Skip to content

Xã hội học qua lời kể của một Việt kiều

Tháng Tám 26, 2012

1. Tại sao tôi chọn theo xã hội học ?

Cái duyên của tôi với xã hội học là do tình cờ. Sau khi tốt nghiệp Luật học, tôi tiếp tục soạn thi bằng sư phạm về khoa học xã hội (agrégation en sciences sociales) với ý định là sẽ đi dạy về Luật xã hội, chuyên ngành của tôi. Giáo sư đở đầu của tôi lúc đó cũng là luật gia nhưng đồng thời là xã hội học gia, đề nghị tôi về làm việc cùng với ông và xã hội học đã … chọn tôi thế ấy. Đó là năm 1975, lúc mà ngành này ở Đại học Liège mới được thành lập khoảng trên dưới mươi năm. Từ đó tôi không rời xã hội học, mà sống với xã hội học đến nổi con trai út của tôi vẫn trêu rằng «mẹ đã cho cả Bourdieu – tên một thầy tôi, một đại thụ của ngành xã hội học – vào bình sữa mẹ cho con bú lúc nhỏ».

2. Điều gì làm tôi ấn tượng nhất trong đời làm về xã hội học ?

Tôi là một người … dễ bị ấn tượng nên có nhiều điều để kể lắm. Xin kể hai chuyện thôi.

Chuyện thứ nhất.

Năm 1975, một đồng nghiệp tôi, ông Georges Campioli đã khám phá rằng «Quái lạ, thông thường, con cái của người Ý nhập cư ở Bỉ và tới Bỉ để làm trong các mỏ than, con cái họ không học Đại học. Điều này dễ hiểu vì «cha nào con nấy». Thế nhưng năm 1972-1973, khoảng hơn 30 thanh niên trong số con người Ý nhập cư ở Bỉ, cha làm thợ mỏ, chẳng những học Đại học mà còn tốt nghiệp ra trường». Ông Campioli đã nghiên cứu nhóm tốt nghiệp này và đã giải thích được rằng sở dĩ họ thành đạt là nhờ họ đã có những hoàn cảnh xã hội đặc biệt giúp họ thoát cái «định mệnh xã hội bởi nguồn gốc gia đình». Chẳng hạn như trường hợp một trẻ được một vị giám mục cho vào ban đồng ca của nhà thờ và tiếp tục nâng đở em. Trường hợp khác, một trẻ «bắt chước» cách sống và văn hóa của gia đình người chủ nơi mẹ em giúp việc nhà. 30 đối tượng nghiên cứu của tác giả Campioli là 30 hoàn cảnh đặc biệt như thế. Ở đây nhóm trong đó cá nhân là thành viên – groupe d’appartenance – khác nhóm được cá nhân dùng làm tiêu chuẫn – groupe de référence –

Thí dụ này cho ta thấy tầm quan trọng của môi trường sống, hoàn cảnh xã hội, … cho tương lai của cá nhân.

Chuyện thứ nhì, sau đó vài năm, chúng tôi đi phỏng vấn các đối tượng một nghiên cứu khác. Đối tượng của chúng tôi là những gia đình nghèo, đông con, vừa được chính phủ giúp để mua nhà ở. Ông bạn đồng nghiệp của tôi, cũng trạc tuổi tôi, là người Bỉ, gốc trưởng giả. Riêng tôi, phụ nữ, gốc người nước ngoài, không giàu, vào thời điểm đó tôi lại đang mang thai, tức là mang bụng bầu đi phỏng vấn trên thực địa – một chi tiết quan trọng vì đối tượng của nghiên cứu là các gia đình đông con – . Cả hai chúng tôi đã áp dụng những tiêu chí về phương pháp như nhau, rất nghiêm nhặt, nhưng kết quả cho thấy là tỉ lệ các đối tượng từ chối trả lời khác nhau, nội dung các câu trả lời cũng khác biệt về chiều dài cũng như về những chi tiết. Tức là đối tượng khảo sát trả lời tùy theo người phỏng vấn và tùy theo sự nhận định của họ về người phỏng vấn.

Ở đây không phải là bạn đồng nghiệp của tôi kém mặc dù tôi thu thập được nhiều kết quả và những kết quả chi tiết hơn ông ấy ! Hiện tượng này quan trọng:  chúng tôi đã khám phá ra một « luật » mới về phương pháp điều tra. Luật này từ đó được cộng đồng xã hội học áp dụng cho các khảo sát như một thận trọng trong phương pháp phải tuân thủ.

Thế mới biết là trong một nghiên cứu xã hội học phải thận trọng loại trừ hết các «biến dạng» có thể của các dữ kiện thu thập được, dù phương pháp đã hoàn chỉnh. Kinh nghiệm này bắt chúng tôi phải vô cùng thận trọng khi đi tìm dữ liệu và lúc nào cũng tự đặt câu hỏi về tính chính xác của dữ liệu. Sau này, khi «giỏi» hơn về thống kê học, tôi biết thêm về các giả thuyết rỗng và các khái nghiệm có thật hay không, tôi biết thêm về độ tín cậy của các dữ kiện bằng các tính sát xuất, …

Một cách cực đoan, có thể nói là không có phương pháp thì không có khoa học, kể cả cho xã hội học. Mà có phương pháp rồi cũng phải tiếp tục thận trọng kiểm chứng giá trị nội tại cũng như giá trị từ bên ngoài của các dữ kiện thu thập được trước khi phân tích hay diễn dịch.

3. Giải thích cho người ngoại đạo thì thành quả chính của xã hội học là gì ?

Tất cả các thành quả chính một cách ngắn gọn ? – Một khoa học với những phương pháp hoàn chỉnh và đã đưa ra vài định luật tới bây giờ vẫn còn hiệu lực.

Xin phép khai triển câu này. Thứ nhất là vấn đề phương pháp

«Nhìn với cái mũi» hay «mô tả qua kinh nghiệm» không phải là khoa học. Durkheim định nghĩa «sự kiện xã hội là một vật thể», cách rời và khác biệt với chủ thể của người làm khoa học. Ta phải mổ xẽ, tìm hiểu và nghiên cứu nó như một vật thể của bất cứ khoa học nào. Những phương pháp của khoa học của sự sống hay khoa học thiên nhiên là những phương pháp thực nghiệm. Cho xã hội học, ta không thể mang xã hội vào phòng thí nghiệm hay lồng kính để quan sát thì ta phải dùng những phương pháp khác để nghiên cứu một cách trung thực nhất.

Mô tả thôi không đủ, chỉ mô tả xã hội học sẽ bị phê bình «à hóa ra đó là khoa học của những điều hiển nhiên, cần gì nhờ tới xã hội học gia mới biết là hể có khủng hoảng kinh tế thì số người thất nghiệp và số người tự tử tăng». Xin trả lời ngay là điều hiển nhiên có khi đúng có khi sai, tùy hoàn cảnh, trường hợp. Xã hội học nêu cho ta cái điều hiển nhiên đúng nhất sau khi đã kiểm chứng – kiểm chứng cũng là một khâu quan trọng.

Các phương pháp của xã hội học là phỏng vấnquan sát. Nằm trong hai phương pháp này có những kỷ thuật khác nhau. Phỏng vấn thì có phỏng vấn tự do, phỏng vấn có hướng dẫn, phỏng vấn khi đối diện với đối tượng, phỏng vấn bằng bảng điều tra, bằng các thang đo các thái độ, thang đo sự hoà nhập trong xã hội. Quan sát cũng có những kỷ thuật khác nữa : quan sát trực tiếp, quan sát tham dự, quan sát các dữ kiện thống kê,… «Đoạn trường ai có qua cầu mới hay» : ở ngoài nhìn vào nhiều người cứ ngở là nghiên cứu xã hội học rất dễ, ai cũng làm được. Sự thật không như thế. Phỏng vấn của báo chí khác phỏng vấn nghiên cứu xã hội học chẳng hạn.

Thứ nhì, về các «luật» xã hội học

Bất cứ một khoa học nào cũng có những «luật» cho ta biết những liên hệ, gần như là bất di bất dịch, giửa hai hiện tượng, giữa hai cấu thể. Thí dụ như luật Archimède, luật Newton,… trong vật lý.

Trong xã hội học chúng tôi cũng có những luật như thế. Xin kể hai thí dụ : luật «cha nào con nấy» hay «sự sao chép vị trí xã hội giữa con và cha» (la reproduction sociale theo Pierre Bourdieu) và luật «kết hôn với người giống mình» (l’homogamie theo Alain Girard).

«Cha nào con nấy» cho thấy là thông thường vị trí xã hội của con bị ảnh hưởng rất lớn, nếu không nói là bị định đoạt, bởi vị trí xã hội của cha mẹ vì con cái bị ảnh hưởng của môi trường giáo dục của gia đình, theo mẫu của cha mẹ, …Cha mẹ thì truyền lại cho con các vốn liếng tiền bạc, văn hóa, xã hội và các biểu tượng (khái niệm về 4 vốn liếng của Bourdieu) – đó là chưa nói đến các vai trò của tâm lý: con cái thường bắt chước mẫu của cha mẹ.

Ở Việt Nam ta hiện nay, “cha nào con nấy” còn là hiện tượng cha mẹ cậy quyền lực để bổ nhiệm con vào các chức vụ lãnh đạo. Hay ngược lại, vì hoàn cảnh quá khó khăn, cha mẹ không có điều kiện giúp con đổi đời.

«Kết hôn với người giống mình», ở gần nhà, cùng môi trường xã hội, cùng trình độ học hành, cùng ý hướng triết lý, … vì tựu trung hoàn cảnh của gặp gở quyết định rất nhiều về những cái «giống nhau» đó : ta thường gặp người bạn đời ở nơi nghỉ hè, ở trường học, nơi làm việc hay nơi sinh hoạt giải trí. Và cuối cùng tim ta chỉ «thổn thức» với những người «hòa cùng nhịp» với ta, tức là những người có một quá khứ, hoàn cảnh,… hao hao như ta, thế mới tri âm tri kỷ…

Hai luật này hay bị những người ngoại đạo bài bác vì luật đầu (cha nào con nấy) nói lên cái bất bình đẳng xã hội và luật thứ nhì (kết hôn với người giống mình) làm mất cái lãng mạn của tình yêu. Nhưng hai luật này đã được kiểm chứng, ít nhất là ở trời Âu và tôi sẽ nói như Galilée «quả đất vẫn xoay»… Thế có nghiã là luật của xã hội học vẫn có giá trị dù bị nhiều người nghi ngờ. Một ngày nào đó, xã hội phải nhìn nhận thôi.

Dĩ nhiên, luật của xã hội học là những luật tương đối và có những trường hợp ngoại lệ. Nhưng một số luật về di truyền học, về vật lý, … cũng tương đối đấy mà !

4. Vai trò nào của xã hội học trong xã hội và trong sự đào tạo tri thức ?

Một cách dữ dội, tôi có thể nói là các tổ chức lo tiếp thị thuê nhiều xã hội học gia để nghiên cứu hầu biết rõ người tiêu dùng (những đặc điểm, những thói quen, những khả năng tài chính ,…) để quyến rũ họ hay … lường gạt họ cốt để bán hàng hay bán dịch vụ nào đó.

Điềm tỉnh hơn, kết quả của Career Cast mới đây đã cho thấy rằng xã hội học gia là một trong 20 nghề đầu bảng trong số xếp hạng 200 ngành nghề, không những vì nghề này không nặng nhọc, ít căng thẳng – stress – , môi trường làm việc tốt mà còn lương khá (hơn 70.000 đô la Mỹ mỗi năm cho một xã hội học gia khởi nghiệp), dễ tìm việc làm và tựu chung là một nghề được đánh giá cao.

Ta không thể nào quan niệm một y tá, điều dưỡng hay bác sĩ thiếu kiến thức về xã hội học vì họ phải hiểu, để có thể trị và săn sóc, bệnh nhân của họ. Tương tự như vậy, một thẩm phán, một chuyên viên về phạm tội học cũng phải biết thế nào là sinh hoạt bình thường của xã hội, thế nào là vi phạm tổ chức và liên hệ xã hội. Thậm chí, một kiến trúc sư cũng phải có vài vốn liếng về xã hội học để có thể hiểu tốt hơn các nhu cầu của khách hàng tùy theo gia cảnh, địa vị xã hội, … của những khách hàng này. Một kiến trúc sư lo về thiết kế đô thị thì càng cần rõ hơn nữa về nhu cầu của thị dân và những hậu quả khi mật độ dân cư đi quá mức nào đó.

Cán sự xã hội, tư vấn ngành nghề, tư vấn gia đình, chuyên viên y tế cộng đồng, … phải là những người am tường xã hội học.

Tựu trung, các ngành nghề nào có liên quan tới con người là cần xã hội học vì con người là một con vật sống trong xã hội, có liên hệ mật thiết với cộng đồng và bị cộng đồng ảnh hưởng.

Trong các chương trình học của các ngành nghề vừa kể trên, ở Bỉ, đều có môn xã hội học. Trong các văn phòng của các đảng phái chính trị hay trong các ban cố vấn của các nhân vật chính trị đều có mặt của các xã hội học gia.

Xã hội học gia không ở đó để bảo các nhà chính trị phải làm điều này hay điều kia. Nhưng xã hội học gia có thể nói «nếu ông hay bà làm như thế đó thì kết quả có thể sẽ là …» hay «nếu ông hay bà muốn đạt đến kết quả X hay Y thì con đường ngắn nhất có thể là …».

Thành ngữ Pháp có câu «một người có cảnh báo có giá trị gấp đôi» (Un homme averti en vaut deux). Hiểu biết về xã hội học cũng như bất cứ hiểu biết khoa học nào làm tăng giá trị của cá nhân và giúp ta sống tốt hơn.

Chính vì thế, dù sinh sau đẻ muộn, xã hội học là một khoa học mới thực sự phát triển chưa đầy một thế kỷ, nhưng xã hội học là một ngành quan trọng và có ích.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.