Skip to content

Lang thang: Trẻ chơi để làm gì?

A quoi sert les jeux des enfants ?

.

Một bài cũ, xin mang đăng hôm nay để trả lời một bà mẹ trẻ

.

Chơi để trải nghiệm. Trẻ thường nói «Để giả bộ» «Ta cứ làm như…» khi chúng chơi bán hàng, khi chúng chơi làm bếp, khi chúng giả làm Tarzan hay chúng chơi với búp bê…

Có thể chơi một mình. Độc thoại là cách phát triển tưởng tượng.

Chơi có lúc cần bạn, cần đối tác.

Khi chơi như vậy, trẻ học sống trong xã hội, vào các vai khác nhau, học cư xử, học kính trọng người khác, học các «luật» chơi,… Tất cả những cơ hội đó giúp chúng học nói, học làm giàu vốn ngôn ngữ và nhất là học sống với người khác trong những tình huống mà chúng dàn dựng nên.

Chơi để trải nghiệm một cách an toàn

Khi chơi trẻ có thể thành công. Mà nếu có thất bại cũng không hề gì vì chỉ là «giả», chúng có quyền làm lại mà không bị hậu quả tiêu cực.

Chơi cũng để học quyết định

Không phải chuyện đùa. Biết người biết ta, với vốn liếng là những quan sát thường ngày, khi chơi trẻ tập tành khả năng lấy quyết định, dù chỉ là quyết định trong trò chơi, với bạn đồng trang lứa.

Chơi giúp não phát triển. Tưởng tượng các tình huống lúc chơi là một bài tập giúp các tế bào não cấu trúc những dây liên hoàn, và từ đó kích thích các tiềm năng của não bộ.

Về tri thức, chơi cũng là lúc trẻ học cách dự trù …chiến sự, nhận thức cách các bạn cùng chơi để tìm phương thức thích ứng nhất, để hòa đồng hay để ứng phó.

Chơi còn để thử thách khả năng của mình, để thi đua với bạn nếu chơi cùng với bạn, để «học» thêm đủ thứ – từ cách chơi, cách đi đến thắng lợi hay cách tương trợ lẫn nhau nếu là một trò chơi nhóm -.

Cái hay là sự ngẩu nhiên. Trẻ cần khám phá cái mới, cần những điều bất ngờ, nếu chỉ theo lối mòn – nhiều bài học là những lối mòn – thì còn gì hứng thú?

Để cho trẻ chơi tức là cho chúng học đấy. Cho chúng học tự lập, phát triển bản thể và lớn lên. Chơi có mục đích – ngầm – giúp chúng học sống ở đời. Nhất là đối với trẻ ở tuổi mầm non.

Chơi với mười ngón tay. Chơi với thân thể, với khí quản của mình, Chơi với môi trường chung quanh, chơi với bút chì và sách – bất cứ sách nào – , chơi với thiết bị có sẳn trong lớp hay với những dụng cụ mà chúng tự chế biến lấy.

Chơi một mình, chơi với cô hay thầy, chơi với bạn và từ đó tự ý thức ra cách sinh hoạt xã hội. Từ từ sáng chế ra hay tuân thủ những «luật chơi».

Bắt đầu và chấm dứt một cuộc chơi tùy hứng. Thầy cũng cần ở đó để giúp chúng có những khoảng lặng cần thiết.

Cô giáo ở đó để … cùng chơi với chúng, cổ động chúng, co giản tùy trường hợp để trực tiếp hay gián tiếp giúp chúng tiếp tục chơi. Để gợi ý chứ không điều khiển. Quan sát trẻ chơi – một mình hay với nhóm – giúp cô hiểu các cháu hơn và có khả năng thích ứng với các nhu cầu của chúng.

Cô giáo mầm non cũng cần tổ chức … các bài học dưới dạng những bài chơi: đóng kịch, thủ vai, thi đua vẽ hay thi đua hát

Không cần những trò chơi giáo dục. Vì giáo dục quá trò chơi thành hết thích thú. Cái cần là chơi để trẻ có dịp sáng tạo. Một trò chơi với định bày từ A tới Z, với chủ đích giáo dục này nọ, với luật chơi rườm rà, … giết hết tưởng tượng của chúng.

Hiện tại, cha mẹ thì mua những trò chơi có chủ đích học, thầy giáo thì vận dụng hết mọi cơ hội để cho vào đầu trẻ những kiến thức khoa học hay hàn lâm. Học đọc học viết học toán học vật lý, lịch sử, học cả công dân giáo dục. Các trò chơi cũng bị giáo viên dùng như cơ hội để dạy một cái gì đó. Những chương trình người lớn đưa cho trẻ như thế là những chương trình học chứ hết là chơi.

Trò chơi thành có tổ chức, có hướng đạo, thành chuyện của người lớn chứ hết là cái vô vụ lợi đầy bất ngờ và đầy lý thú.

Bài học mà trò chơi để lại cho trẻ là tập tành vượt khó, giải quyết các vấn đề, kiên nhẫn làm lại khi thất bại. Trong tất cả mọi tình huống, trẻ là người chủ động chứ không lệ thuộc luật chơi. Trẻ có khả năng đặt luật chơi riêng của chúng.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

Giả thuyết cho vấn đề tự tử ở giới trẻ

Bài này đã đăng ở đây (2013) :

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/gia-thuyet-cho-van-de-tu-tu-o-gioi-tre-720008.htm

Một em bé tự tử ở tuổi lên mười, để lại một thư tuyệt mệnh trong ngăn bàn học,

Một học sinh nhảy từ tầng 23 một cao ốc trong giờ đi học thêm,

Một thanh niên đang đi chơi bất ngờ dừng xe, nhảy cầu tự tử vì buồn,

Một cô gái trầm mình ở hồ sâu đến chết…

Còn những tự tử khác mà không ai biết vì “không kèn không trống”?

.

Tại sao những “nạn nhân” ấy đi tìm đến cái chết?

Tự tử có thể là một ngôn ngữ. Có những người dùng nó để kêu cứu, có những tự tử vì bế tắc, có những người đi tìm cái chết để tự giải thoát hay để tự cho mình một “giá trị”, thành “anh hùng”…

Ở đây chỉ xin phân tích vài giả thuyết về nguyên nhân của việc đi tìm cái chết.

.

Nguyên nhân đầu có thể là vì hoàn cảnh bế tắc.

Cách đây sáu tháng, tôi có viết trên Dân trí:

Người tự hủy hoại thân thể không tìm ra được cách nào khác, không tìm ra được lời nào để diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng mình. Họ khổ sở vô cùng, trong đầu và trong thân thể- một thương tổn lớn lao – . Không còn một thứ gì quan trọng đối với họ, kể cả cuộc sống của họ, kể cả sự vẹn tròn thân thể của họ.

Con người vốn có nhiều phản xạ sinh tồn, lúc mới chào đời là đã biết bú để nuôi thân. Khi lớn hơn, lúc lỡ chạm lửa thì rút tay lại, lúc bị lạnh thì toàn thân run lẩy bẩy để tự sưởi ấm…

Cái quan trọng của thân thể ăn sâu vào tâm linh của mỗi một trong chúng ta vì từ lúc mới chào đời, thân thể ta đã là phương tiện duy nhất cho ta cảm nhận được sự chăm sóc nâng niu thương yêu bởi mẹ cha và bởi thế giới chung quanh. Thân thể cho ta khoái cảm và hạnh phúc là như thế.

Thế nhưng, có những tình thế mà người trong cuộc thấy bế tắc hoàn toàn, nhất là khi bị tổn thương trước “thanh thiên bạch nhật”. Cái hổ thẹn trước xã hội làm cho hoàn cảnh thành nghiêm trọng, ta thành người tuyệt vọng.

Tự tử trong tình huống ấy là giải pháp của người bị dồn đến chân tường.

.

Nhưng tại sao tình huống ra nông nổi ?

Durkheim (1858-1917), người được xem như cha đẻ của ngành xã hội học ở Pháp, đưa ra khái niệm “anomie” hay “thiếu cấu trúc”, một vấn đề xã hội.

Thiếu cấu trúc khi những luật lệ xã hội không còn ràng buộc các thành viên một cách có hiệu quả, khi chính các thành viên này mất điểm tựa, mất khuôn mẫu để sống trên đời. Điểm tựa có thể là gia đình, là người yêu, là công việc hay xí nghiệp nhà máy, là các tổ chức đoàn thể, là trường học. Tóm chung, là môi trường trong đó cá nhân sốngđược tôn trọng.

Hai chữ này quan trọng.

Xã hội không những là môi trường sống của cá nhân mà thôi. Môi trường đó phải chính thức thừa nhận tư cách thành viên của cá nhân, tổ chức phân công, chia quyền lợi và nghĩa vụ một cách công bằng và tôn trọng những cá biệt của mỗi thành viên. Đó là một loại «khế ước» không thành văn, có qua có lại như một khung cửi dệt lụa, thành một hệ thống có cấu trúc. Khế ước này ràng buộc các thành viên trong cộng đồng.

Sự đoàn kết hay tương trợ giữa các thành viên trong xã hội nằm trong khế ước đó.

Thành ra, khi tình thế xã hội thành anomique hay thiếu cấu trúc, như một mẫu lụa đang dệt bị cắt đứt, các liên hệ kể trên bị gián đoạn, không còn hài hòa. Từ đó, một trong những thành viên có thể cảm thấy bơ vơ, mất chỗ tựa hay tệ hơn nữa, bị ruồng bỏ, thành đơn thân độc mã ở trên đời. Tự tử có thể là một trong những phương thức tiêu cực xãy ra trong hoàn cảnh ấy, vì thiếu yêu thương, thông cảm, không một cánh tay nào đưa ra để ta có thể bám víu…

.

Còn một giả thuyết nữa về bạo lực và “lấy cái chết như phương tiện giải quyết vấn đề”.

Tại sao những người trẻ, theo nguyên tắc thì cuộc sống còn dài trước mắt, có bế tắc thật đấy, nhưng tại sao các em, các cháu ấy lại dùng phương tiện giải quyết vấn đề một cách đầy … bạo lực như thế – không tiếc cả mạng sống của mình!

Phải chăng bạo lực đã nằm trong “ngôn ngữ” thường nhật của xã hội? Ra đường đụng xe thì gây gổ có khi thành án mạng, tranh cãi về đất đai thì đem xe ủi tan nhà người khác, cướp của giết người thành cơm bữa…

Giới trẻ, với những “khuôn mẫu” chung quanh như thế, dùng phương pháp «mạnh tay» để giải quyết vấn đề đã thành… bình thường.

.

Nếu các giả thuyết trên đi vào hiện thực thì xã hội phải làm sao thay đổi lối sống cũng như cách ứng xử và thay đổi gấp để cứu vãn tình thế.

Nguyễn Huỳnh Mai

 

Tài liệu tham khảo:

http://dantri.com.vn/khoa-hoc/tu-huy-hoai-than-the-tu-goc-nhin-cua-tam-than-hoc-656885.htm

Durkheim E., Le Suicide. NXB Presses Universitaires de France, 1960.

Về văn hóa đọc – Vài gợi ý cho người quản lý.

Bài này khởi thủy tôi đã viết từ hơn 5 năm rồi. Hôm nay thấy VHNA có bài về tình trạng u ám của thư viện tỉnh, huyện và làng xã ở Nghệ An, xin mang ra vài kinh nghiệm của một quản thư nghiệp dư ngày xưa …

Chuyện riêng, nhưng tôi đã rất hạnh phúc lúc học quản thư – 100 giờ, một thế giới vừa kỷ thuật vừa văn hóa

 

Dưới đây là vài gợi ý cho giới quản lý để tạo và phát triển văn hóa đọc cho dân chúng:

.

1. Làm sao để mọi người đều có khả năng tiếp cận sách đọc tại chỗ hay được mượn về nhà. Đừng nói dân không có văn hóa đọc. Đem sách đến gần với mọi người để gầy dựng nhu cầu đọc và giúp mọi người khám phá cái hạnh phúc của việc đọc sách.

Để bắt đầu một tủ sách nhỏ hay thư viện công cộng, không cần nhiều, 300 đầu sách là có thể «khởi nghiệp». Lại không cần vốn. Có thể đi xin các nhà xuất bản hay các hiệu sách (những sách có vài lỗi in ấn hay nhăn nhíu ở bìa, không bán được chẳng hạn), hay huy động các mạnh thường quân.

Thư viện là một đồng minh rất tốt của bất cứ tiệm sách hay nhà xuất bản nào vì thư viện giúp nâng cao nhu cầu đọc và họ bán sách được nhiều hơn. Vì thế họ sẽ tài trợ cho thư viện.

Dù ít sách nhưng cần  có nhiều loại để trả lời được đa phần các sở thích. Người quản thư cũng ở đó để giới thiệu từng quyển và khuyến khích độc giả khám phá các sách mới

.

2. Tổ chức một hệ thống thư viện làng xã hay của khu phố. Tốt nhất, về địa lý, nên cho thư viện ở một nơi không xa hơn  2 hay 3 cây số so với chỗ ở hay nơi làm việc, học hành, sinh hoạt của dân tình (=khoảng cách đi bộ được). Nếu không thì có thể nghĩ tới những xe thư viện di động đi từ làng này qua làng khác có định kỳ, hàng tuần hay hàng tháng. Như thế có thể phục vụ cho nhiều người ở nhiều nơi, với một chi phí tối thiểu

.

3. Tủ sách hay thư viện thôi chưa đủ, phải tổ chức những sinh hoạt về sách, giới thiệu sách, đọc truyện, trại viết sách, gặp gở các nhà văn. Con người là một con vật xã hội, có tính bầy đàn, theo đám đông – đó là một lý do khiến các lễ hội lúc nào cũng chật người –. Văn hóa đọc cần dựa trên đặc thù này để ăn sâu bắt rễ vào tập quán của dân… Theo nguyên tắc, người quản thủ thư viện có khả năng tổ chức các sinh hoạt này.

.

4. Đào tạo những quản thủ thư viện nghiệp dư làm việc không cần lương, để có thể mở tủ sách cho khu phố hay làng hoặc ở nơi sâu nơi xa. Đừng nói rằng ta thiếu nhân sự. Chỉ cần so sánh nếp sống ở Việt Nam và nếp sống ở Tây Âu ta sẽ thấy rằng dân ta … nhàn rổi hơn nhiều. Người cao tuổi, những bà nội trợ, … đều có thể trở thành những quản thủ thư viện nghiệp dư. Một quản thư nghiệp dư chỉ cần 100 giờ học để biết cách tổ chức, xếp sách theo phân mục, phục vụ độc giả, giới thiệu sách, học lịch sử sách, và học vài vốn cơ sở về văn chương về khoa học để quản lý một thư viện với 5000 đầu sách. 10 giờ đủ để đào tạo một quản thư cho 300 – 500 sách.

.

5. Tập tành thói quen tiếp cận sách cho trẻ, bắt đầu từ năm 3  tuổi, ở nhà trẻ,  ở trường mẫu giáo. Thói quen này bắt đầu sớm chừng nào tốt chừng ấy – các con và các cháu tôi tiếp cận với sách từ lúc còn ở trong nôi – . 3 tuổi, các cháu chưa biết đọc nhưng nhu cầu tưởng tượng và tiếp cận thế giới, hay những thế giới, kể cả vũ trụ hoang đường, … của các cháu rất lớn. Không nắm cơ hội,  nhu cầu này ở các cháu sẽ mai một – các cháu sẽ thay vào đó nhu cầu xem TV hay chơi games trên máy tính chẳng hạn.

Đừng quên rằng xem TV là một sinh hoạt thụ động trong khi đọc sách là một sinh hoạt trí tuệ.  TV không giúp các cháu phát triển khả năng của não (xem TV được xem như một “tiêu thụ hình ảnh”), trong khi đọc sách là một phương tiện rất tích cực cho việc này. Trong dấu ngoặc, một số trí thức Âu Mỹ quyết định không sắm TV  ở nhà để con cái họ dành giờ rảnh cho những sinh hoạt có tính sáng tạo hơn.

.

6. Cổ động để các trường học và giáo viên … vào cuộc và đồng hành trong việc giúp học sinh tiếp cận với sách, không những sách giáo khoa hay sách tham khảo mà còn sách để giải trí, để làm quen với cái đẹp của văn chương, của trí tưởng tượng đồng thời phát triển khả năng ngôn ngữ và khả năng sáng tạo. Các khảo cứu cho thấy là các trò giỏi thường đọc ít nhất là một quyển sách mỗi tuần, những sách ngoài chương trình học.

.

Khéo tổ chức, thư viện sẽ góp phần phát triển những sinh hoạt khác, đi xa hơn việc đọc sách.

Thật vậy, thư viện có thể thành

. nơi sinh hoạt văn hóa cho một làng, một xã hay một khu phố, bên các giá sách ta có thể tổ chức những buổi hòa nhạc, hát múa hay thuyết trình

. nơi người dân gặp nhau, già hay trẻ, nam hay nữ, một thói quen văn minh (thay vì tụ tập nơi hàng quán uống rượu), Như thế thắt chặt thêm tương trợ xã hội và ngừa … phạm pháp.

.

Victor Hugo bảo rằng «Mở một trường học là đóng cửa một nhà tù»… Mở một thư viện cũng sẽ cho những kết quả tương tự.

Mang sách đến cho mọi  người thay vì ngồi đó mà trách dân không có văn hóa đọc.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

.

Viết thêm:

Thay vì đăng hàng ngày các ảnh của người nổi tiếng, có thể gợi ý các báo cho thêm vào các ảnh đẹp của người, từ trẻ đến già, đọc sách, một loại message subliminal – gợi ý, không cần dài dòng bình luận, như giọt nước nhỏ nhưng lâu ngày làm đá mòn – sách sẽ từ từ đi vào thế giới của độc giả.

Không là nhiếp ảnh gia, không có ảnh đẹp, nhưng xin có …vài đóng góp :

https://huynhmai.org/2016/04/20/doc-sach-2/

https://huynhmai.org/2016/03/30/un-bel-endroit-pour-lire-en-paix/

https://huynhmai.org/2016/03/19/doc-sach/

Thử định nghĩa lại các vai trò của trường học

Tentative de redéfinir les fonctions de l’école

Bài này vừa được lên trang ở đây:

http://www.sggp.org.vn/thu-dinh-nghia-lai-cac-vai-tro-cua-truong-hoc-512257.html

 

Những “lệch chuẩn” mà ta hiện thấy ở trường có thể đi từ các nguyên nhân sâu xa, trong đó có quan niệm về vai trò của trường học..

.

Đường đi tới tri thức đã thay đổi.

Ngày xưa, trường học là nơi truyền tri thức, trò được thầy dạy thơ văn và đạo thánh hiền,

Tiếp đó, từ gần hai thế kỷ nay, báo chí, truyền thông, truyền hình cũng lo vai trò truyền kiến thức, trực tiếp hay gián tiếp.

Bây giờ thì internet, mạng xã hội thêm vào và đồng thời báo chí vẫn giữ một số vai trò trong việc thông tin.

Thế trường học có còn là nơi để truyền hay chuyển giao hiểu biết ?

.

Vai trò của trường học được các nước như Bỉ, Pháp, Phần lan định nghĩa như là nơi để trẻ học làm người, tiếp thu kiến thức để phát triển, học giải mã các hiện tượng quanh chúng và nhất là nơi để chúng sống hạnh phúc.

Trường là nơi giúp trẻ sống hạnh phúc để lớn lên và thành người.

Câu nói ngắn gọn nhưng công việc khó khăn. Bàn tay có ngón dài ngón ngắn, trẻ cũng thế, mỗi em là một cá thể đặc biệt, không có hai em giống nhau. Sứ mạng của trường là giúp các em có dịp để phát triển  theo những điểm mạnh và điểm yếu của mình. Để các em biết mình là ai, tự định nghĩa và chọn mẫu người mà các em muốn trở thành.

Để được như vậy trường học phải đi từ các em – dạy lấy trò là trung tâm không chỉ là một khẩu hiệu mà là một triết lý cần được mang vào thực tế hàng ngày.

Ở mẫu giáo, các atelier, sinh hoạt nhóm sinh hoạt tự chọn, giúp trò có những phút “học” theo nhu cầu. Cô giáo ở đó để hướng dẫn khi cần và để bổ sung vào sinh hoạt của từng nhóm. Sau cùng, cuối giờ các cháu cùng có những cơ sở chung dù sinh hoạt khác nhau.

Những sinh hoạt tổ chức như thế giúp trẻ tự tin và hăng say trên đường học hỏi. Lại có dịp phát biểu nhu cầu và sự lựa chọn của mình.

Tương tự như thế, từ hơn ba mươi năm nay, nơi các thư viện dành cho trẻ em, các bậc cha mẹ được mời ngồi chờ con ở phòng đợi, trong khi con vào thư viện chọn sách, tự chọn.

Ở Tiểu học, dĩ nhiên là chương trình gò bó hơn, phải đạt tới những kiến thức tối thiểu của từng năm học – nhưng không có gì cấm các giáo viên thay đổi cách “giáo đầu tuồng” để chuẩn bị các em cho từng môn học – để các em thấy là cần biết đọc để phát triển, để làm chủ môi trường trong đó có chữ viết hay bàn phím –và xa hơn là vũ trụ trong đó các em sống. Hiểu biết là để đi xa hơn trên đường đời – nhìn dưới khía cạnh đó, các bài học về khoa học cả khoa học thiên nhiên hay khoa học xã hội đều là những công cụ để phát triển và trường học khi truyền tri thức là giúp các em phát triển.

Chỉ có một khác biệt: ở đây không là truyền kiến thức kiểu lấp đầy hay …nhồi sọ. Mà truyền kiến thức để các em lớn lên, tiếp cận nội dung và biến những tri thức này thành kỷ năng.

Một cách ví von, các tri thức trò lĩnh hội ở trường là những mãnh ghép riêng lẻ. Trò dùng các mãnh ghép đó tùy lúc tùy nơi, khi mình cần để tạo ra một puzzle vĩ đại của đời mình.

Chủ đích khác, phương pháp sư phạm phải khác và các em hấp thụ – ở đây là hấp thụ chứ không là tiếp cận phiến diện hay chỉ có phằn nổi, bề mặt – biến tri thức thành một phần bất ly thân với chính mình.

.

Vai trò thứ hai của trường học là giúp các em có môi trường để sống với xã hội, tập tành vai trò của mình trong thế giới tha nhân, rộng hơn gia đình và từ đó hấp thụ đạo đức xã hội.

Vai trò này không kém phần quan trọng.

Ở nhà trẻ chỉ biết có cha mẹ ông bà và anh em – thế giới hạn hẹp, trong đó có khi trẻ là …”quí tử” hay “enfant roi”, được nuông chìu tuyệt đối.

Ở trường, trẻ có thầy có bạn. Các ngôi thứ thành phức tạp hơn. Trẻ từ từ định được vị trí xã hội của mình.

.

Nếu gia đình đảm trách vai trò xã hội hóa đầu tiên – socialisation primaire – tập tành cho trẻ sống với một xã hội nhỏ. Trường học lo xã hội hóa thứ nhì – socialisation secondaire – cho trẻ. Trẻ chưa ra biển khơi – tiếp xúc với toàn xã hội – nhưng trường học mở rộng chân trời cho trẻ – mười hai năm – nếu chỉ tính mẫu giáo và THCS – ở nhà trưởng như thế, trẻ được tôi luyện để vững bước trên đường đời, ra ngoài xã hội. Biết mình, tức là phần “phát triển cá nhân” – vai trò đầu của trường. Biết người – phần xã hội hóa thứ nhì ở đây. Thế là trẻ… sẳn sàng.

Trong dấu ngoặc, Rousseau nói “học sống – apprendre à vivre –là như thế. Sống với mình và sống với tha nhân.

Sống với mình có nghĩa rằng biết mình là ai, những đặc thù, sở trường sở đoản, biết tự lập, biết tự trọng, biết bày tỏ ý kiến và chính kiến – tất cả với sự khúc chiết thông minh chứ không chỉ vì bản năng hay cảm tính.

Sống với tha nhân là biết luật biết lệ, biết tôn trọng tha nhân, có đạo đức xã hội. Sống với tha nhân không chỉ tóm gọn trong khả năng “biết làm việc nhóm” như một số kết luận vội vàng và thực dụng

Còn sống với môi trường nữa. Trái đất hiện nuôi bảy tỉ cư dân, không bảo vệ môi trường thì ngày mai không còn đất để sống.

Vấn đề xả rác ở bên ta có thể là kết quả của một sơ sót chỗ nào đó của vai trò tập tành trẻ sống với môi trường.

Tinh thần trách nhiệm  là một vốn đạo đức mà trường phải tạo điều kiện để trẻ lĩnh hội. Trách nhiệm với chính mình – cuộc đời cá nhân thành công hay thất bại là do mình mà thôi – trách nhiệm với tha nhân cũng là một vế cần hội tụ và làm tốt bởi trường học.

Mỗi cá nhân là một mắc xích, ta phải liên đới với hai mắc bên cạnh, để sống trong xã hội – Ví von này cũng của J.-J. Rousseau.

Trường học không những chỉ dạy chữ. Trường còn là nơi học làm người sống trong xã hội.

.

Trường giúp trò sống hạnh phúc. Trẻ đến trường từ lúc lên ba cho đến năm 15 – 18 tuổi. Những năm đẹp nhất đời. Nếu trẻ không hạnh phúc ở trường thì trường học thành nhà tù.

Được bảo vệ, được tôn trọng, được thỏa mản các nhu cầu tình cảm, xã hội và nhất là trí tuệ, trẻ từ từ tực định nghĩa mình và tìm chỗ đứng của mình trong xã hội.

Muốn gíúp trò hạnh phúc, liên hệ thầy trò phải là một liên hệ hợp tác chứ không là một liên hệ quyền lực. Nội dung chương trình phải dựa trên nhu cầu của trò. Phương pháp sự phạm phải lấy trò làm trung tâm, cho phép trò tham gia tích cực vào việc học. Trường hết là nơi để … khai tâm hay truyền hiểu biết mà là nơi tổ chức việc học cho trò…

.

Việt Nam ta đang đổi mới chương trình và sách giáo khoa. Ta dùng nhiều ngữ vựng sư phạm theo Âu Mỹ, dạy tích hợp, liên môn, đa môn, … nhưng có lẻ ta chưa nêu lên một sợi chỉ đỏ tối quan trọng : trao quyền cho trò, tổ chức việc học theo nhu cầu của trò với sự tham gia tích cực của trò.

Với một điều kiện mà ta chưa giải đáp được: không thi cử chấm điểm xếp hạng mà cho thi cử vào quá trình học và dạy và dùng thi cử như một công cụ đào tạo – để biết chỗ nào đã thông suốt, chỗ nào cần đào sâu thêm – chứ không là một chế tài.

Để làm sao cho mỗi trò, mỗi ngày đi học là một ngày vui.

Nguyễn Huỳnh Mai

Xã hội chờ đợi gì ở người trí thức?

Xin đăng lại một bài cũ với những băn khoăn về định nghĩa của “trí thức” –  trí thức, tầng lớp tinh hoa của xã hội, là người có học? có đạo đức ? người  thuộc tầng lớp quan lại ? …

Qu’est-ce que la société attend des intellectuels ?

.

Giải mã các hiện tượng, suy nghĩ, phân tích, dự đoán, …

.

Trong bài biện hộ trước các quan toà, Socrates tự so sánh mình như một con ruồi trâu «chích» để thôi thúc xã hội bằng cách gieo rắc sự nghi ngờ và «kiểm tra những người tự cho mình là khôn ngoan nhưng thực sự họ không như thế»

Platon, Apologie de Socrates. Paris, NXB Garnier-Flammarion, 1967, tr. 45.
.

Dẫn chứng này minh họa ít nhất là một chuyện: trí thức có thể không là người tham chính. Nhưng họ góp ý cho người quản lý, bắt những người này bớt chủ quan, bớt vỏ đoán hay bớt … ngủ quên.

Tức là đóng vai trò phản biện. Tức là đóng vai trò nói lên sự thật.

Nguyễn Huỳnh Mai

Cô dâu trưởng nhà tôi

Texte bilingue – la version française se trouve un peu plus loin:

Hai mẹ chồng-nàng dâu, tay trong tay, như hai người bạn thân thịết …

 

 

Cô ấy về “nâng khăn sửa túi” cho con trai tôi khi mới 24 tuổi, khi cô đã học xong Cao học và đang soạn Tiến sĩ. Thế là cả hai vợ chồng cùng tương trợ lẫn nhau để cùng học, cùng lo việc sinh sống và nhất là nuôi dạy hai cậu bé, hiện lên 5 và lên 9.

Trên lý thuyết, mẹ chồng-nàng dâu thường có những liên hệ … phức tạp vì cả hai cùng yêu một người đàn ông – chồng của cô dâu và đồng thời là con của bà mẹ. Người đàn ông trong câu chuyện thường lại ít tế nhị và hay có những … so sánh kiểu “mẹ anh nấu cơm ngon hơn em”, …

Thế nhưng những lý thuyết đó không tuyệt đối.

Ở đây, con trai tôi biết là mẹ mình lùi vào “hậu trường” để, từ lúc cưới vợ xong, hai vợ chồng anh phải  song hành cùng nhau tiến bước trên đường đời.

Mười bốn năm đã trôi qua như thế với cô dâu trưởng của tôi: cô xong Tiến sĩ, trình luận án khi mang thai đứa con đầu lòng. Cô cùng chồng mua một căn hộ, xây tổ ấm. Cô ở nhà nuôi con tới lúc con tròn một tuổi. Rồi cô đi làm, ổn định nghề nghiệp. Cô cho bé thứ nhì chào đời. Vẫn tiếp tục xây dựng chỗ đứng xã hội, thậm chí dám rời bỏ xứ Bỉ để sang lập nghiệp ở Mỹ với chồng…

Chuyện cơm nước hàng ngày thì đa đoan : cô phải tranh đấu để hoàn thành hết các công việc. Kết quả là hai cháu nội của tôi được nuôi dạy đàng hoàng : chúng có vẻ vui với “số phận” của mình, học chữ, học đàn, học karaté lại đi sinh hoạt hướng đạo mỗi tuần. 

Tóm gọn trong một câu : cô dâu trưởng nhà tôi là một phụ nữ trẻ, ý thức được bổn phận, biết giá trị của mình và biết đạo làm người.

.

Hai “mẹ chồng-nàng dâu” chúng tôi đã có rất nhiều lần đối thoại cùng nhau: từ chuyện chợ búa cơm nước, tới chuyện dạy con dạy cháu. Và hơn thế nữa, những vấn đề văn hóa, giáo dục vĩ mô,…

Trong một bối cảnh xã hội mà thống kê cho thấy là phân nửa các cặp đôi chia tay nhau, gãy gánh giữa đường, tôi mong là con dâu tôi hạnh phúc với gia đình nhỏ của cô ấy. Tới già. Ngay cả khi vợ chồng tôi và cha mẹ ruột của cô ấy khuất núi.

.

Ma première belle fille.

Elle est “entrée” dans notre famille à l’âge de 24 ans.

L’expression vietnamienne, pour désigner son rôle est “nâng khăn sửa túi” ou litteralement “celle qui s’occupe du linge et des poches de mon fils aîné” autrement dit être “être son ministre de l’intérieur, gérer son ménage et …le servir” – mais nous ne lui avons pas imposé cette position !

En fait, elle fonde une nouvelle famille avec mon fils

A ce moment, elle avait déjà sa maitrise en Biologie et en train de préparer son PhD. Cela veut dire que ce couple, à partir de ce moment là, devrait être solidaires entre eux pour les recherches doctorales, pour vivre et pour élever leurs enfants – ils en ont deux – qui ont actuellement 5 et 9 ans.

.

En théorie, la relation entre belle mère et belle fille est compliquée car ces deux femmes aiment le même homme: le fils de la belle mère et le mari de la belle fille. Parfois, la situation s’agrave avec des comparaisons, maladroites et imputables à ce même homme, du genre “la cuisine de ma mère est meilleure que toute autre” …

Mais cette théorie n’est pas absolue.

Ici, mon fils sait que sa mère se retire au deuxièm plan à partir du moment où il se marie et où il devra bâtir sa vie avec son épouse,

.

Quatorze ans se passent ainsi depuis leur mariage: ma belle fille a défendu sa thèse au dernier mois de grossesse de son premier enfant, elle a acheté avec son mari un appartement pour abriter leur nid. Elle reste à la maison pour alaiter et s’occuper de son enfant jusqu’à ce que celui ci ait un an. Ensuite, elle travaille pour une multinationale pharmaceutique. Elle met au monde un deuxième garçon tout en assumant son travail Son engagement professionnel va jusqu’au point d’accepter un poste aux Etats Unis en entrainant mari et enfants avec elle.

En un mot, ma belle fille est une jeune femme qui connaît sa valeur et qui, surtout, sait comment vivre avec les autres avec une moralité sans faille – ce dernier point est ce que j’apprécie le plus chez elle.

Entre belle mère et belle fille, nous discutons beaucoup – nous échangeons des recettes de cuisine mais pas seulement, nous parlons aussi de l’éducation des enfants, de la culture et des conceptions de vie.

Dans une société où les statistiques montrent que 50% des couples se soldent par un divorce, je souhaite que ma belle fille soit heureuse avec sa petite famille, toute sa vie, même quand nous, ses beaux parents et parents, ne serons plus là.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Giờ học âm nhạc tại một trường mẫu giáo (Bỉ)

L’heure de  musique dans une école maternelle en Belgique

 

Học nói, học nghe, học sống với người khác, … trường mẫu giáo có những “sứ mạng” rất nặng nề đối với trẻ từ ba đến sáu tuổi. Nhưng trường mầm non còn là nơi để các cháu phát triển, với hội họa, với âm nhạc, với khoa học.

Dưới đây là hai ảnh của giờ học nhạc tại một trường mầm non. Cha mẹ, hay ông bà, nào muốn “chứng kiến” cách học của con cháu mình có thể xin phép dự giờ. Tôi đến lớp của cháu tôi như thế.

Thầy ôm đàn ghi ta hát. Trò có thể theo dỏi, hát theo hay tự do đi lại trong lớp vì chúng là những … ông chủ bà chủ của lớp học mình…

Khi múa thì tất cả cùng múa, ” Cái kiến giương an ten chào nhau …”

Thầy và trò có vẻ hạnh phúc ở trường.

.

Nguyễn Huỳnh Mai – ảnh và chú thích