Skip to content

Tín ngưỡng, tâm linh và mê tín dị đoan …

Bài này đã lên trang cách đây cũng sáu tháng. Hôm nay thấy các thầy sư  tổ chức ban phước lành cho bút viết, đường dẫn dưới đây

https://xuandienhannom.blogspot.com/2018/06/mat-phap.html

để cầu cho sĩ tử dự thi THPT  thì … hết lời bàn, chỉ xin đăng lại gọi là … phản biện và xin nhấn mạnh trên điểm thứ nhì của bài .

 

 

Trong nước cũng đã có người mong dân hết mê muội:

https://laodong.vn/su-kien-binh-luan/nhieu-nguoi-dan-con-me-muoi-lam-sao-dat-nuoc-hoa-rong-592513.ldo

.

Xin nhập đề bằng một nghiên cứu của Bỉ

Để chỉ viết những gì tôi biết, xin thưa là trước 1950  trên dưới  95% dân Bỉ thuộc Thiên chúa giáo, Hiện nay tín đồ của đạo này chỉ khoảng  5%. Hình như phát triển khoa học và tôn giáo khó đi cùng đường. Cho nước Bỉ, chúng tôi đã nghiên cứu các hiện tượng này – Sách “Nước Bỉ và những thần thánh” ra đời năm 1985

Bìa sách – Nước Bỉ và những thần thánh – Thiên chúa giáo, những đường hướng tín ngưỡng khác và vô thần (ảnh M. Poirrier)

Con người sống nhờ niềm tin. Có tin tưởng thì thêm hi vọng. Đạo, bất kỳ đạo nào, đều cho một giải thích cho các hiện tượng. Khi con người  không biết thì họ tin vào số phận.

Tín ngưỡng còn là sợi dây nối kết người với người sống cùng trong một xã hội. Trong chữ RELIGION, tiếng Pháp, có nghĩa là ĐẠO có gốc RELIER có nghĩa là “kết nối”. Thật vậy, đạo nào cũng cho ra những nguyên tắc luân lý để sống cùng nhau. 10 điều cấm kỵ trong đạo Thiên chúa, lý thuyết nhân quả trong đạo Phật, … dạy tín đồ làm thiện và tránh ác.

Như nhiều người làm khoa học khác, gia đình tôi không theo đạo nào cả. Khoa học, kể cả Triết lý, là đèn hướng dẫn cách sống cho chúng tôi, sống làm sao cho phải … đạo làm người trong xã hội.

Tín ngưỡng đặt trọng tâm lên “tin tưởng” – tức là nói quá lố thì tín ngưỡng dựa lên sự …cả tin hay mù quáng của dân tình.

Khoa học thì nói “tôi chỉ tin những gì tôi đã thấy kiểm chứng”.

.

Hiện không có nghĩa là 95% dân Bỉ đều cẩn mật với mê tín dị đoan. Đó là một câu chuyện dài. Nhưng muốn biết thì phải nghiên cứu.

 

.

Trở về chuyện bên nhà, ba bốn ý ngắn gọn về Tín ngưỡng và Mê tín

Ý thứ nhất: Tôn giáo và Thế giới tâm linh

Con người, điển hình là bất cứ đứa trẻ nào, độ lên ba là hay hỏi “cái gì”,“tại sao”, “thế nào”, … vì bé muốn biết. Nhu cầu “biết” rất cần cho sự sống còn – vì có biết rõ ngọn ngành thì mới từ từ tìm ra phương thức để thống trị vạn vật xung quanh. Văn hóa được định nghĩa – trong nghĩa tổng quát nhất – là tổng thể những cách làm những cách hành xữ để bảo đảm sự hải hòa trong sinh hoạt cộng đồng

Vấn đề định nghĩa của văn hóa xin tạm gát một bên để trở lại nhu cầu biết : cái gì? Thế nào? Tại sao?

Tại sao ta ngã bệnh? Khi chưa có khoa học thì ta tin là có tà ma quí ám nên cần phải mời thầy về đuổi tà ma.

Tại sao ta bị tai nạn? Khi chưa có một giải thích hợp lý thì ta tin ở số phận, sự an bài của một đấng thiêng liêng nào đó – nên phải thờ thần này hay kiêng kỵ ngày xấu.

Cho tới thế kỷ thứ XIX và thậm chí đến đầu thế kỷ thứ XX cho tầng lớp ít vốn khoa học, ở Bỉ, dân tình cầu thánh Chritophe trước khi khởi hành đi đâu xa vì tin rằng thánh ấy lo cho bình an trên đường đi.

Tôn giáo cần thiết là ở chỗ đó. Tôn giáo mang đến những câu trả lời cho những chỗ mà dân tình không hiểu được.

Ngày nào dân tình không làm chủ được cuộc sống của mình thì họ còn tin rằng số phận được an bài bởi đấng tối cao. Họ tin đến nỗi tất cả những gì không giải thích được kết hợp lại với nhau và cấu thành phần tâm linh. Phần tâm linh, các nhà thần kinh học cho thấy là nó ẩn sâu nhất trong não bộ con người. Chả trách nào động tới tâm linh thì rất khó thay đổi.

.

Mặt khác, tín ngưỡng còn là sợi dây nối kết người với người sống cùng trong một xã hội. Trong chữ RELIGION, tiếng Pháp, có nghĩa là ĐẠO – ta thấy cái gốc “RELIER” có nghĩa là “kết nối”. Thật vậy, đạo nào cũng cho ra những nguyên tắc luân lý “dạy” giáo dân sống hài hòa cùng nhau.

10 điều cấm kỵ trong đạo Thiên chúa, lý thuyết nhân quả trong đạo Phật, … dạy tín đồ làm điều thiện và tránh điều ác.

Khoa học từ từ giải mã được những bài toán mà ta gặp trên đường đời và tôn giáo từ từ không còn được theo như hồi trước.

Với y khoa, ta biết vì sao ta nhiễm bệnh, đồng thời Y khoa cho một số phương thức để ngừa và trị bệnh. Các thầy pháp y không còn đất dụng võ? Với vật lý, ta giải thích được các hiện tượng của thiên nhiên và không còn tin ở thần sấm hay thần sét, …

Thế nhưng, trong xã hội, một số người vẫn chưa tiếp cận được khoa học.

.

Ý thứ nhì

Tại sao cuồng tín và mê tín dị đoan có vẻ như rộ lên gần đây ở trong nước?

Trước nhất, khi muốn nói là các hiện tượng này tăng thì phải nghiên cứu trước khi khẳng định.

Mà nếu ta nghiên cứu thì có thể ta sẽ biết được các hiện tượng ấy tăng như thế nào, ai dị đoan, ai cuồng tín và vì sao, …

Bản thân người viết bài này chưa được đọc những nghiên cứu như thế. Chỉ thấy qua báo chí trên mạng là hiện tượng nói trên có vẻ là càng ngày càng tăng.

Nhìn từ xa, có thể hiện tượng mê tín, cuồng tín tăng

. vì dân tình cần một chỗ nào đó để bấu víu trong khi cuộc sống của họ đầy bất định.

. có thể vì một số người thuộc tầng lớp có quyền, bậc “khuôn mẫu” để tự quảng cáo cho bản thân, ồn ào đi lễ hội, dâng hương nơi này nơi khác để được lên báo.

. các địa phương tổ chức lễ hội để khuyếch trương du lịch hay để lập thành tích, … và quảng cáo lễ hội của địa phương mình

. cũng có thể vì đời sống của dân về kinh tế mà nói, cao hơn nên dân có phương tiện để đi dự lễ hội – không có gì khổ bằng cho người quản lý một quốc gia, khi dân giàu hơn mà vẫn còn thiếu vốn tri thức.

. báo chí, khi rần rộ tường trình qua các phóng sự, về các lễ lộc cũng góp phần “cổ động” dân đi dự lễ lộc – ngay tới khi các báo phê bình tiêu cực – đó là những hậu quả trái ngược – effets paradoxaux – bài bác lễ hội nhưng khi bài bác như thế thì … khơi động cái tò mò của dân tình.

Có thể tất cả các lý do trên và nhiều lý do khác nữa, cùng, nhiều hay ít, góp phần giải thích các hiện tượng lễ hội, cuồng tín, …

Trong hiện tượng mê tín hay cuồng tín, các xã học gia hay nhìn về hướng giới trẻ, tức là những người được đi học, được tiếp cận với tri thức. Theo nguyên tắc, những người này ít cuồng tín hơn các thành phần khác.

Thế nhưng khi thấy các thanh niên thanh nữ ngày xuân đi chùa để cầu thi đổ thì có lẻ ta nên đặt câu hỏi “giáo dục ta thế nào mà học trò tin vào thần thánh để đi thi?”

Ý thứ ba

Tín ngưỡng và khoa học có thể song hành ?

Một cách ví von, nhiều người so sánh khoa học với khai sáng còn tín ngưỡng là u tối

Đúng thế. Vì tín ngưỡng đặt trọng tâm lên “tin tưởng” – tức là nói một cách quá lố thì tín ngưỡng dựa lên sự …cả tin hay mù quáng của dân tình.

Tôi tin rằng Thượng đế hiện hữu và là Đấng tối cao an bài mọi sự dù tôi chưa bao giờ có chứng cớ

Khoa học thì nói “tôi chỉ tin những gì tôi đã thấy kiểm chứng” – evidence based.

Trái đất quay xung quanh mặt trời đã được Galilé chứng minh và cái phát minh khoa học này đã khiến ông bị hỏa thiêu vì đương thời lúc ấy giới Công giáo tin rằng quả đất là do Thượng đế lập ra và quả đất đứng yên.

Nhưng tín ngưỡng cần cho khoa học. Tín ngưỡng đặt những giới hạn mà khoa học phải tôn trọng. Tín ngưỡng cũng đề cao những đức tính mà khoa học gia phải có

Vài thí dụ: Tôn trọng sự sống dù đó chỉ là sự sống của thú vật hay thực vật (đạo Phật), tôn trọng quan niệm cách sống của người bệnh (Công giáo – không làm cho tha nhân cái gì ta không muốn tha nhân làm cho ta – trong 10 điều cấm kỵ), trung thành với các kết quả tìm thấy (Khổng giáo – chữ “tín”)

Ý thứ tư

Làm sao để … bớt các hiện tượng mê tín ?

Ba dấu chấm nói lên cái ngập ngừng của người viết bài. Những biểu hiệu mê tín hiện hữu từ nhiều năm. Trong văn hóa, muốn có một thay đổi nào đó cũng cần rất nhiều năm. Ta không có đũa thần để, chỉ với một sắc lệnh, một luật, … thay đổi hiện trạng.

Nếu biết tại sao người ta thành mê tín thì có thể dùng những phương tiện trái ngược để “trị” mê tín.

Phương thức mà tác giả bài này cỗ súy là giáo dục, đi từ giới trẻ. Không cần cấm đoán, chỉ dùng lý lẻ khoa học – đặc biệt về tâm lý và xã hội học, hai môn mà ta chưa cho vào chương trình phổ thông. Và phải làm sao chủ đích của giáo dục là khai phóng, tức là tập tành cho trẻ tự lập, dựa trên hai chân mình mà đi, với một cái đầu biết suy nghĩ ở trên hai vai – chú không dựa vào bất cứ ai, nhất là không dựa vào thần thánh.

Các báo chí cũng có thể góp phần nâng cao hiểu biết của dân tình bằng những bài quảng bá khoa học – khoa học chính hiệu chứ không phải khoa học dịch từ các báo tabloide của phương Tây.

Nguyễn Huỳnh Mai

Lao động có đăng một phần của bài này

https://laodong.vn/dien-dan/giao-duc-khai-sang-chia-khoa-day-lui-me-tin-di-doan-592806.ldo

Advertisements

Chuẩn bị cho trẻ học toán từ bé ?

Giáo dục là nghề của tôi – dù tôi đã nghỉ hưu từ mười năm nay. Bài này là chứng tích – như người ta nhặt một viên sỏi hay một cánh hoa dại trên đường đi  –  Dù gì đi nữa, dù đã định gát bút, tôi vẫn thiết tha đến con trẻ và tiếp tục đọc / viết về dạy trẻ… 

Bài này tôi có gửi về cho nhà báo Thao Lâm nhưng  Dân Trí không đăng được vì quá …sơ sài.

Tôi đã nghĩ rằng bài này có tính ứng dụng cao!

Rõ ràng là đã đến lúc tôi phải rời sân chơi.

.

Trẻ, từ lúc mới sinh ra, có khả năng về số, về toán. Điều này khoa học đã bắt đẩu đưa giả thuyết từ thập niên 60 và minh chứng được từ hơn mươi năm nay – Khả năng này, thú vật cũng có: các con bồ câu biết chọn những ô có nhiều thức ăn ; các con khỉ, khi được huấn luyện, làm toán cộng mau hơn người, …

Đếm, đối với trẻ con từ lúc lên hai, gần như là một “phản xạ”, là một “nhu cầu” : chúng đếm những cột đèn khi đi đường, những bậc thang khi leo lên gác, hay những quả banh, hòn bi, … khi chơi đùa. Các bậc cha mẹ hay giáo viên chỉ cần dựa trên “nhu cầu” đó của trẻ để giúp chúng nhân bội lên và phát triển những khả năng mà não chúng đã được thiết bị.

Tức là não của mọi trẻ đều … đã được thiết bị và có khả năng về toán.

https://hocthenao.vn/2016/01/25/stanilas-dehaene-nao-bo-va-day-toan-cho-tre-o-tieu-hoc-nguyen-huynh-mai/

.

Gần đây hai nhà nghiên cứu ở ĐH Louvain, Bỉ, đã nêu lên được chứng cứ về liên hệ giữa sinh hoạt của trẻ trong gia đình và khả năng học toán ở trường. Nghiên cứu này có thể giúp cha mẹ của trẻ ứng dụng để giúp con mình giỏi toán hơn.

Nghiên cứu theo dõi 128 bé từ 3 đến 6 tuổi, thực hiện với chúng những trắc nghiệm về lý luận, về số học và về cộng trừ nhân chia.

Đồng thời nghiên cứu cũng hỏi cha mẹ của những trẻ này về những sinh hoạt thường nhật của trẻ ở nhà.

Rốt cuộc, các nhà nghiên cứu thấy là có một sự liên hệ rõ ràng giữa những khả năng về toán của trẻ ở trường và những sinh hoạt của chúng trong gia đình như đếm, xếp hạng các đồ vật theo kích cở hay theo màu sắc, hình thể, …

Tức là những bậc cha mẹ thường cho con đi thực địa quan sát thế giới vạn vật, “dạy” con thu dọn đồ chơi, đếm các vật trong vũ trụ chung quanh,… đã khai tâm cho con, dọn đường cho chúng học toán ở trường sau đó.

Trẻ lên ba có thể biết được rằng 2 + 1 = 3, rằng 2 bé hơn 3 và liên tiếp như thế – một cách “học mà không cần cố gắng” vì học trong cuộc sống.

Đi chợ với trẻ và đối thoại với chúng về giá cả các thức phải mua cũng làm tăng khả năng số học cho trẻ.

Làm bếp với chúng – từ năm lên ba lên bốn – giúp chúng tiếp thu những khái nhiệm về dung tích, về trọng lượng các thức cấu thành của một món ăn.

Những trò chơi tập thể như đá banh, bóng bàn, có thắng có thua, nhưng thắng và thua dựa trên các thành quả cụ thể bằng các con số, … cũng là những cách giúp trẻ tiếp cận với toán.

Cho trẻ xâu các chuỗi thành vòng tay hay vòng cổ là một cách khác – qua đó chúng “học” được số hạt và độ dài ngắn của xâu tay hay vòng cổ.

Đó là sơ lượt một vài sinh hoạt rất có ích cho trẻ và chuẩn bị cho chúng tiếp cận với toán.

Tài liệu tham khảo:

Belde Mutaf Yıldız và đồng sự, «Frequency of home numeracy activities is differentially related to basic number processing and calculation skills in kindergartners», Frontiers in Psychology, 22 mars 2018.

Nguyễn Huỳnh Mai

Phim Z, hay bạo lực của công quyền

Film Z, ou la violence du pouvoir en place

.

Sơ lược truyện phim:

Những năm 1960, có nghĩa là trong chiến tranh lạnh bên này và bên kia cái màn sắt – tình hình chính trị căng thẳng. Ở một nước vùng Địa Trung Hải, cảnh sát và hiến binh có nhiệm vụ phải tiêu diệt tất cả những hình thức chống đối nhất là những chống đối bị nghi đi từ ý thức hệ cộng sản. Truyện phim kể trường hợp của một nghị sĩ có khuynh hướng tiến bộ, ông bị bắt, bị tra tấn và cuối cùng tử vong vì những vết thương lúc bị tra tấn.

Hệ thống tòa án, theo nguyên tắc thì độc lập, nhưng tình hình chính trị làm cho chính vị thẩm phán xét xử vụ này cũng nhận áp lực từ chính quyền để che dấu nguyên nhân cái chết của ông nghị sĩ đó.

.

Phim Z đã tạo rất nhiều tiếng vang.

Trước nhất từ phía công chúng. Phim đã bán được gần 4 triệu vé vào cửa. Kế đó, Constantin Costa Gavras, là người thực hiện phim, đã được nhiều giải danh giá ở Cannes và ở Oscar. Một phần cũng là nhờ dàn diễn viên gạo cội thời đó: Jean Louis Trintrignant và Yves Montand thủ hai vai chính.

Người trẻ của thế hệ cách mạng tháng 05/1968 (mai 68) hưởng ứng nhiệt tình tác phẩm của Costa Gavras. Phim Z chẳng những vạch trần những căng thẳng Đông Tây – Tư bản và Cộng sản, phim này còn tố cáo bạo lực của công quyền – tra tấn và thủ tiêu là những hình thức không thể nào chấp nhận được ở thế kỷ thứ XX – lúc đó còn là thế kỷ thứ XX – , cả ở bên này và bên kia bức màn sắt.

Trang wikipedia cho thêm nhiều chi tiết về phim này, tiếng Anh.

https://en.wikipedia.org/wiki/Z_(1969_film)

 

Ở đây, sau khi ghi danh, có thể xem toàn bộ phim, tiếng Pháp

http://server.hdmovieplay.com/play.php?movie=0065234

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Mười năm trước đó và lo bây giờ, …

Tựa bài như thế vì thật tình, cách đây mười năm, tôi chưa nghĩ rằng mình già.

.

Ở Trung tâm Pompidou – Paris – Phía sau là một tác phẫm của Fernand Leger

Tuổi già không tránh ai. Thế nhưng khi chính bản thân mình được thiên hạ nhường chỗ trên xe bus, đề nghị giúp khi thấy mang gói nặng hay khi còn ngần ngại giữa ngả tư, được giá rẻ cho điện thoại hay được có người đến để giúp việc nhà, …người cao tuổi bỗng cảm thấy già thật sự.

Già tức là được ăn lương  hưu, được đi xe lữa với giá rẻ, được vào một số bảo tàng viện mà không mất tiền , hay với giá thấp hơn, …

Nhưng già là già trong mắt ai đó. Dân tình đối xử với người già đặc biệt hơn. Chính những đối xử đó báo cho các cụ biết rằng không phải các vết nhăn trên mặt, chiếc răng long, mớ tóc bạc hay các chấm nâu trên tay, … làm cho  họ khổ khi nghĩ đến thời còn trẻ. Mà là ánh mắt và sự đối đãi của người chung quanh.

 

Người già được …”nâng niu”, được giúp đở, … vì có khi chính họ không nhận biết, nhưng sự việc sờ sờ ra đấy: họ tuổi yếu đi, mõng manh hơn và  phải lo phòng ngừa tai nạn ở bất cứ lúc nào – đó chưa nói đến những bệnh mãn tính, như một cỗ máy cũ, không hỏng chỗ này cũng trục trặc chỗ kia.

Nhưng lắm khi xã hội bỏ rơi người già. Cô đơn là thân phận của các cụ. Nhất là ở trời Âu.

.

Từ nhiều năm nay tôi suy nghĩ về tuổi tác:

https://huynhmai.org/2014/12/08/mua-dong-cua-cuoc-doi-chuyen-ba-camille/

https://huynhmai.org/2015/02/14/suc-khoe-va-tuoi-tac-duoi-goc-nhin-xa-hoi-hoc/

https://huynhmai.org/2015/05/24/tuoi-gia-va-biet-roi-san-choi-dung-luc/

https://huynhmai.org/2018/03/02/tuoi-gia/

.

Một ảnh gần đây hơn, trên xe lửa

Bước vào tuổi 70, tôi phải lắc đầu, từ chối bình luận hay phản ứng trước luật đặc khu hay luật an ninh mạng. Hơn nữa Việt Nam ta  có tam quyền phân lập đâu mà bảo quốc hội phải nghe tiếng dân ?

Có lẻ ta đang thiếu những … tiền đề cho thể chế hầu mong nước giàu và dân hạnh phúc. Tôi đang lo là sẽ lìa đời trước khi được thấy những người đồng hương của tôi sống tốt hơn.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Xã hội học qua lời kể của một Việt kiều

Bài này khởi thủy lên trang năm 2012 và là một trong những bài đầu tiên của blog này. Xin đăng lại hôm nay ở thời điểm mà một vài sinh viên tương lai tự hỏi về nghề xã hội học. Đúng ra các bạn ấy hỏi “học xã hội học ra làm nghề gì?”. 

1. Tại sao tôi chọn theo xã hội học ?

Cái duyên của tôi với xã hội học là do tình cờ. Sau khi tốt nghiệp Luật học, tôi tiếp tục soạn thi bằng sư phạm về khoa học xã hội (agrégation en sciences sociales) với ý định là sẽ đi dạy về Luật xã hội, chuyên ngành của tôi. Giáo sư đở đầu của tôi lúc đó cũng là luật gia nhưng đồng thời là xã hội học gia, đề nghị tôi về làm việc cùng với ông và xã hội học đã … chọn tôi thế ấy. Đó là năm 1975, lúc mà ngành này ở Đại học Liège mới được thành lập khoảng trên dưới mươi năm. Từ đó tôi không rời xã hội học, mà sống với xã hội học đến nổi con trai út của tôi vẫn trêu rằng «mẹ đã cho cả Bourdieu – tên một thầy tôi, một đại thụ của ngành xã hội học – vào bình sữa mẹ cho con bú lúc nhỏ».

2. Điều gì làm tôi ấn tượng nhất trong đời làm về xã hội học ?

Tôi là một người … dễ bị ấn tượng nên có nhiều điều để kể lắm. Xin kể hai chuyện thôi.

Chuyện thứ nhất.

Năm 1975, một đồng nghiệp tôi, ông Georges Campioli đã khám phá rằng «Quái lạ, thông thường, con cái của người Ý nhập cư ở Bỉ và tới Bỉ để làm trong các mỏ than, con cái họ không học Đại học. Điều này dễ hiểu vì «cha nào con nấy». Thế nhưng năm 1972-1973, khoảng hơn 30 thanh niên trong số con người Ý nhập cư ở Bỉ, cha làm thợ mỏ, chẳng những học Đại học mà còn tốt nghiệp ra trường». Ông Campioli đã nghiên cứu nhóm tốt nghiệp này và đã giải thích được rằng sở dĩ họ thành đạt là nhờ họ đã có những hoàn cảnh xã hội đặc biệt giúp họ thoát cái «định mệnh xã hội bởi nguồn gốc gia đình». Chẳng hạn như trường hợp một trẻ được một vị giám mục cho vào ban đồng ca của nhà thờ và tiếp tục nâng đở em. Trường hợp khác, một trẻ «bắt chước» cách sống và văn hóa của gia đình người chủ nơi mẹ em giúp việc nhà. 30 đối tượng nghiên cứu của tác giả Campioli là 30 hoàn cảnh đặc biệt như thế. Ở đây nhóm trong đó cá nhân là thành viên – groupe d’appartenance – khác nhóm được cá nhân dùng làm tiêu chuẫn – groupe de référence –

Thí dụ này cho ta thấy tầm quan trọng của môi trường sống, hoàn cảnh xã hội, … cho tương lai của cá nhân.

Chuyện thứ nhì, sau đó vài năm, chúng tôi đi phỏng vấn các đối tượng một nghiên cứu khác. Đối tượng của chúng tôi là những gia đình nghèo, đông con, vừa được chính phủ giúp để mua nhà ở. Ông bạn đồng nghiệp của tôi, cũng trạc tuổi tôi, là người Bỉ, gốc trưởng giả. Riêng tôi, phụ nữ, gốc người nước ngoài, không giàu, vào thời điểm đó tôi lại đang mang thai, tức là mang bụng bầu đi phỏng vấn trên thực địa – một chi tiết quan trọng vì đối tượng của nghiên cứu là các gia đình đông con – . Cả hai chúng tôi đã áp dụng những tiêu chí về phương pháp như nhau, rất nghiêm nhặt, nhưng kết quả cho thấy là tỉ lệ các đối tượng từ chối trả lời khác nhau, nội dung các câu trả lời cũng khác biệt về chiều dài cũng như về những chi tiết. Tức là đối tượng khảo sát trả lời tùy theo người phỏng vấn và tùy theo sự nhận định của họ về người phỏng vấn.

Ở đây không phải là bạn đồng nghiệp của tôi kém mặc dù tôi thu thập được nhiều kết quả và những kết quả chi tiết hơn ông ấy ! Hiện tượng này quan trọng:  chúng tôi đã khám phá ra một « luật » mới về phương pháp điều tra. Luật này từ đó được cộng đồng xã hội học áp dụng cho các khảo sát như một thận trọng trong phương pháp phải tuân thủ.

Thế mới biết là trong một nghiên cứu xã hội học phải thận trọng loại trừ hết các «biến dạng» có thể của các dữ kiện thu thập được, dù phương pháp đã hoàn chỉnh. Kinh nghiệm này bắt chúng tôi phải vô cùng thận trọng khi đi tìm dữ liệu và lúc nào cũng tự đặt câu hỏi về tính chính xác của dữ liệu. Sau này, khi «giỏi» hơn về thống kê học, tôi biết thêm về các giả thuyết rỗng và các khái nghiệm có thật hay không, tôi biết thêm về độ tín cậy của các dữ kiện bằng các tính sát xuất, …

Một cách cực đoan, có thể nói là không có phương pháp thì không có khoa học, kể cả cho xã hội học. Mà có phương pháp rồi cũng phải tiếp tục thận trọng kiểm chứng giá trị nội tại cũng như giá trị từ bên ngoài của các dữ kiện thu thập được trước khi phân tích hay diễn dịch.

3. Giải thích cho người ngoại đạo thì thành quả chính của xã hội học là gì ?

Tất cả các thành quả chính một cách ngắn gọn ? – Một khoa học với những phương pháp hoàn chỉnh và đã đưa ra vài định luật tới bây giờ vẫn còn hiệu lực.

Xin phép khai triển câu này. Thứ nhất là vấn đề phương pháp

«Nhìn với cái mũi» hay «mô tả qua kinh nghiệm» không phải là khoa học. Durkheim định nghĩa «sự kiện xã hội là một vật thể», cách rời và khác biệt với chủ thể của người làm khoa học. Ta phải mổ xẽ, tìm hiểu và nghiên cứu nó như một vật thể của bất cứ khoa học nào. Những phương pháp của khoa học của sự sống hay khoa học thiên nhiên là những phương pháp thực nghiệm. Cho xã hội học, ta không thể mang xã hội vào phòng thí nghiệm hay lồng kính để quan sát thì ta phải dùng những phương pháp khác để nghiên cứu một cách trung thực nhất.

Mô tả thôi không đủ, chỉ mô tả xã hội học sẽ bị phê bình «à hóa ra đó là khoa học của những điều hiển nhiên, cần gì nhờ tới xã hội học gia mới biết là hể có khủng hoảng kinh tế thì số người thất nghiệp và số người tự tử tăng». Xin trả lời ngay là điều hiển nhiên có khi đúng có khi sai, tùy hoàn cảnh, trường hợp. Xã hội học nêu cho ta cái điều hiển nhiên đúng nhất sau khi đã kiểm chứng – kiểm chứng cũng là một khâu quan trọng.

Các phương pháp của xã hội học là phỏng vấnquan sát. Nằm trong hai phương pháp này có những kỷ thuật khác nhau. Phỏng vấn thì có phỏng vấn tự do, phỏng vấn có hướng dẫn, phỏng vấn khi đối diện với đối tượng, phỏng vấn bằng bảng điều tra, bằng các thang đo các thái độ, thang đo sự hoà nhập trong xã hội. Quan sát cũng có những kỷ thuật khác nữa : quan sát trực tiếp, quan sát tham dự, quan sát các dữ kiện thống kê,… «Đoạn trường ai có qua cầu mới hay» : ở ngoài nhìn vào nhiều người cứ ngở là nghiên cứu xã hội học rất dễ, ai cũng làm được. Sự thật không như thế. Phỏng vấn của báo chí khác phỏng vấn nghiên cứu xã hội học chẳng hạn.

Thứ nhì, về các «luật» xã hội học

Bất cứ một khoa học nào cũng có những «luật» cho ta biết những liên hệ, gần như là bất di bất dịch, giửa hai hiện tượng, giữa hai cấu thể. Thí dụ như luật Archimède, luật Newton,… trong vật lý.

Trong xã hội học chúng tôi cũng có những luật như thế. Xin kể hai thí dụ : luật «cha nào con nấy» hay «sự sao chép vị trí xã hội giữa con và cha» (la reproduction sociale theo Pierre Bourdieu) và luật «kết hôn với người giống mình» (l’homogamie theo Alain Girard).

«Cha nào con nấy» cho thấy là thông thường vị trí xã hội của con bị ảnh hưởng rất lớn, nếu không nói là bị định đoạt, bởi vị trí xã hội của cha mẹ vì con cái bị ảnh hưởng của môi trường giáo dục của gia đình, theo mẫu của cha mẹ, …Cha mẹ thì truyền lại cho con các vốn liếng tiền bạc, văn hóa, xã hội và các biểu tượng (khái niệm về 4 vốn liếng của Bourdieu) – đó là chưa nói đến các vai trò của tâm lý: con cái thường bắt chước mẫu của cha mẹ.

Ở Việt Nam ta hiện nay, “cha nào con nấy” còn là hiện tượng cha mẹ cậy quyền lực để bổ nhiệm con vào các chức vụ lãnh đạo. Hay ngược lại, vì hoàn cảnh quá khó khăn, cha mẹ không có điều kiện giúp con đổi đời.

«Kết hôn với người giống mình», ở gần nhà, cùng môi trường xã hội, cùng trình độ học hành, cùng ý hướng triết lý, … vì tựu trung hoàn cảnh của gặp gở quyết định rất nhiều về những cái «giống nhau» đó : ta thường gặp người bạn đời ở nơi nghỉ hè, ở trường học, nơi làm việc hay nơi sinh hoạt giải trí. Và cuối cùng tim ta chỉ «thổn thức» với những người «hòa cùng nhịp» với ta, tức là những người có một quá khứ, hoàn cảnh,… hao hao như ta, thế mới tri âm tri kỷ…

Hai luật này hay bị những người ngoại đạo bài bác vì luật đầu (cha nào con nấy) nói lên cái bất bình đẳng xã hội và luật thứ nhì (kết hôn với người giống mình) làm mất cái lãng mạn của tình yêu. Nhưng hai luật này đã được kiểm chứng, ít nhất là ở trời Âu và tôi sẽ nói như Galilée «quả đất vẫn xoay»… Thế có nghiã là luật của xã hội học vẫn có giá trị dù bị nhiều người nghi ngờ. Một ngày nào đó, xã hội phải nhìn nhận thôi.

Dĩ nhiên, luật của xã hội học là những luật tương đối và có những trường hợp ngoại lệ. Nhưng một số luật về di truyền học, về vật lý, … cũng tương đối đấy mà !

4. Vai trò nào của xã hội học trong xã hội và trong sự đào tạo tri thức ?

Một cách dữ dội, tôi có thể nói là các tổ chức lo tiếp thị thuê nhiều xã hội học gia để nghiên cứu hầu biết rõ người tiêu dùng (những đặc điểm, những thói quen, những khả năng tài chính ,…) để quyến rũ họ hay … lường gạt họ cốt để bán hàng hay bán dịch vụ nào đó.

Điềm tỉnh hơn, kết quả của Career Cast mới đây đã cho thấy rằng xã hội học gia là một trong 20 nghề đầu bảng trong số xếp hạng 200 ngành nghề, không những vì nghề này không nặng nhọc, ít căng thẳng – stress – , môi trường làm việc tốt mà còn lương khá (hơn 70.000 đô la Mỹ mỗi năm cho một xã hội học gia khởi nghiệp), dễ tìm việc làm và tựu chung là một nghề được đánh giá cao.

Ta không thể nào quan niệm một y tá, điều dưỡng hay bác sĩ thiếu kiến thức về xã hội học vì họ phải hiểu, để có thể trị và săn sóc, bệnh nhân của họ. Tương tự như vậy, một thẩm phán, một chuyên viên về phạm tội học cũng phải biết thế nào là sinh hoạt bình thường của xã hội, thế nào là vi phạm tổ chức và liên hệ xã hội. Thậm chí, một kiến trúc sư cũng phải có vài vốn liếng về xã hội học để có thể hiểu tốt hơn các nhu cầu của khách hàng tùy theo gia cảnh, địa vị xã hội, … của những khách hàng này. Một kiến trúc sư lo về thiết kế đô thị thì càng cần rõ hơn nữa về nhu cầu của thị dân và những hậu quả khi mật độ dân cư đi quá mức nào đó.

Cán sự xã hội, tư vấn ngành nghề, tư vấn gia đình, chuyên viên y tế cộng đồng, … phải là những người am tường xã hội học.

Tựu trung, các ngành nghề nào có liên quan tới con người là cần xã hội học vì con người là một con vật sống trong xã hội, có liên hệ mật thiết với cộng đồng và bị cộng đồng ảnh hưởng.

Trong các chương trình học của các ngành nghề vừa kể trên, ở Bỉ, đều có môn xã hội học. Trong các văn phòng của các đảng phái chính trị hay trong các ban cố vấn của các nhân vật chính trị đều có mặt của các xã hội học gia.

Xã hội học gia không ở đó để bảo các nhà chính trị phải làm điều này hay điều kia. Nhưng xã hội học gia có thể nói «nếu ông hay bà làm như thế đó thì kết quả có thể sẽ là …» hay «nếu ông hay bà muốn đạt đến kết quả X hay Y thì con đường ngắn nhất có thể là …».

Thành ngữ Pháp có câu «một người có cảnh báo có giá trị gấp đôi» (Un homme averti en vaut deux). Hiểu biết về xã hội học cũng như bất cứ hiểu biết khoa học nào làm tăng giá trị của cá nhân và giúp ta sống tốt hơn.

Chính vì thế, dù sinh sau đẻ muộn, xã hội học là một khoa học mới thực sự phát triển chưa đầy một thế kỷ, nhưng xã hội học là một ngành quan trọng và có ích.

Nguyễn Huỳnh Mai

Áo cũ, áo mới

Đây là bộ áo váy mùa hè cho cháu tôi

Được may từ một cái áo cũ. Một cách tái sử dụng để không thêm rác cho môi trường

May cái áo đầy khó khăn vì phải tùy theo chỗ vải có thể tái sử dụng. Tôi lại chỉ là một người mới tập tểnh … vào nghề.

Kết quả là một cái váy ghép chéo nhiều mãnh – với hai cái túi đàng hoàng. Cái áo lệch vai vì vải của tôi chỉ có thế ấy. Nhưng thành “mốt mới”.

Một bộ áo đơn giản cho một cô bé lên bốn

Nguyễn Huỳnh Mai

Gia tài của Simone de Beauvoir, ba mươi năm sau …

Bài này khởi thủy lên trang năm 2016, nhân ngày giỗ thứ 30 của Simone de Beauvoir, hôm nay xin đăng lại gọi là quà tặng một cô bạn mới ở New Jersey – Ở trên đời thì Françoise Héritier là mẫu phụ nữ uyên bác mà tôi yêu còn Simone de Beauvoir là người tôi tôn kính. 

.

La liberté et les droits des femmes dans l’oeuvre de Simone de Beauvoir ou l’héritage de Simone de Beauvoir, trente ans après son décès.

.

Simone de Beauvoir mất năm 1986. Ba mươi năm sau khi bà vĩnh viễn rời dương thế, gia tài của bà còn lại những gì?

Tự do và nữ quyền là hai khái niệm mà ta thừa hưởng từ Simone de Beauvoir.

.

Tự do vì bà đã viết và đã sống hầu như không lệ thuộc vào một bối cảnh đầy ràng buộc xã hội của thời bà lúc ấy, nhất là cho một phụ nữ. Những bút ký, tự truyện và chính kiến của bà chứng minh rõ ràng sự tự do cá nhân.  

Từ “Hồi ký của một thiếu nữ con nhà đàng hoàng” bà đã bàng bạc miêu tả những “luật lệ” của giai cấp trưởng giả mà bà không đồng ý. Bà đã là một thiếu nữ đàng hoàng nhưng bất chấp nề nếp.

Khi thi bằng sư phạm agrégation để đi dạy năm 1929, bà tốt nghiệp hạng nhì, chỉ sau Jean Paul Sartre, một thứ hạng làm bà rất bực mình – phụ nữ, nhất là một phụ nữ như bà đáng lý ra không thể kém thua nam giới. Jean Paul Sartre sau này đã sát cánh đồng hành cùng bà trong hu như suốt đời.

Tự do nữa khi bà quyết định không kết hôn với Jean Paul Sartre vì không muốn thừa nhận những hình thức mà xã hội áp đặt trên liên hệ nam nữ. Dù Sartre đã nhiều lần “cầu hôn” bà.

Tự do của bà cũng là tự do luyến ái, nhiều người tình và cả hai giới tính dù suốt đời bà đã trung thành với Sartre, trung thành trong tri thức, trung thành bền vững theo một định nghĩa riêng của bà mà ta phải quan sát tất cả những gì bà đã hoàn thành cụ thể để có thể nhận thấy: những đối thoại thường nhật giữa hai người, cùng thành lập và chăm sóc tập san Thời đại mới – Les temps Modernes – cùng đọc bản thảo của nhau, cùng dấn thân tham dự những sinh hoạt xã hội như sang Liên xô, sang Cuba hay đi gặp Che Guevera, xuống đường trong những biểu tình, …

Các nhà xã hội học phân biệt trung thành thể xác, trung thành tình cảm, trung thành xã hội và trung thành tri thức.

Nói một cách thái quá, ngoại tình thể xác không quan trọng – xã hội vẫn chấp nhận các đấng mày râu mua dâm chẳng hạn – . Hết yêu một ai đó là ngoại tình tình cảm, người bị phản bội có thể cảm thấy bị xúc phạm. Hôn nhân còn là một “thể chế xã hội”, dưới thanh thiên bạch nhật có người tình mới làm người bạn đời bị xúc phạm dước hai khía cạnh vừa tâm lý vừa xã hội. Còn ví dụ lúc ở chung nhà mà hết … tâm đầu ý hiệp thì đó là thiếu trung thành tri thức – dù vẫn còn sống chung và dù vẫn …có vẻ yêu nhau – , là hình thức  … nặng nhất trong các cách phụ tình. Sartre và Beauvoir trung thành với nhau suốt đời trong tri thức dù có những thời điểm “phụ tình” nhau dưới những hình thức khác.

Cái trung thành đó cũng là một trung thành của tự do, trung thành do bản thân chọn lựa chứ không trung thành “bình thường” tuân thủ theo những “luật lệ” xã hội.

Trong các tác phẫm khác, Tout compte fait, La vieillesse hay Une mort très douce, Simone de Beauvoir tố cáo các áp đặt của xã hội, bà mô tả những ràng buộc khiến ta, trong rất nhiều trường hợp hoàn toàn không có quyền quyết định. Số phận của người cao tuổi, lúc bệnh hoạn hay lúc phải lìa đời, tổng kết lại, con người thật ít có khi có quyền lựa chọn.

Cả đời Simone de Beauvoir cho ta mẫu của sự tự do chọn lựa. Bà là hiện thân của người phụ nữ có bản thể chứ không rập  theo những khuôn vàng thước ngọc mà xã hội đặt ra.

.

Phụ nữ, vị trí trong xã hội, nữ quyền là di sãn thứ nhì Simone de Beauvoir để lại cho hậu thế.

.

Ta không sinh ra là phụ nữ mà ta trở thành”. Câu này «On ne naît pas femme, on le devient», bà viết ở đầu quyển Giới tính thứ nhì, xuất bản năm 1949 vả hiện vẫn được xem như «kinh thánh» của phong trào giành nữ quyền. Vì xã hội phân công, rồi giáo dục các bé gái hay phụ nữ làm cho vị thế của các cô và các bà thành lệ thuộc người khác, trong đó có lệ thuộc nam giới.

Lần đầu tiên trong lịch sử, một phụ nữ đòi quyền, không chỉ bình đẳng với nam giới mà tất cả quyền làm người của phụ nữ – từ tự do giới tính, có thai và sinh con hay phá thai, … đến quyền không bị … bóc lột trong chuyện nội trợ.

Simone de Beauvoir dẫn đường cho phong trào đòi nữ quyền những năm cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 của thế kỹ trước là như thế đó.

Thật vậy, Giới tính thứ nhì được xuất bản hai mươi năm trước khi phong trào giải phóng phụ nữ ở Pháp, MLF Mouvement de Libération des Femmes, ra đời. So với châu Mỹ, Giới tính thứ nhì của Simone de Beauvoir cũng được xuất bản hơn mười năm trước quyển La Femme mystifiée,- Người phụ nữ bí ẩn – của Betty Friedan.

Simone de Beauvoir, trong Giới tính thứ nhì, dùng phương pháp nhân học, sử học, xã hội học, và bắt đầu là phương pháp y khoa để mô tả phụ nữ, định vị chân dung của nhiều “hạng” phụ nữ trong xã hội, qua các thời kỳ, đi từ những truyện thần kỳ đến thực thể trong xã hội của thế kỷ thứ XX, với các mẫu phụ nữ như người mẹ người vợ người tình và, đặc biệt người đồng tính, người bán dâm,… Một bách khoa toàn thư với cách nhìn đặc biệt tiến bộ so với thời đại của bà.

Cho phần đầu của quyển Giới tính thứ nhì, Simone de Beauvoir nói về Số phận của người phụ nữ. Còn phần thứ tư, Sự giải phóng cho phụ nữ. Có ràng buộc của xã hội, nhưng cũng có sự bất động, cam chịu của chính bản thân người phụ nữ.

Trong dấu ngoặc, cam chịu hay bất động vì phụ nữ được giáo dục như thế. Tác giả bài này không đồng ý với lập luận của Jean Paul Sartre theo đó “ta vừa là nạn nhân vừa là đồng phạm trong thân phận ta” (Les mains sales – Những bàn tay bẩn) mà Simone de Beauvoir dùng ở đây.

Cuối cùng, hơn nửa thế kỷ sau, tác phẫm Giới tính thứ nhì của Simone de Beauvoir vẫn là “sách gối đầu giường” cho vấn đề phụ nữ, của những ai chú ý đến nữ quyền.

Nguyễn Huỳnh Mai

Về Simone de Beauvoir, xin mời đọc:

https://huynhmai.org/2014/03/21/simone-de-beauvoir-va-nhung-tran-tro-ve-kiep-nguoi/