Skip to content

Sử học ?

Tháng Mười 3, 2012

(Một số đoạn của bài này đã được đăng trên Dân Trí năm 2011 – hiện có thể vấn đề vẫn còn tính thời sự – Xin lỗi độc giả, tôi sẽ chỉnh các dấu hỏi ngã sau…)

.

Một cán bộ có quyền đã cho rằng điểm thi môn Sử thấp là vấn đề của thời đại

http://dantri.com.vn/c25/s25-503056/diem-su-thap-la-van-de-cua-thoi-dai.htm

Học văn là tiếp thu cái đẹp của thơ của truyện, cái mỹ. Học khoa học để hiểu thế giới quanh ta, cái chân. Học khảo cổ học để biết quá khứ tổ tiên. Biết ta từ đâu đến để có thể định hướng đi tương lai. Học đạo đức, học luật, … để sống với người trong xã hội, … Chân, thiện, mỹ là các giá trị của muôn thuở, ở mọi nơi.

.

Mấy dòng trên chưa nói hết ý của tôi. Vì nó còn thực dụng quá. Tôi học vì tôi thích học, vì cái thú, cái hạnh phúc mà sự học mang đến cho tôi. Vì tôi tự định nghĩa mình như thế này hay thế nọ. Cũng có thể vì, sâu xa hơn, tôi đã bị ảnh hưỡng bởi một «mẫu» người nào đó.

Nếu tóm tắt câu trả lời tại sao điểm sử kém ở chỗ thiếu thực dụng của môn học thì có vẻ … thiếu đầy đủ.

Một nghiên cứu, đã cũ, 1982, ở Bỉ, cho thấy là các nữ điều dưỡng chọn ngành học này vì :

    1. muốn giúp người bệnh đở đau đớn

    2. nghề hợp với người phụ nữ

    3. vì gia đình đã có nhiều thành viên làm nghề này

    4. vì ra trường dễ kiếm việc làm

Lý do «thực dụng» có, nhưng nó chỉ ở hàng thứ tư.

Mảnh bằng dùng để đi làm kiếm tiền sống nhưng tôi không thể … bán mình để nuôi thân vì triết lý mà nói, khi đã bán mình rồi thì còn thân đâu nữa mà nuôi ?

Dĩ nhiên, đó là một cách nói cực đoan.

Nước ta còn nghèo, «có thực mới vực được đạo», nhưng giáo dục là giáo dục cho tương lai. Trong 10, 20 năm tới, chúng ta sẽ giàu hơn. Chẳng nhẻ dạy cho cả thế hệ sau này chỉ đi theo cái kinh tế hay cái hầu bao và cúi đầu chấp nhận «à, học sử không ích lợi là lẽ dĩ nhiên» ?

.

Tôi không đưa ra thêm những con số ở Bỉ. Bỉ không phải là một kiểu mẫu, nhưng ở bất cứ nơi nào cũng có những người đam mê lịch sử (ngay ở những thôn quê hẻo lánh bên Pháp cũng có những nhóm thảo luận về Sử, gặp nhau thường xuyên để bàn về đệ nhị thế chiến và vấn đề người Do thái chẳng hạn), đam mê cỗ ngữ (viện Nôm lớn nhất thế giới, với anh Balaban, nằm ở Mỹ), đam mê triết (cảm ơn anh gs. Bùi văn Nam Sơn và Trò chuyện Triết học trên báo Saigon tiếp thị) hay khảo cổ học (cảm ơn chị Ts Hậu khảo cổ), …

 .

Một cách dữ dội, tôi có thể gây phẩn nộ : «học Toán để làm gì nhỉ ? Nói cho cùng, một giải Field cũng chỉ có 15.000 đô la canada – mà hi vọng được giải lại rất mong manh» Thế nhưng vẫn có những nhà bác học nghiên cứu và tìm tòi một cách … vô vụ lợi.

 .

Không học lịch sử thì làm sao rút được những bài học từ lịch sử và tránh những chiến tranh, những tàn sát, diệt chủng đã xảy ra trong quá khứ ? Nếu quả thật ở Việt Nam thế hệ trẻ hiện không thích Sử, có lẻ ta phải đặt câu hỏi sâu hơn và tìm giải pháp.

.

Dạy và học lịch sử ?

.

Tất cả những gì dân tộc – sử nước nhà – hay nhân loại – sử quốc tế – đã chạm đến, đã sống qua, đã chế tạo, đã viết, đã nói trong quá khứ đều thuộc về lịch sử. Nhà sử học là người đi tìm những dấu vết ấy để «đọc», để hiểu và để giải thích…

.

Lịch sử ngày nay – lịch sử theo quan niệm hiện đại – là lịch sử toàn cảnh (histoire globale) mà ta nghiên cứu với những phương pháp độc đáo. Nằm trong lịch sử toàn cảnh : những sự kiện chiến tranh thời cuộc, dĩ nhiên rồi, mà còn có khí hậu, văn minh vật chất, những thái độ, những quan điểm, triết lý, đời sống, sự lo sợ, sự chết, những người nghèo khổ, … trong quá khứ.

.

Học lịch sử để biết ông cha ta đã sống như thế nào, để hiểu gia tài mà tổ tiên ta đã để lại. Từ đó để tự hiểu chính chúng ta và có trách nhiệm đối với các thế hệ con cháu của chúng ta – những gì ta làm hiện thời sẽ là lịch sử của chúng .

.

Nhiều nhà sử học hạnh phúc với nghề của họ, họ «tràng giang đại hải» kể về Đại thế chiến thứ nhì, về văn minh La Mã, về cuộc chiến ở Algérie hay gần với ta hơn, về cái chết qua các thời đại, về vai trò của tiến bộ y khoa trong sự tự do tình dục, …

.

Có nhiều thí dụ khác nữa trong đó vai trò của lịch sử không thể chối cải được .

    • Khi nói về cấu trúc của gia đình, để có thể hiểu tại sao hiện thời gia đình ở châu Âu chỉ là gia đình hạt nhân (chỉ có hai vợ chồng và các con của họ), cũng phải nhắc tới các hình thức gia đình gốc và gia đình đại tộc, phải phân tích những lý do khiến các cấu trúc gia đình ấy phải nhường chổ cho cấu trúc hạt nhân.

    • Khi nói đến việc giải phóng phụ nữ ở Việt Nam, phải nói đến vai trò của người phụ nữ trong hai cuộc chiến giành độc lập ở thế kỷ thứ 20 (ba đảm đang- giỏi việc nhà việc nước và việc sản xuất) lồng trong bối cảnh tam tòng tứ đức (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử và công dung ngôn hạnh)của Khổng giáo, …

    • Liên hệ giửa bác sĩ và bệnh nhân, liên hệ giửa thầy và trò cũng là những liên hệ do lịch sử truyền lại cho ta. «Truyền thống» là một trong những lý do giải thích «quyền lực» của bác sĩ và «quyền lực» của thầy trên đối tác trong liên hệ.

Không hiểu lịch sử thì không định nghĩa được hiện tại và có thể sẽ bất lực trước định hướng tương lai. Cái ý đó, nhiều người đã nói từ lâu. Cái cần là ta học sử để có thể so sánh hiện tại với quá khứ và để hiểu cả hai. Đó là một cách để sống với xã hội và sống trong xã hội.

Phương pháp sử học ?

Tìm tài liệu: Đây là khó khăn lớn nhất của sử học. Phải tìm dấu vết những gì đã xảy ra trong quá khứ và tìm cách «đọc», giải thích, … những dấu vết ấy. Dấu vết có thể là tài liệu viết nhưng cũng có thể là những chứng tích vật chất khác.

Thận trọng đánh giá tài liệu – đánh giá từ bên ngoài, đánh giá nội tại, đánh giá nguồn gốc, đánh giá tùy theo điểm đến, …- nhưng đánh giá không có nghĩa là chỉ tìm cách phân biệt tài liệu đáng tin và tài liệu «giả». Vì nhiều khi tài liệu «giả» cũng giúp nhà sử học biết thêm được nhiều điều ! Đánh giá cần để hiểu và giải thích sự kiện lịch sử trên cơ sở «giá trị» của tài liệu thu thập được.

Không có tài liệu thì không viết sử được.

Để «viết» sử, các nhà nghiên cứu còn «mượn» những phương pháp của các khoa học khác như vật lý học (dùng phương pháp đo carbon 14 để định tuổi của một chứng tích là một thí dụ) xã hội học (phương pháp phân tích tài liệu văn bản chẳng hạn), nhân chủng học, kinh tế học, …

Dạy sử ở tiểu học và trung học phổ thông ?

. để truyền cho trẻ hiểu biết về quá khứ

. để luyện cho trẻ các kỹ năng về giáo dục công dân, quyền lợi và nghĩa vụ trong xã hội, các giá trị văn hóa, đạo đức, …

. để tập tành lý luận, kỹ năng về phương pháp, để phát triển khả năng trí tuệ

Sử học là một trong những phương tiện hửu hiệu để gây đoàn kết cho một nhóm người sống trên một lãnh thổ, cùng chia nhau tài nguyên khoáng sản, có cùng một quá khứ và sẽ cùng chịu chung một «số phận» tương lai.

Nhưng học sử không phải là học thuộc lòng một chuổi sự kiện và ngày tháng.

Có thể bốn chữ : thích, hiểu, học, và làm giàu thêm kiến thức là một công thức mà người dạy sử có thể khai thác cho việc dạy sử ở tuổi này. Gây tò mò hứng thú cho các em bằng cách qui nạp, bằng những cụ thể hiện đại, sau đó giải thích cho các em hiểu một liên hệ, dù rất nhỏ với quá khứ, các em sẽ chú ý học và từ đó dùng kiến thức mới tiếp thu để áp dụng cho các sinh hoạt khác.

Con đường đi đó rất là thích hợp với sinh hoạt và quá trình làm việc thông thường của não (logique neuronale) lại dễ tiếp cận đối với trẻ.

Dạy sử và học sử như thế thì không có gì là áp lực mà lại rất là thực tiển.

 .

Tốt nghiệp Đại học ngành Sử sẽ làm gì được ?

.

Ít nhất là có 5 nơi «dụng vỏ» :

. đi dạy trung học

. nghiên cứu

. làm việc ở các trung tâm tài liệu, quản thủ thư viện

. nghề báo chí, viết văn

. công chức ở các cơ quan di tích, bảo tồn di sản

Đó là chưa kể đến khả năng giử các chức vụ cần kỹ năng tìm tòi, thận trọng đánh giá, phân tích và giải thích một cách khoa học – những kỹ năng mà bất cứ một sử gia nào cũng có.

Theo quan niệm hiện thời ở Bỉ, trừ trường hợp của Y khoa, đào tạo Đại học không những là đào tạo chuyên môn mà còn là đào tạo người.

Một luật gia biết lý luận, có phương pháp, giỏi trí nhớ, có khả năng phát biểu trước đám đông, biết tổ chức công việc và điều khiển nhân viên : đó là mẫu lý tưởng cho các xí nghiệp cần tuyển người lảnh đạo ! Bằng cớ, một nghiên cứu ở Bỉ, năm 1986, cho thấy không đến 20% luật gia ra trường làm luật sư hay thẩm phán. Số còn lại, tức là đa số, làm đủ thứ nghề thậm chí … đi bán tranh hay làm nghệ sĩ. Mà tất cả đều thành đạt, tức là thuộc giai cấp thượng lưu với lợi tức cao.

Một thí dụ khác ? – hơn phân nửa kỷ sư tốt nghiệp Đại học Liège trong những năm 1970-1980 hiện là giám đốc hành chính, tài chính, thương mại, nhân sự, … và hoàn toàn không có trách nhiệm sản xuất hay xây dựng – khả năng mà họ được đào tạo trước đó.

.

1 năm sau khi ra trường, theo Hội những cựu sinh viên Sử của Đại học Liège, không một sử gia nào thất nghiệp mặc dù từ nhiều năm nay, tỉ lệ thất nghiệp tại Bỉ khá cao (10-15% dân trong tuổi đi làm).

Chính vì thế mà cơ quan hướng dẩn ngành học vẫn «trấn an» các sinh viên tương lai, khuyên các em cứ ghi danh học sử nếu các em thích, nếu các em thuộc «hạng» hay tò mò trí tuệ, thường đi thư viện, viện bảo tàng tìm tòi tài liệu, thích đọc sách, thận trọng phán xét, biết suy luận và so sánh, …

.

Phải nói thêm là đại đa số sinh viên học Cao đẳng và Đại học ở Bỉ không đưa mục đích kiếm sống (mục đích thực tiển) như lý do chính hay lý do đầu tiên để chọn ngành học.

.

Theo các nghiên cứu, sinh viên thành công dễ dàng hơn trong quá trình học khi chọn ngành mình yêu thích và tùy hợp với khả năng. Lúc ra trường, ngoài những nghề tự do (như bác sĩ mở phòng mạch, luật gia mở phòng tư vấn, …), sự khó khăn tìm việc không tùy thuộc ngành xã hội hay ngành khoa học tự nhiên mà tùy thuộc nhiều lý do tâm lý (cá tính, nhân cách chẳng hạn) và xã hội (gia đình, giai cấp, vòng quen biết liên hệ, …).

.

Nguyễn Huỳnh Mai – Liège, Bỉ

Advertisements

Đã đóng bình luận.