còn khả năng sống thân thiện với người chung quanh – tiếng Pháp là convivialité – đối thoại với người khác là một sảng khoái vừa xã hội vừa trí tuệ.

Cicero thuộc trường phái khắc kỷ, biết làm chủ cảm xúc của mình. Nên Cicero nói về cái chết như một sự vật khách quan, bình thường chứ không là cấm kỵ. Phương Đông, trừ Phật giáo, ít bàn về cái chết.

Cái chết theo Cicero được bàn đến như một thực thể tích cực. Cái chết là một cái kết bình thường, như trái cây chín thì rụng. Cicero thêm vào”tôi đến cái chết như đến bến đổ sau một hành trình dài trên biển”. Cicero tôn trọng “luật” của thiên nhiên dù không bàn đến số mệnh. Cicero, trong chừng mực đó, không đồng tình với tự tử.

Linh hồn bất tử là một giải thích để cái chết không còn là một mối lo. Nhưng Cicero đã vội thêm vào nhóm chữ “có thể sự bất tử của linh hồn chỉ là một ảo tưởng”.

Khái niệm “linh hồn” có thể cần giải thích thêm. Theo chữ la tinh, anima – có nghĩa là gió, là khí là thởlinh hồn là ý thức của con người, khác với cây cối hay con mèo con chó là ở chỗ đó – chúng không có ý thức, không có khái niệm “quá khứ – tương lai, sống – chết”. Cá nhân lúc sống thì bị ảnh hưởng bởi ý thức đó. Lúc một cá nhân chết, ý thức đó vẫn tồn tại, theo Cicero. Cicero không theo chủ thuyết duy vật – chủ thuyết này chưa hiện hữu thời bấy giờ. Nhưng cũng không thể khẳng định rằng Cicero duy tâm. Chết rồi đi về đâu, một trăm năm trước Thiên chúa, là một câu hỏi lớn. Cicero bảo rằng “chết là hết cuộc đời này”, nhưng có thể “linh hồn thoát khỏi cái vỏ thân xác và thành tự do hơn”. Ông cũng nói tới sự tồn danh của những bậc tiền nhân có danh tiếng. Tồn danh theo Cicero là một hiện thân của linh hồn vì nó bất tử. Cicero hoàn toàn tin cậy vào thiên nhiên và ông không sợ chết.

Khoa học, nhất là ở thế kỷ thứ XXI, khó mà tin có linh hồn. Nhưng một số khoa học gia vẫn tự đặt câu hỏi ” Mà lúc khởi thủy thì như thế nào?”. Khoa học biết từ cái Big Bang. Nhưng trước đó?

Cuối cùng, hình thức viết như trả lời cho hai người trẻ làm cho triết lý thành dễ hiểu, đơn giản, cụ thể và không khác nào đối thoại giữa ông với cháu, giữa thầy và trò, …

Cách hành văn của Cicero vừa cụ thể vừa đầy nhạc tính

Nhưng khi đã già thì làm sao còn hi vọng sống lâu được vì ta đã sống ri.

Anh kép hát không cần phải chơi tới lúc cuối tuồng. Chỉ cần làm sao cho khán giả yêu màn mà anh đã diễn.

Cái chết của người già giống như sự tàn lụn của ngọn lửa tắt dần ; cũng như một trái chín mùi, tự rời cành mà rơi xuống đất, nhẹ nhàng.

Nguyễn Huỳnh Mai


Nguồn tài liệu tham khảo:

(1) Cicero, Wikipedia tiếng Việt

https://vi.wikipedia.org/wiki/Cicero

(2)  Cicéron, De la viellesse (Caton l’Ancien). NXB Les belles Lettres, 2003. Sách song ngữ La tinh – Tiếng Pháp . Phần dịch trên đây là từ trang 76 đến trang 95.

Nguyên bản, tiếng Pháp và tiếng La tinh, on line, có thể đọc được ở đây (phần dịch của bài này thuộc đoạn XIX đến XXIII ) :

http://remacle.org/bloodwolf/philosophes/Ciceron/senectute.htm#CAT

.

Những trang khác cũng cần, để hiểu thêm quyển sách này hay để biết thêm về Cicero :

https://fr.wikipedia.org/wiki/Cato_Maior_de_Senectute

trang tiếng Anh sơ sài hơn

https://en.wikipedia.org/wiki/Cato_Maior_de_Senectute

Cicero tiếng Anh

https://en.wikipedia.org/wiki/Cicero

và Cicéron tiếng Pháp

https://fr.wikipedia.org/wiki/Cic%C3%A9ron

Từ chức hay không từ chức ?

 Bài này đã lên trang VHNA theo đường dẫn:

http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/dien-dan38/tu-chuc-hay-khong-tu-chuc

 

Đường dẫn này cũng hết hiệu lực từ 2018

Một bài cũ, cũ gần 5 năm, nhưng có lẽ vẫn còn tính thời sự vì quản lý của ta theo cách ứng phó chứ không … có kế hoạch đi trước đón đầu. Hi vọng là với tai nạn ở Bến Lức đầu năm Dương lịch, bộ máy công quyền sẽ ngồi lại suy nghĩ về những chính sách dài hạn, với tầm nhìn 15, 20 năm…

—-

Dịch sởi, hơn một trăm bé tử vong mới khám phá ra rằng đại đa số các bé này đã không được tiêm chủng. Bộ trưởng Y tế không nghĩ sẽ từ chức lúc này

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/173206/bo-truong-y-te-khong-nghi-tu-chuc-ngay.html

.

Tôi thật tình không đòi bộ trưởng Y tế phải từ chức. Quyết định đó là chuyện của bà, tùy quan niệm cá nhân về bổn phận và nhiệm vụ. Nhiều trường hợp khác, các Bộ trưởng cũng đâu có từ chức.  Bộ trưởng Giáo dục với vụ 34.000 tỉ cho sách giáo khoa hoàn toàn không cơ sở. Cách đây hơn một năm, Bộ trưởng Nội vụ cũng cũng chỉ mới nghe dư luận về chạy quyền chạy chức, …

.

Thật sự, toàn hệ thống quản lý xã hội ta đang có nhiều vấn đề trầm trọng.

.

Quá tải bệnh viện vì số bệnh viện ở các thành phố không đủ để đáp ứng nhu cầu. Dân ta tăng gần gấp đôi, nếu tính từ 1975 đến giờ, số giường bệnh có tăng cùng nhịp hay không ? Số bác sĩ ? Giá trị của đào tạo y khoa ?

Số sản phụ tử vong là một dấu hiệu cho thấy đào tạo Y khoa có vấn đề.

.

Về đào tạo, không những Đại học ta không bắt kịp các Đại học thế giới mà giáo dục mầm non, giáo dục cơ sở, ta đang ở đâu ? Ta đang đào tạo thế hệ tương lai như thế nào ? Những công dân sống chung hoà bình với nhau hay những người bất cần xã hội ?

.

Giao thông ? Có lẻ ta đang chấp nhận mật độ giao thông như một biểu hiệu của hướng đi lên của giàu có : dân ta càng ngày càng đủ khả năng mua xe máy và xe hơi. Nhưng số ki lô mét đường thì không tăng lên cùng vận tốc – tôi không chơi chữ đâu nhé –

.

Môi trường ? Chống đói ? Chống nghèo ? Tạo bình đẳng xã hội ? An toàn thực phẩm ? Bảo vệ nhân phẩm phụ nữ ? Chống các tệ nạn xã hội ?

.

Tất cả những vấn đề đó vẫn chưa thấy tiến bộ.

.

Có lẻ nhiều nhà quản lý xã hội ta hiện chỉ quản lý một cách đối phó chứ chưa ngồi lại hoạch định cho tương lai và cố gắng, một cách thực tình, từng bước đưa xã hội đi lên.

.

Thế nên, nếu phải từ chức vì công việc không thành thì nhiều người phải từ chức lắm chứ không riêng gì bà Bộ trưởng Y tế.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Art Gallery ở Ontario (AGO) – Canada

Cây trồng trong ô – một tác phẫm gây ngạc nhiên thích thú ngay sảnh vào, dưới giếng trời, của Bảo tàng AGO

Bảo tàng ở trong một tòa nhà của thế kỷ XIX nhưng được trùng tu và hiện đại hóa

Dĩ nhiên các tác giả cổ điển, Rembrand, Monet, Rodin, Matisse, Picasso …ở đấy, chứng tỏ sự … giàu có của Bảo tàng. Nhưng những tác phẩm của Canada khiến tôi chú ý hơn

Adrian Stimson với da của bison và khung sắt, nhắc ta đừng quên những cư dân khởi thủy của Canada, trước khi họ bị người châu Âu “đô hộ” và “cướp đất”. Đừng để mất những gia tài ấy.

Những người ở trọ – của Marian Dale Scott – đơn giản nhưng màu sắc và dáng dấp, nét mặt…cho ta đoán được thân phận của những cư dân trong ngôi nhà có cầu thang chung

img_3606

J.F.H. MacDonald, Maple Saplings, October – Mùa thu lá vàng, cây non, ở đây thật là tinh tế

Cũng như đại đa số các bảo tàng ở Âu Mỹ, trẻ con được chú ý đặc biệt

Chúng … tập tành sáng tác nghệ thuật trong khi cha mẹ ngồi chờ bên cạnh

Sau một ngày “vất vã” tham quan, quán café của bảo tàng đón chúng tôi – cách kiến trúc ở đây nhắc lại mẫu của sảnh với gỗ và những đường cong

 

Nguyễn Huỳnh Mai – bài và ảnh