Bỏ qua nội dung

Nghiên cứu về người nghèo ở Hà Nội – Phần I : Phương pháp

Tháng Mười Một 14, 2012

Bài này đã lên trang ở Tạp chí  Văn Hóa Nghệ An số 236  ra ngày 10.01.2013

.Cũng trên Văn Hóa Nghệ An, báo  mạng, theo liên kết dước đây :http://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/nghien-cuu-ve-nguoi-ngheo-o-ha-noi

. Nguyễn Huỳnh Mai dịch, giới thiệu và trình bày, với sự giúp đở của Johannes Loh

Trang liên kết trên mạng :

http://issuu.com/nuslkyschool/docs/atm_18?mode=window&viewMode=doublePage

Trang trên mạng của Văn Hóa Nghệ An có thể không đọc được nữa nên xin chép lại phần này dưới đây : ,

Phần I : Phương pháp

Bản điều tra :

Sau khi lược qua lý thuyết và khảo sát sơ khởi, các tác giả của nghiên cứu đã tổng kê ra 10 vấn đề hay khía cạnh của đời sống thường ngày mà các người nghèo ở Hà nội đều trải qua hay có thể gặp (thức ăn, nước sạch, điện, chữa bệnh, nhà vệ sinh, trường học tốt, nhà ở, phương tiện đi lại, tìm việc làm, khả năng tiết kiệm).

Các mệnh đề được đặt ra và người được phỏng vấn chỉ cần cho ý kiến về sự tiếp cận của họ :

Dễ dàng, khá dễ dàng, với vài khó khăn, rất khó khăn, không thể,

Sau đó còn 7 câu hỏi khác về giáo dục (tiền học phí, chất lượng giáo viên, tiện nghi trường học, phòng và hệ thống vệ sinh của trường, sự quan trọng của trường học trong quan niệm của người được phỏng vấn, liên hệ giữa học hành và việc làm và cuối cùng viễn ảnh tương lai hay hi vọng cho con cái).

Tuần tự, qua từng câu hỏi, ta biết được thực trạng của đối tượng nghiên cứu mà không cần đưa câu hỏi trực tiếp.

Chủ đề thứ ba là Y tế và sức khỏe : 5 câu hỏi (đủ tiền để chi trả khám chữa bệnh, hay đủ tiền mua thuốc, giá trị định phẫm của các dịch vụ địa phương, đủ trả chi phí cho di chuyển tới các trung tâm y tế, khi đau ốm thà đi làm còn hơn).

Năm khẳng định, đối tượng nghiên cứu sẽ cho 1 trong những ý kiến dưới đây :

Hoàn toàn đồng ý, đồng ý, không ý kiến, không đồng ý, hoàn toàn bất đồng ý.

Như thế giới hạn tối đa can thiệp của người đi phỏng vấn trên đối tượng nghiên cứu hầu bảo đảm được tốt nhất tính trung thực của các dữ kiện thu thập.

.

Chọn mẫu để nghiên cứu :

Trước nhất các tác giả chọn 4 vùng ngoại ô ở Hà nội nổi tiếng là có nhiều nhà ổ chuột và dân nghèo, lợi tức thấp. Phỏng vấn viên dùng phương pháp chọn mẫu tình cờ : cứ theo nhịp chân, qua 3 nhà thì chọn 1, đi hỏi phỏng vấn. Tỉ lệ từ chối rất ít (21 người trên 370 người tức là khoản 5%). Lý do từ chối thường là vì bận, không có thì giờ. Phải nói là các tác giả nghiên cứu đã không “trả công” các đối tượng dân tình hợp tác cho nghiên cứu. Họ chỉ tặng một cái bút bi có in dấu hiệu của Đại học Singapore – Một cách để đi vào phỏng vấn và để tự giới thiệu, đồng thời minh chứng tính chính thống của nghiên cứu.

Một cách tổng quan, các phiếu điều tra đều được trả lời tròn vẹn đến khoảng 95%. Số «không trả lời», «không biết», như thế, không đáng kể. Các kết quả thu thập được xem như hoàn chỉnh và phân tích được, trên bình diện thống kê và phương pháp khoa học.

Rốt cục, các bảng số dưới đây cho thấy là 2/3 dân trong mẫu đối tượng nghiên cứu là nữ – lý do mà các tác giả đưa ra là do thời điểm của các phỏng vấn (ban ngày, trong giờ làm việc nên nam giới vắng mặt ở nhà). Tuổi trung bình khá cao, trên dưới 47 tuổi, các gia đình trung bình gồm 4 thành viên – thế có nghĩa là ở đây các phỏng vấn viên đã không chọn các khu của công nhân tạm trú – Kết quả về hiện trạng hôn nhân không làm ta ngạc nhiên : đại đa số, tới 92% là người đã kết hôn, không ly dị và không góa bụa – hai thành phần này chỉ là một thiểu số rất nhỏ. Số độc thân cũng không nhiều.

Các kết cấu gia đình như thế thuận lợi cho nghiên cứu về các tiếp cận về trường học và tiếp cận dịch vụ sức khỏe.

Nếu có một chi tiết làm cho các xã hội học gia ngạc nhiên, đó là trình độ học vấn của những đối tượng nghiên cứu. Thật vậy, họ là những người nghèo, nhưng hơn 40% nam và gần 20% nữ trong số họ đã học xong Cao đẳng hay Đại học.

. Mẫu những người trong nghiên cứu : đặc tính nhân chũng 1. Giới tính

Số %
Nam giới 124 35.53%
Phụ nữ 225 64.47%
Tổng cộng 349 100.00%

2. Tuổi

Tuổi trung bình
Nam giới 47.6 tuổi
Phụ nữ 46.4 tuổi

3. Số thành viên trong gia đình

Tổng cộng
Trung bình 4.02 người

4. Chế độ hôn nhân

Phụ nữ Phụ nữ % Nam Nam %
Độc thân 7 3.11% 7 5.79%
Đã kết hôn 203 90.22% 111 91.74%
Góa bụa 11 4.89% 2 1.65%
Ly hôn 4 1.78% 1 0.83%
Tổng cộng 225 100.00% 121 100.00%

5. Trình độ học vấn

Nữ Nữ % Nam Nam %
Không có đi học 10 4.50% 1 0.81%
Tới lớp 5 40 18.02% 9 7.32%
Trung học cơ sở (tới lớp 10) 80 36.04% 41 33.33%
Trung học phổ thông (tới lớp 12) 52 23.42% 21 17.07%
Cao đẳng hay Đại học 40 18.02% 51 41.46%
Tổng cộng 222 100.00% 123 100.00%

.

Để có một bức tranh toàn cảnh về hiện tượng người nghèo ở Hà nội các tác giả còn đi quan sát thực tiển và phỏng vấn tại chỗ một số người ngèo (chẳng hạn như người sống về nghề bán lại những phế liệu tìm thấy ở các đống rác hay người buôn gánh bán bưng ở Hà nội, … ). Cái hay nhất là nếu bạn đọc có dịp, xin mời đọc trực tiếp ấn bản gốc của ATM theo liên kết dưới đây :

 Cuối cùng, ấn phẩm nói trên còn được minh họa bằng những bức ảnh đẹp.    

Advertisements

From → Xã hội học

Gửi bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.