Bỏ qua nội dung

Xã hội học về Y khoa ?

Tháng Chín 6, 2012

Xã hội học là môn chuyên nghiên cứu về liên hệ giữa người với người cùng sống trong xã hội, hay liên hệ giữa người và cấu trúc của xã hội.

Xã hội học về Y khoa thì giới hạn phạm vi nghiên cứu trong lảnh vực Y khoa : liên hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân, liên hệ giữa bác sĩ và y tá, hệ thống tổ chức và sinh hoạt, điều hành của bệnh viện,…Giới hạn khuôn khổ nghiên cứu để có thể đi sâu hơn.

Mặt khác, đối tượng của xã hội học về Y khoa còn là nghiên cứu về các bác sĩ, y tá, bệnh nhân,… họ sống, sinh hoạt thế nào, giai tầng xã hội, …

Định nghĩa và ý nghĩa của từng chứng bệnh, yếu tố xã hội trong nguyên nhân cấu thành của bệnh, tiêu thụ dịch vụ sức khỏe như thế nào, bất bình đẵng trước bệnh tật, sinh sống, …cũng là những đề tài nghiên cứu của xã hội học về Y khoa.

Những đóng góp lớn của khoa này ?

. Định nghĩa xã hội của nhiều chứng bệnh

. Cuộc sống của bệnh nhân

. Động cơ thúc đẩy, quá trình học, được xã hội hóa và hành nghề của các bác sĩ

. Bất bình đẳng xã hội trong lĩnh vực y tế

. Bệnh viện như một “hành tinh” riêng (tổ chức, sinh hoạt, hệ điều khiển,…)

. Liên hệ giữa người bệnh và người chữa bệnh – y tá, bác sĩ và bệnh nhân –

Những tác giả quan trọng của khoa này : Parsons, Fox, Freidson, Steudler, Herzlich, Kuty , …

Xã hội học gia lúc làm việc tại bệnh viện không là bác sĩ, cũng không là bệnh nhân. Thông thường họ là một quan sát viên hòa mình với môi trường – group member observer – observateur participant –  hay hợp tác trong những “quan sát-hành động” – để làm sao thu thập được những dữ kiện chính xác nhất, không quấy rầy môi trường mà cũng không ảnh hưởng đến cách sinh hoạt, xữ sự của những nhân vật mình quan sát hay nghiên cứu. Các phương thức điều tra bằng câu hỏi trên giấy hay phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu cũng là những phương pháp áp dụng được cho xã hội học về y khoa.

Một số kiến thức về xã hội học giúp người chữa bệnh hiểu mình và hiểu bệnh nhân hơn. Kiến thức về xã hội học cũng rất cần để áp dụng và “thông dịch” những trắc nghiệm thang tầng – scales hay échelles (thang trầm cảm, thang ngủ gật, thang đau đớn, … )– thường dùng trong y khoa vì bệnh nhân diễn tả khác nhau trong cảm nhận về độ đau, về bệnh trạng, … tùy theo giới tính, tuổi tác, vốn văn hóa, giai cấp xã hội của họ.

Xã hội học về Y khoa rất gần và rất cần cho những khoa khác như dịch tể học, y đức, kinh tế y khoa và quản trị về y tế.

Đóng góp của cá nhân ?

Tôi chăm chú riêng về Xã hội học của giấc ngủ (tức là hạn chế hơn nữa lĩnh vực chuyên môn): hai nghiên cứu lớn có chủ đề những bệnh nhân ngừng thở lúc ngủ- apnéiques – và những bệnh nhân có chứng ngủ rũ – narcoleptiques (ý nghĩa của bệnh, sinh hoạt của những người bệnh, thời dụng biểu, việc làm, hôn nhân và ly dị, giá trị cuộc sống, …)

Những nghiên cứu này đã được công bố tại nhiều Hội nghị quốc tế về giấc ngủ (Brussels, Minneapolis, Seoul) và đã đăng trên các tạp chí khoa học. Tôi cũng đã thuyết trình ở bệnh viện Bạch Mai (hôm 17.01.2007) trong một seminar về giấc ngủ tổ chức bởi bệnh viện này với sự hợp tác của Đại học Liège.

Nghiên cứu thứ nhất (bệnh nhân ngừng thở lúc ngủ) đã cho ra đời hai khái niệm quan trọng :

. ngủ nhiều không được định nghĩa như là một «bệnh» trong xã hội, người ngủ nhiều xem đó là một may mắn và vô hình chung bị giảm thọ vì họ không biết và không chữa bệnh ngủ nhiều của họ.

. cách trị ngừng thở lúc ngủ bằng bình khí dưới cao tần áp suất – nPAP – được xem như một phương tiện biện minh cho người bệnh – légitimation -.

Nghiên cứu thứ hai (bệnh nhân ngủ rũ) giúp đưa ra nhiều áp dụng thực tiển (những khó khăn mà người bệnh gặp phải trong cuộc sống hàng ngày, những nhu cầu của họ, sự quan trọng của trợ giúp xã hội, …) đối với một bệnh mà hiện y khoa chưa có cách trị hoàn hảo.

Trước đó, trong những năm 70-80, tôi đã nghiên cứu về

. hướng và diễn tiến nghề nghiệp của các bác sĩ 10 năm sau khi ra trường,

. sinh hoạt & khó khăn của một bệnh viện có 300 giường,

. bậc thang giá trị đạo đức của sinh viên y tá tại Liège,

. ảnh hưởng của dấn thân triết lý của y tá trong việc làm hàng ngày

. người mắc bệnh Parkinson và cuộc sống hàng ngày

Những nghiên cứu này đã được trình tại Đại học Liège, một số cũng đã được đăng trên các tạp chí khoa học Bỉ. Tôi cũng đã dùng các kết quả này trong các bài giảng cho các sinh viên y khoa và sinh viên y tá, điều dưỡng.

Chủ tâm quan trọng nhất đối với tôi là thận trọng trong phương pháp và diễn tiến của nghiên cứu : tôn trọng đối tượng nghiên cứu, không có tiền kiến, không đặt những câu hỏi có thể có ảnh hưởng tới câu trả lời, vận động ngũ quan để quan sát, khởi đầu từ chi tiết cụ thể rồi mới đi ra tổng quát, để tâm tới cấu trúc và sự hoàn chỉnh của các công cụ khảo sát – questionnaire d’enquête hay grille d’observation … Trong vấn đề giấc ngủ, tôi đã dùng phương pháp «chuyện đời» (récit de vie) để nghiên cứu sâu các trường hợp của các bệnh nhân vì muốn hiểu về các biểu tượng của họ thì phải biết họ sống, suy nghĩ, hành động thường nhật như thế nào, với những nghịch lý và hài hòa của từng cá nhân, … tức là những nghiên cứu định phẩm (recherche qualitative). Dĩ nhiên, những nghiên cứu định phẩm không cho phép đưa ra những kết luận khái quát, không có tính đại diện cho toàn thể các đối tượng nhưng có những đặc điểm điển hình, thường gặp, cho phép ta nêu lên những giả thuyết, phương hướng, … cho các nghiên cứu định lượng sau này.

Hiện, trên thế giới, số xã hội học gia chuyên về giấc ngủ đếm được trên đầu một bàn tay.

Việt Nam có cần Xã hội học về Y khoa không ?

Dĩ nhiên rằng ta cần phát triển môn xã hội học về Y khoa. Nhất là trong viễn ảnh và mục đích nâng cao chất lượng của dịch vụ sức khỏe – quality of cares – Bây giờ bệnh viện ta còn quá tải, ta cần phải săn sóc cho nhiều bệnh nhân nhưng vào một thời điểm nào đó, ta sẽ có phương tiện để lo tới phẩm, tới chất lượng hơn. Phong trào “humanisation des hôpitaux” (làm cho bệnh viện nhân bản hơn, chú trọng tới bệnh nhân hơn) ở Bỉ được khởi xướng vào đầu thập niên 1980 và xã hội học về Y khoa (cũng như tâm lý học về Y khoa) được “lên ngôi” từ đó. Chúng ta cũng phải nghĩ đến vấn đề ấy, sớm hay muộn, để bảo vệ trọn vẹn đời tư của người bệnh, tính cẩn mật của bệnh lý từng người, tâm lý và phương hướng triết lý của từng bệnh nhân, … hầu săn sóc họ một cách thích hợp hơn, tốt hơn. Y khoa không chỉ là cứu sống bệnh nhân và trị lành bệnh mà còn cứu và trị bệnh một cách tốt nhất. Chất lượng của săn sóc  là một giá trị thặng dư nhưng một giá trị thặng dư cần thiết !

Nhưng ta không phải làm để giống thiên hạ hay để chạy theo trào lưu : còn phải tùy theo hoàn cảnh, văn hóa, sở trường sở đoản của ta. Trong chừng mực đó, không thể “nhập cảng” vốn liếng của riêng tôi hay của Âu Mỹ vào phân khoa của Đại học Y dược bên nhà … Những nghiên cứu của nước ngoài chỉ là những thí dụ có thể từ đó làm nẩy mầm những nghiên cứu khác cho bên nhà.

Đặc điểm của Y khoa Việt Nam còn là Y khoa cổ truyền nữa. Có thể cũng cần tìm hiểu về vai trò của các cách chữa trị này, về hình ảnh mà cộng đồng «nuôi nấng», hay tin cậy họ dành cho thuốc nam, …

Nhưng có thể các xã hội học gia bên nhà sẽ phải còn «tranh đấu» chống tính chủ quan của một số bệnh viện và bác sĩ để họ nhìn nhận sự cần thiết và sự chính thống của những nghiên cứu xã hội học nghiêm chỉnh hầu tìm những giải pháp thích ứng nhất trên bình diện Y khoa.

Ở châu Phi, nhóm của nhà nghiên cứu Yannick Jaffré đã thực hiện nhiều nghiên cứu thực tiển, áp dụng phương pháp khảo sát tại chỗ, phương pháp quan sát-hành động và họ đã đăng báo nhiều thành quả mà cộng đồng khoa học rất trân trọng.

Hiện thời, ở Việt Nam, các bệnh viện ở các thành phố đều quá tải, dân chúng lại thích được săn sóc ở các bệnh viện lớn. Có lẻ phải nghiên cứu để phân tích sự kiện này (quá tải đến bực nào, quá tải ở đâu, tại sao quá tải, hậu quả ngắn, viễn ảnh trung và dài hạn của quá tải, …) để sau đó đi tới những giải pháp tổng thể hầu giải quyết vấn đề quá tải của một số bệnh viện – giải pháp tổng thể bao gồm không những trong cách quản lý phần “cung” mà cả giáo dục dân chúng để giảm bớt phía “cầu” chẳng hạn. Giải pháp tổng thể cũng gồm những quyết định về chính trị và kinh tế ở tầng vĩ mô, đưa ra những hình thức «cung» hữu hiệu và phù hợp.

Trước mắt, với sự tiếp sức của một số Đại học Bỉ, chuyên khoa Bác sĩ gia đình được xem như một (trong những) giải pháp (có thể) cho quá tải, nhưng muốn cho khả năng này thành hiện thực, cũng cần một nghiên cứu-hành động (recherche-action) để tìm hiểu những nhu cầu của dân chúng, để giới thiệu vai trò của chuyên khoa mới này đồng thời huy động và giáo dục cộng đồng. Ở đây, cũng cần sự góp sức chuyên môn của xã hội học gia về Y khoa cho chương trình nghiên cứu-hành động ấy.

Một nghiên cứu-hành động vừa khảo sát tìm tòi, với những phương pháp hoàn chỉnh, vừa huy động cộng đồng được nghiên cứu tích cực tham gia vào đề tài của khảo sát vì họ sẽ thừa hưởng lợi ích trực tiếp của khảo sát ấy.

Một chiến dịch ngừa lao có thể là chủ đề của một nghiên cứu-hành động chẳng hạn. Các thành viên của một phường có thể được hướng dẫn đi vào nghiên cứu này, thực thi các phương thức phòng bệnh, học thêm kiến thức mới về y khoa thường thức,…trong việc hiểu và ngừa bệnh lao. Trong lúc đó, các nhà nghiên cứu quan sát họ hầu nêu ra những khó khăn, thuận lợi, và tức thời khắc phục những điều ấy để đạt thành quả tốt cho chiến dịch.

Ta không thể nói «cứ để phát triển Y khoa đã, sau đó mới lo tới xã hội học về y khoa sau». Hai vế này liên hệ hổ tương. Xã hội học về y khoa cần cho việc phát triển Y khoa và có thể giúp ta tối ưu hóa các phát triển trong điều kiện kinh tế còn eo hẹp hoặc tránh những đường hướng không thích hợp, … Muốn đi nhanh, đón đầu mà hiệu quả tốt thì phải có hiểu biết.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.