Skip to content

Ngôn ngữ của hình ảnh

Un ancien ministre, secrétaire général de la ville de Hồ chí Minh : deux photos qui illustrent la gloire et la déchéance

“Qui vivra, verra”

Ông Đinh la Thăng, thời vinh quang. Tất cả, từ sắc diện đến áo quần và cử chỉ, … của một người cầm quyền (ảnh : Vietinfo)

Cũng ông Đinh la Thăng, vài năm sau, trong phiên tòa xử ông (ảnh ; VOV)

Tôi là người rất dị ứng với những biểu hiệu của quyền lực. Ông Đinh la Thăng đã có những phát ngôn thiếu thận trọng như việc muốn Saigon có giải Nobel Y học

https://huynhmai.org/2017/02/25/bi-thu-dinh-la-thang-tp-hcm-quyet-tam-co-giai-nobel-y-hoc/

Nhưng đồng thời tôi cổ xúy việc bảo vệ và tôn trọng nhân phẩm – cái dignité humaine – của bất cứ ai, kể cả khi người ấy là “bị cáo” – bị cáo là đối với một điều luật nào đó chứ không là bị cáo với tất cả dưới thanh thiên bạch nhật.

.

Nguyễn Huỳnh Mai.

“Qui vivra, verra” có thể dịch bóng bẩy bằng

“Thức khuya mới biết đêm dài,

Sống lâu mới biết lòng người thủy chung”

 

Advertisements

Người hiền, người tử tế và tầng lớp tinh hoa trong xã hội

Le sage, l’être moral et les élites dans la société

.

Một bạn trẻ hỏi tôi về các … mẫu người nói trên

Trước nhất, người hiền, người tử tế có thể thuộc tầng lớp tinh hoa trong xã hội mà cũng có thể hoàn toàn … bình thường chứ không là người “ăn trên ngồi trước”. Các khái niệm có thể hoàn toàn độc lập với nhau. Có thể người hiền, người tử tế là những cánh hoa làm đẹp cuộc sống trong khi tinh hoa trong xã hội không … hiền và không tử tế.

Bên ta còn có từ “người trí thức” “người làm khoa học”, xưa hơn thì có “quân tử” và xếp những hạng người này vào tinh hoa của xã hội.

.

Trong văn hóa Âu Tây, thế kỷ thứ XVII có vẽ ra mẫu người hiền – honnête homme – một người thanh nhã bề ngoài cũng như bề trong – dáng dấp diện mạo cũng như tâm hồn – thanh cao tao nhã không cầu kỳ xa cách, có chiều sâu, có vốn hiểu biết nhưng không khoe khoang, chừng mực từ tốn và can đảm, sẳn sàng dấn thân khi cần. Cao thượng nhưng không huê hoang, không phơi cái tôi đáng ghét ra khắp phố phường – có chừng mực và thanh cao. Các nhà hiền triết như Pascal và Descartes là mẫu điển hình của người honnête.

Thế kỷ thứ XIX và XX, người hiền từ từ biến mất, mà thay vào đó là nhiều tầng lớp tinh hoa : người có tiền bạc (homo œconomicus), những trí thức nổi bật, người lãnh đạo chính trị, … những người thuộc  tầng lớp thống trị – thống trị bởi tiền bạc, thống trị bởi triết lý hay thống trị bởi tổ chức hành chính.

Ta phân biệt tinh hoa kinh tế, tinh hoa biểu tượng, tinh hoa chính trị, tinh hoa ý thức hệ,  …

https://huynhmai.org/2014/11/09/tang-lop-tinh-hoa-trong-xa-hoi/

Một cách tổng quát, tinh hoa của xã hội là những người thuộc tầng lớp lãnh đạo, đứng đầu các tổ chức chính trị, kinh tế, tư pháp, quân đội, tôn giáo và cả các nghiệp đoàn và các cơ quan truyền thông. Những người ghi dấu ấn của mình trong xã hội và tạo nên một cái gì mới cho xã hội.

Simone de Beauvoir và khái niệm nữ quyền, Gandi và sự đấu tranh không bạo lực, Hồ chí Minh và tuyên ngôn độc lập 1945, Bill Gates và Microsoft, …

Đó là định nghĩa lý thuyết. Trên thực tế, cần thêm vào đó một số điều kiện khác.

Có thể là điều kiện đạo đức và ở đây tôi bắt đầu trả lời câu hỏi của bạn đọc trẻ tôi vừa nêu ở đầu bài. “khái niệm người hiền, người tử tế”.

Là một người suốt đời đã đi dạy, tôi cốt ý là giúp giới trẻ học để sống ở đời để sống cùng nhau trong xã hội. Đó cũng  là mục tiêu tối thượng,  mà UNESCO đã đề ra từ hơn một phần tư thế kỷ.

Học để sống ở đời – không chỉ giúp trẻ biết giải thích các hiện tượng của thiên nhiên như trời mưa trời gió mà còn có khả năng giải mã các hiện tượng xã hội như cấu trúc của gia đình, sinh hoạt trên facebook, bạo lực ở học đường hay các vấn đề vĩ mô hơn như  thể chế chính trị, tự do và độc tài, …từ đó trẻ có thể tạo cho mình khả năng suy xét – cái mà tiếng Pháp gọi là discernement – người có discernement là người biết suy nghĩ, không hành động theo cảm tính. Đó là khởi điểm của đạo đức và trẻ thành người … hiền.

.

Học còn để sống với người khác trong xã hội – ” Thương người như thể thương thân” là câu ông bà ta đạy cách sống ở đời. Phương Tây thì nói “không làm cho người khác những gì ta không muốn người khác làm cho mình” – Tử tế là như thế. “Ăn ở có nhân nghĩa, có tình người” – Tử tế là phần đóng góp của mỗi cá nhân để xã hội sinh hoạt nhịp nhàng và để trường tồn. Giới chuyên môn chúng tôi gọi đó là chất keo của xã hội. Thiếu chất keo tiếp nối giữa các thành viên với nhau thì xã hội xuống cấp, tiêu vong. 

Học xa hiểu rộng giúp con người ta biết những giới hạn của mình, của người, của một nền văn hóa nào đó, … Tức là giúp ta tránh những lý luận chủ quan, những quan điểm cục diện, tinh thần quốc túy…

Nhưng biết suy xét, học cao hiểu rộng vẫn chưa là tinh hoa của xã hội

Tinh hoa của xã hội cần thêm khái niệm quyền lực, quyền lực tạo một khúc quanh của biến chuyển xã hội.

Quyền lực cụ thể, khả năng đưa ra những quyết định có liên quan đến cộng đồng và được cộng đồng tuân thủ. Một tướng lĩnh ra quân chống ngoại xâm là thí dụ cổ điển. Quyết định in thêm giấy bạc hay từ bỏ quyền tư hữu là vài thí dụ khác. Trong lịch sử, quyết định đánh quân Nguyên của các bô lão ở Hội nghị Diên Hồng là một thí dụ khác cho thấy giới bô lão có vị trí tinh hoa trong xã hội.

Khi Simone de Beauvoir viết Giới tính thứ nhì, bà gióng hồi chuông báo động về bất bình đẳng giới. Bà có cái quyền lực mà tôi gọi là quyền lực biểu tượng. Bà Hannah Arendt nói về cái ác bình thường bà đã cho một định nghĩa mới về cái ác. Bà cũng có quyền lực biểu tượng.

.

Ai là tinh hoa ở Việt Nam hiện thời ?

Trên lý thuyết, đó là những người có quyền, nắm vận nước trong tay. Họ được chính thống hóa bởi cấu trúc Đảng và nhà nước. Nhưng cơ cấu tập trung dân chủ và quyết định với trách nhiệm tập thể làm cho khó có một cá nhân nào nổi bật như tinh hoa. Đôi khi một vài viên chức đăng đàng phát biểu với những ý tưởng canh tân táo bạo nhưng khó mà biết đâu là truyền thông tiếp thị đâu là chính sách thực tiển.

Bên cạnh đó, tầng lớp trí thức khoa bảng, đúng ra cũng là tinh hoa của xã hội. Nhưng đại đa số những thành viên của tầng lớp này không có những vai trò đích thật để đưa đất nước ra … con đường sáng như phát minh khoa học, cải tổ giáo dục hay canh tân nông nghiệp, …

Còn tinh hoa kinh tế? Việt Nam ta có những tỉ phú đô la. Đại gia thì ta có nhưng tinh hoa kinh tế thì khǹg vì những đại gia Việt Nam không làm giàu cho xứ sở và để dấu ấn của mình trên tình hình kinh tế nước nhà.

Trong chừng mực nào đó bà Nguyễn thị Phương Thảo có thể thuộc thành phần tinh hoa vì bà đã khai trương hệ máy bay giá rẻ và … cách mạng hóa những hình thức di chuyển của dân tình. Trong khi những người khác, giàu nhờ bất động sản, có tiếng là đại gia nhưng không được xem như tinh hoa của xã hội.  

Nhưng một xã hội mà thiếu tầng lớp tinh hoa là một xã hội mất phương hướng.

Nguyễn Huỳnh Mai

Biến đổi khí hậu và di dân từ đồng bằng sông Cửu Long

Le changement climatique et l’émigration de la population de la plaine du Mékong

.

Đồng bằng Cửu Long là một vùng sản xuất nông sản trù phú bậc nhất toàn cầu. Ngoài gạo ở đây còn là vựa trái cây và là nơi nuôi tôm cá.

18 triệu dân sinh sống ở đây nhưng vì biến đổi khí hậu, trong thập niên vừa qua hơn 1,7 triệu người đã rời vùng này trong khi chỉ có 700.000 đi tới. Tức là cán cân đi-ở chênh mất đi 1 triệu người.

Cũng như những vùng thôn quê khác, dĩ nhiên là có hiện tượng di dân ra thành thị. Nhưng mức di dân này đặc biệt cao ở đồng bằng Cửu Long: 1% mỗi năm – tức là gấp đôi tỉ lệ đi ra thành phố của các vùng miền khác.

Hai nhà nghiên cứu Phạm Đăng Trí Vân và Alex Chapman đi thăm vùng An Thạnh Đông thuộc tỉnh Sóc Trăng, nơi mà dân không thu hoach được gì hết:  tất cả vụ mía của họ đều bị nước nhiễm mặn tàn phá.

Nhiều nông dân khác cũng ở trong cùng hoàn cảnh. Với vụ hạn năm 2015-2016, nhiễm mặn chiếm sâu vào đất liền có nơi đến 80 km, tức là biến 160.000 hec ta đất hết sản xuất được.

Một hậu quả khác của biến đổi khí hâu là mực nước biển dâng cao, ăn sâu vào khoảng 100 m so với bờ biển trước đó.

Hạn hán rồi bảo lụt , sạt lở đất và nhiễm mặn, … làm cho dân tình phải bỏ vùng đất này mà đi tìm kế sinh nhai ở nơi khác.

Tình trạng ấy giải thích sự di dân cao hơn các miền khác.

Một nghiên cứu của Lê thị Kim Oanh và Lê Minh Trường, Đại học Văn Lang, năm 2016,

http://ijiset.com/vol4/v4s8/IJISET_V4_I08_13.pdf

cho thấy rằng biến đổi khí hậu là yếu tố chính, là động cơ của 14,5% người di dân rời đồng bằng Cửu Long. Lý do chính vẫn là tình thế nghèo khó. Mà sự nghèo khó tăng bội với biến đổi khí hậu và những gì liên đới với biến đổi khí hậu. Rốt cuộc con số thực sự di dân vì biến đổi khí hậu có thể còn cao hơn số 14,5% vừa nêu trên.


Chính quyền đã đưa ra những phương cách chống đối trong đó có dự án xây đê. Nhưng giải pháp này không thay đổi được tình thế mà càng làm cho nó trầm trọng hơn vì làm mất sự thăng bằng của cả hệ sinh thái – đê giúp chống lụt nhưng như thế đồng thời ngăn phù sa của sông Cữu Long giúp đất phì nhiêu. Đê còn ngăn cản sinh hoạt đánh bắt cá của ngư dân. Rốt cuộc dân thành nghèo hơn.

Nguyễn Huỳnh Mai  – dịch tóm lượt từ The Conversation

https://theconversation.com/climate-change-is-triggering-a-migrant-crisis-in-vietnam-88791 

Nuôi chim rừng, …

Giỏ đựng bánh mì vụn cho chim rừng, với năm tháng, với mưa gió bảo tuyểt, … cũng thành xấu xí và ẩm ướt

Năm mới, đây là giỏ mới, đựng bánh mì thừa để nuôi chim rừng nhà tôi

Lần sau khi cháu tôi đến thăm bà nội, cháu sẽ xuýt xoa trầm trồ cái giỏ mới…

Nguyễn Huỳnh Mai

Các vai trò của trường học ?

Les fonctions de l’école ?

.

Đường đi tới tri thức đã thay đổi.

Ngày xưa trường học là nơi truyền tri thức, trò được thầy dạy thi văn và đạo thánh hiền,

Tiếp đó, báo chí, truyền thông, truyền hình cũng lo vai trò truyền kiến thức.

Bây giờ thì internet, mạng xã hội. Báo chí vẫn giữ một số vai trò.

Thế còn trường học ? Nơi để truyền/chuyển giao hiểu biết ?

Học làm người, phát triển, tiếp thu kiến thức, giải mã các hiện tượng quanh ta và nhất là nơi sống hạnh phúc.

Trường là nơi giúp trẻ lớn lên và thành người.

Câu nói ngắn gọn nhưng công việc khó khăn. Bàn tay có ngón dài ngón ngắn, trẻ cũng thế, mỗi em là một cá thể đặc biệt, không có hai em giống nhau. Sứ mạng của trường là giúp các em có dịp để phát triển theo những điểm mạnh và điểm yếu của mình. Để các em biết mình là ai, tự định nghĩa và chọn mẫu người mà các em muốn trở thành. Để được như vậy trường học phải đi từ các em – dạy lấy trò là trung tâm không chỉ là một khẩu hiệu mà là một triết lý cần được mang vào thực tế hàng ngày.

Ở mẫu giáo, các atelier, sinh hoạt nhóm sinh hoạt tự chọn giúp trò có những phút “học” theo nhu cầu. Cô giáo ở đó để hướng dẫn khi cần và để bổ sung vào sinh hoạt của từng nhóm để cuối giờ các cháu cùng có những cơ sở chung dù sinh hoạt khác nhau.

Những sinh hoạt tổ chức như thế giúp trẻ tự tin và hăng say trên đường học hỏi. Lại có dịp phát biểu nhu cầu và sự lựa chọn của mình.

Tương tự như thế, từ hơn ba mươi năm nay, nơi các thư viện dành cho trẻ em, các bậc cha mẹ được mời ngồi chờ con ở phòng đợi, trong khi con vào thư viện chọn sách, tự chọn.

Ở Tiểu học, dĩ nhiên là chương trình thành gò bó hơn, phải đạt tới những kiến thức tối thiểu của từng năm học – nhưng không có gì cấm các giáo viên thay đổi cách “giáo đầu tuồng” để chuẩn bị các em cho từng môn học – để các em thấy là cần biết đọc để phát triển, để làm chủ môi trường trong đó có chữ viết hay bàn phím – và xa hơn vũ trụ trong đó các em sống. Hiểu biết là để đi xa hơn trên đường đời – nhìn dưới khía cạnh đó, các bài học về khoa học cả khoa học thiên nhiên hay khoa học xã hội đều là những công cụ để phát triển và trường học khi truyền tri thức là giúp các em phát triển.

Chỉ có một khác biệt: ở đây không là truyền kiến thức kiểu lấp đầy hay …nhồi sọ. Mà truyền kiến thức để các em phát triển.

Chủ đích khác, phương pháp sư phạm phải khác và các em hấp thụ – ở đây là hấp thụ chứ không là tiếp cận phiến diện hay chỉ có phằn nổi, bề mặt.

Vai trò thứ hai của trường học là giúp các em có môi trường để sống với xã hội, tập tành vai trò của mình trong thế giới tha nhân, rộng hơn gia đình và từ đó hấp thụ đạo đức xã hội.

Vai trò này không kém phần quan trọng.

Ở nhà trẻ chỉ biết có cha mẹ ông bà và anh em – thế giới hạn hẹp, trong đó có khi trẻ là …”quí tử” hay enfant roi, được nuông chìu.

Ở trường, trẻ có thầy có bạn. Các ngôi thứ thành phức tạp hơn. Trẻ từ từ định được vị trí xã hội của mình.

.

Néu gia đình đảm trách vai trò xã hội hóa đầu tiên – socialisation primaire – tập tành cho trẻ sống với một xã hội nhỏ. Trường học lo xã hội hóa thứ nhì – socialisation secondaire – cho trẻ. Trẻ chưa ra biển khơi – tiếp xúc với toàn xã hội – nhưng trường học mở rộng chân trời cho trẻ – mười hai năm – nếu chỉ tính mẫu giáo và THCS – ở nhà trưởng như thế, trẻ được tôi luyện để vững bước trên đường đời, ra ngoài xã hội. Biết mình phần “phát triển cá nhân” – vai trò đầu của trường. Biết người – phần xã hội hóa thứ nhì. Trẻ sẳn sàng.

Trong dấu ngoặc, Rousseau nói “học sống – apprendre à vivre” là như thế Sống với mình và sống với tha nhân.

Sống với mình có nghĩa rằng biết mình là ai, những đặc thù, sở trường sở đoản, biết tự lập, biết tự trọng, biết bày tỏ ý kiến và chính kiến – tất cả với sự khúc chiết thông minh chứ không chỉ vì bản năng hay cảm tính

Sống với tha nhân là biết luật biết lệ, biết tôn trọng tha nhân, có đạo đức xã hội. Sống với tha nhân không chỉ tóm gọn trong khả năng “biết làm việc nhóm” như một số kết luận vội vàng và thực dụng

Còn sống với môi trường nữa. Trái đất hiện nuôi bảy tỉ cư dân, không bảo vệ môi trường thì ngày mai không còn đất để sống.

Vấn đề xả rác ở bên ta có thể là kết quả của một sơ sót chỗ nào đó của vai trò tập tành trẻ sống với môi trường.

Tinh thần trách nhiệm là một vốn đạo đức mà trường phải tạo điều kiện để trẻ lĩnh hội. Trách nhiệm với chính mình – cuộc đời cá nhân thành công hay thất bại là do mình mà thôi – trách nhiệm với tha nhân cũng là một vế cần hội tụ và làm tốt bởi trường học.

Mỗi cá nhân là một mắc xích ta phải liên đới với hai mắc bên cạnh để sống trong xã hội – Ví von này cũng của J.-J. Rousseau.

còn tiếp

Nguyễn Huỳnh Mai

Bạn tình và quan hệ giới tính qua vài khảo sát

Pratiques sexuelles en Occident à travers quelques études sociologiques

.

Bài này bàn về sex, thật đấy, nhưng không cốt để câu views – bạn đọc của tôi không là …phàm phu tục tử – . Chủ đích ở đây là trình bày vấn đề dựa trên một số dữ kiện mà các nghiên cứu cho thấy. Tức là “nói có sách mách có chứng”. Những khảo sát thực địa nêu lên trong bài giúp hiểu rỏ hiện trạng xã hội – xã hội Âu Mỹ, tôi không có tài liệu cho xã hội Việt Nam. Bài này cũng không đề cập đến tình yêu – đó là một chủ đề đã được phân tích từ lâu rồi, cũng trên blog này.

Bao nhiêu bạn tình trong suốt một đời ?

Câu hỏi thật là tế nhị, ngay cả ở những nước mà quan hệ giới tính đã được giải phóng từ lâu. Hỏi trực tiếp, các chủ thể có thể nói dối – cho một con số lớn hơn thực tế để chứng tỏ rằng mình tiến bộ hay mình có bản lĩnh (nói chung là trường hợp của các ông). Hoặc trái lại, khai ít hơn con số thực tế để nói rằng mình là người trung thành hay có … đạo đức Không cần dài dòng, đây là trường hợp của đa số các bà. Ở Âu Mỹ đi nữa, các bà thường “khai” theo các ràng buộc xã hội.

Chính vì thế mà nghiên cứu về vấn đề này phải hết sức thận trọng và dùng những đướng vòng – tránh câu hỏi trực tiếp – để có thể tiếp cận đến gần sự thật nhất.

Rốt cuộc, tùy nước, ở Âu Mỹ, số bạn tình trong suốt một đời, cho nam cũng như nữ, vào những năm 2013, 2014 ở khoảng 6 tới 10 người. Một con số cho thấy cái … phóng khoáng của vấn đề giới tính.

Nguồn: Terri Fisher, «Men, women lie about sex to match gender expectations». The Ohio State University Press, 05.2013.

Ifop – Institut Français d’Opinion Publique – Viện thăm dò dư luận của Pháp, «Les Français, la politique et le sexe», sondage pour le magazine Marianne, 05.2014.

.

Vấn đề trung thành với chồng/vợ ?

Về việc ngoại tình thì cả hai giới, nam cũng như nữ, ở châu Âu đều trung thành hay ngoại tình như nhau. Có nghĩa là cho các ông hay bà, khoảng phân nửa các cặp đôi, có những quan hệ ngoài luồng.

Chung chung, người giai cấp thượng lưu ngoại tình nhiều hơn. Theo hạng tuồi thì phân nửa trong số những người ngoại tình ở độ 35 – 49 tuổi.

Tại sao không trung thành với chồng hay vợ?  –  Vì cuộc sống của lứa đôi thành bất khả thi – Vì thiếu chăm sóc hay thiếu thông cảm – Vì thiếu hòa đồng, mất ham muốn, … về giới tính,

Ngoài các trường hợp ngoại tình, 7% dân Pháp khai có những hoạt động giới tính ở số nhiều với nhiều người tức là hoàn toàn tự do về sex.

 

Nguồn: Gérard Leleu, La fidélité et le couple. NXB Flamarion, 1999.

Christophe Fauré, Est-ce que tu m’aimes encore? – Se reconstruire après l’infidélité, NXB Albin Michel, 2013.

.

Lần đầu tiên?

Thanh niên và thanh nữ có quan hệ giới tính lần đầu tiên lúc bao nhiêu tuổi?

Ở Pháp, câu trả lời là 17 tuổi (17,4 cho các cậu và 17,6 cho các cô).

Để có một điểm tựa so sánh, vào thập niên 1940, phân nửa phụ nữ Pháp khẳng định rằng lần đầu tiên của họ là ở tuổi 22 với hôn phu hay hôn phu tương lai. Cùng thời điểm, các ông khai là 18 tuổi cho kinh nghiệm giới tính đầu tiên,

Một nghiên cứu tương tự, ở Bỉ, cho thấy, đầu thập niên 1970, chỉ 3% phụ nữ lúc kết hôn, đã “sống thử” với người hôn phu hay với người khác.

Từ thập niên 1970, tức là sau cách mạng 1968 giải phóng người trẻ và sau đó giải phóng phụ nữ, bạn tình hết đồng nghĩa với hôn phu hay hôn thê. Hiện bạn tình đầu tiên thành người hôn phối chỉ đúng cho 19% phụ nữ và 10% các ông ở Pháp.

Nguồn: Ined (Institut National Etudes Démographiques, Viện quốc gia nghiên cứu về dân số ở Pháp) – ,«L’âge du premier rapport sexuel», 2010. 

.

Nơi gặp người bạn tình đầu tiên ?

Cho 39% các thanh niên và cho 25% các thanh nữ, trường học là nơi gặp bạn tình đầu tiên. Tiếp theo đó, theo thứ tự là các tiệc tùng với bạn bè (10%các cậu và 15% các cô), nơi nghỉ hè (10 et 8%), bạn láng giềng (6 và 8%), nơi làm việc (3 et 5%)…

Một nơi gặp bạn tình đầu tiên còn là các nơi công cộng như rạp chiếu bóng, công viên, trên xe bus… và được xướng bởi 12% các cậu và các cô.

Nguồn: Michel Bozon Wilfried Rault, «Où rencontre-t-on son premier partenaire sexuel et son premier conjoint?», Population et sociétés, n° 496, 01.2013. 

Nghiên cứu xuất bản năm 2013 nhưng ta chưa thấy internet hay facebook được khai là “nơi gặp bạn tình đầu tiên”. Có thể vì chữ “gặp” trong câu hỏi. Cũng có thể vì giới trẻ  Âu Mỹ ít lệ thuộc vào mạng xã hội hơn dân một số nơi khác.

.

Vài hiện trạng khác về liên hệ giới tính

Tuổi trưởng thành giới tính, thay đổi tùy nước. Đại đa số, tuổi trưởng thành dân sự là 18. Còn tuổi trưởng thành giới tính được đặt ra là để bảo vệ trẻ em. Thông thường ở các nước Âu Mỹ, luật ấn định tuổi trưởng thành giới tính là 15-16 tuổi. Liên hệ giới tính với một trẻ em dưới tuổi đó bị xem như cưỡng bức.

Số lần làm tình trên thế giới, trung bình là 103 lần mỗi năm. Người Hy lạp là vô địch cho số lần yêu (150 lần/năm) trong khi người Nhật thì chỉ là 45 lần/năm.

«Tình một lần gặp gở», «tình tập thể», … Hai phần ba người Bắc Âu khai là đã có tình một đêm. Còn tình tập thể hiện vẫn là những sinh hoạt hiếm (dưới 10% cá nhân trong các khảo sát cho biết rằng đã có kinh nghiệm này).

Nguồn: Nadine Cattan, Stéphane Leroy và Cécile Marin, Atlas mondial des sexualités. Libertés, plaisirs et interdits, Autrement, 2013.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Bài này thêm vài chi tiết :

https://huynhmai.org/2013/11/04/su-kin-dao-va-van-de-gioi-tinh/

Còn bài về tình yêu thì được mỗ xẻ ở đây :

https://huynhmai.org/2016/12/26/tinh-yeu-duoi-vai-goc-nhin/

 

 

Chủ đích nào cho giáo dục trong tương lai?

Quels sont les objectifs possibles de l’éducation dans l’avenir?

Một bài cũ, đã đăng trên Dân Trí cách đây 5 năm, nhưng có lẻ vẩn còn tính thời sự

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/chu-dich-nao-cho-giao-duc-trong-tuong-lai-1367396405.htm

.

Trong đó bao gồm “Tại sao phải đi học?”, “Học để làm gì?” rồi sau đó “học những gì?”, “học làm sao, bằng cách nào” và cuối cùng “học bao nhiêu năm”.

Những câu hỏi này không mới. Từ hơn mười năm nay, Hội đồng giáo dục châu Âu đã đưa ra những đề nghị cụ thể dựa trên cơ sở “đi học suốt đời” mà UNESCO đã khởi xướng (1). 

Chủ đích của giáo dục Tiểu và Trung học sẽ phải làm sao giúp các công dân trẻ làm chủ được 8 kỹ năng căn bản để có thể sống và sống tốt.

8 kỹ năng đó là:

. kỹ năng dùng tiếng mẹ trong giao tiếp hàng ngày

. kỹ năng dùng ngoại ngữ

. kỹ năng căn bản về toán, khoa học và kỹ thuật

. kỹ năng về tin học

. kỹ năng tự chủ để bươn chải tiếp tục học thêm suốt đời

. kỹ năng giao tiếp xã hội và có đạo đức cộng đồng công dân giáo dục

. kỹ năng sáng tạo và biết tổ chức gầy dựng sự nghiệp

. có vốn liếng văn hóa và có khả năng rung cảm trước cái đẹp, có óc thẩm mỹ.

Tất cả những kỹ năng này đều rất quan trọng.

.

Tiếng mẹ là chìa khóa để mở cữa tất cả những tiếp xúc hàng ngày với người khác mà còn là công cụ để giải quyết các vấn đề bằng giấy tờ. Làm chủ được tiếng mẹ còn là điều kiện cần để tiếp thu các kiến thức khác, kể cả kiến thức về một ngoại ngữ.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, biết ít nhất là một ngoại ngữ thành một điều kiện cần, nhiều người trẻ ở châu Âu, nhất là trong giới sinh viên, nắm vững hai hay ba ngoại ngữ là điều thường thấy Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha là những ngoại ngữ thông dụng.

Phải có khả năng tiếp cận toán và khoa học. Trường học là nơi thiết bị cho trẻ những kiến thức cơ sở. Ở trường tiểu học, khám phá tóan, khám phá khoa học, khám phá môi trường vật chất, xã hội là những bài học  đầu tiên để giải mã những hiện tượng chung quanh mình.

Tin học thành một dụng cụ tối cần thiết. Nói một cách quá đáng, nhiều bé biết dùng máy tính trước khi biết cầm dao cắt thịt. Ở các trường mẫu giáo, màn hình máy tính mang đến cho các bé những bài hát, truyện cổ tích. Lên bậc tiểu học, học sinh dùng máy tính tích cực như cầm bút.

Trường học là nơi giúp trẻ tập tành sống với xã hội và tiếp cận những giá trị cũng như những cấm kị của xã hội. Tiếp sức với gia đình, trường học là nơi trẻ tập sống với người khác, với những vai trò khác nhau, rộng hơn gia đình.

Trường còn là nơi để trẻ kém may mắn có thể bằng kiến thức của mình, tiến thân. Sứ mạng chống bất bình đẳng xã hội của trường học là một sứ mạng mà châu Âu tranh đấu từ thập niên 1960 tới giờ. Với tri thức, dù không được sinh ra nơi giàu sang quyền quí, mọi trẻ có thể lấp được phần nào hố cách biệt giữa các giai cấp.

Ngoài ra, phải nói là bàng bạc qua các kỷ năng đó là mục đích “giá trị của đời sống”, quality of life,  – hay để lập lại câu nói của Descartes “Người có tri thức sống tốt hơn” (Celui qui sait, sachant, vit mieux).

Các nhà tâm lý giáo dục còn cho học đường một vai trò khác nữa: tạo môi trường sống hạnh phúc cho trẻ, một loại gia đình thứ nhì. Điều này đúng vì ngày nay, trẻ đến trường rất sớm, cha mẹ chúng gửi chúng cho các cô nuôi dạy trẻ từ khi chúng chưa đầy hai tuổi. Trường học vì thế phải đảm trách vai trò tình cảm và tâm lý, là nơi để trẻ được bảo bọc, để chúng khám phá và rèn luyện bản thể của mình. Biết mình là ai và biết người khác là ai.

Trẻ thành tự lập và có thể tiếp tục học suốt đời. Thật vậy, vốn liếng đào tạo ở trường có thể sẽ thành vô giá trị với thời gian vì khoa học không ngừng phát triển. Nhưng trẻ được rèn luyện vững chắc sẽ đủ khả năng để suốt đời tiếp tục tự học.

Những kiến thức vô ích?

Sau “hiện tượng” sự trăn trở của một kẻ lười biếng, nhiều tiếng nói đồng tình, đồng tình cho cả việc phải giảm số năm họcsố môn học (2).

Tác giả bài này không tham gia và hiện tượng này. Chỉ xin nói rằng giáo dục nước ta hiện có nhiều vấn đề. Nhưng phải làm sao để:

a. Cái thực dụng không thành thước đo giá trị đào tạo. Có ai trong chúng ta dám nói là thuộc vài câu Kiều là vô ích? rằng luật Newton hay định lý Pythagore không cần cho một người quản trị xí nghiệp tương lai? Hay không cần biết là Đức quốc xã đã tàn sát 6 triệu người Do thái?

Và còn nhiều kiến thức khác mà chúng ta có thể gọi là kiến thức tổng quát mà bất cứ “kẻ sĩ” nào cũng cần có, những kiến thức mà trường trung học cung cấp.

Nhiều người còn nhìn xa hơn: ngay tới những môn cổ ngữ như tiếng La tinh và tiếng Hi lạp cũng cần cho “thể dục trí tuệ” và làm giàu vốn văn hóa về những văn minh xưa, những kho tàng triết lý và đạo đức của nhân loại.

Giáo dục Cao đẳng và Đại học thiên về chuyên khoa và ngành nghề. Cao đẳng và Đại học lại cần một cơ sở tối thiểu.

Cái cơ sở tối thiểu ấy là giáo dục Tiểu và Trung học.

b. Không đưa ra những quyết định vội vàng.

Đa số các nước Âu Mỹ đều có chương trình tiểu và trung học 12 năm và hiện họ không có dự án giảm số năm này. Một cách tổng quát, học sinh 18 tuổi rời Trung học, 3 năm cho bằng Bachelor, 2 năm nữa cho bằng Master và 3 năm cho bằng Tiến sĩ. Đó  là chương trình chung theo qui ước Bologne cho cả châu Âu. Toàn cầu hóa có những «luật» của nó. Nếu ta giảm chương trình Trung học phổ thông còn 9 hay 10 năm thì ta theo ai đây? Và liệu số năm đó có đủ để đào tạo, một cách thoải mái chứ không nhồi nhét, những công dân tương lai?

c. Thận trọng cho việc chọn môn sớm tùy khả năng và tùy theo ý thích của học trò  với lý do để tránh quá tải.  Như thế học sinh không phải bị bắt buộc học những môn không hứng thú?

Điều này, nhiều nhà giáo dục đã nghĩ tới, nhất là trong bối cảnh của phương pháp dạy học khác nhau (pédagogie différenciée) tùy đối tượng và đặt tâm điểm trên học trò (pédagogie centrée sur l’élève). Chứ không phải cho phép học trò chọn môn mình thích.

Cho phép học trò chọn môn tùy theo sở thích không hẳn là một giải pháp tốt:

. nhiều khi cha mẹ hay bạn bè quản lý sự chọn lựa này theo cái mà các nhà xã hội học gọi là conformisme socio-culturel – sự tuân thủ theo văn hóa gia đình hay văn hóa nhóm.

. ví dù cho học trò có khả năng tự bản thân mình chọn lựa đi nữa thì chọn môn hay chọn nghề sớm cũng là một hình thức bất bình đẳng  bị ảnh hưởng của môi trường sống. Thông thường học trò, nhất là lúc còn vị thành niên, có khuynh hướng chọn môn học theo những «mẫu» của những người chung quanh.

. đẩy cái tự do chọn môn học tới cùng sẽ đưa đến một tình trạng bất khả thi vì không phải bất cứ trường nào cũng có thể cung ứng được cho tất cả nhu cầu khác nhau của tất cả học sinh của trường.

. Đó là chưa nói tới sự ích lợi của một số môn mà mới nhìn qua học sinh có thể cho là “khó tiêu hóa”.

Đối với chính bản thân người viết bài này, bất cứ môn nào cũng “dễ tiêu hóa”, cái cần là có những giáo viên biết cho… thêm mắm thêm muối, cho chất xúc tác và gây lôi cuốn – Nhưng đó là vấn đề phương pháp sư phạm.

.

Trong đấu ngoặc, nếu ta theo phương thức của Phần Lan thì ba năm chót của Trung học phổ thông có thể là ba năm học nghề cho một số học sinh không định học tiếp Đại học. Nhưng với điều kiện, cũng như Phần Lan đang làm, là ba năm này được xem là tương đương với chương trình phổ thông nếu sau đó, các học sinh này thay đổi định hướng. Phương thức này có thể thích hợp cho những học sinh thích thực hành, lại có thể đào tạo một cách có bài bản, những «thợ» có tay nghề chuyên môn cao.

.

Từ đầu thập niên 1960 tới nay, thế giới đã đi những “bước bảy dậm” về tâm lý nhi đồng, về phương pháp sư phạm  và về xã hội học cho giáo dục. Có lẻ ta cần cập nhật gấp những chậm trể trong các lĩnh vực này để việc cải tổ giáo dục có hiệu quả. Giảm quá tải không hẳn chỉ là đồng nghĩa với cắt bớt các môn học mà có thể là thay đổi cách tiếp cận các nội dung hay thay đổi phương pháp dạy học.

Cuối cùng, xin bớt tranh luận và bắt tay vào việc sửa đổi giáo dục với một hay nhiều phương án có cơ sở, có quá trình, có phương tiện và nhân lực để thực hiện và có bộ phận kiểm tra thành quả, từng giai đoạn, của phương án. Và bước đầu tiên có lẽ phải là một nghiên cứu tổng thể về hiện tình giáo dục.

Nguyễn Huỳnh Mai 

(1) Rapport du Conseil «éducation» au Conseil Européen sur les objectifs concrets, futurs, des systèmes d’éducation et de formation. Document 5980/01, 14.02. 2001.

L’école de demain. Repenser l’enseignement : Des scénarios pour agir. OCDE, 2006.