Skip to content

Ô nhiễm bụi và trọng lượng của trẻ sơ sinh

Tháng Ba 7, 2013

Các thành phố ở Việt Nam đang ở trong tình trạng ô nhiễm nặng. Môi trường là một vấn đề tối ư quan trọng mà ta chưa chú ý đúng mức. Một nghiên cứu gần đây cho ta biết thêm về hậu quả của ô nhiễm bụi.

Xin vui lòng đọc bài này theo liên kết dưới đây :

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/o-nhiem-bui-va-trong-luong-cua-tre-so-sinh-704179.htm

Ngày 29.08.2016, theo lời yêu cầu của bạn đọc, tôi chép bài về đây, nếu không một ngày nào đó, báo Dân Trí cũng sẽ xóa bài vì máy chủ hễt sức chứa:

.

Một nghiên cứu vĩ mô thực hiện gần đây đã khẳng định sự liên hệ giữa ô nhiễm bụi trong không khí và trọng lượng của các bé sơ sinh : một mức ô nhiễm quan trọng làm tăng rủi ro sinh ra một em bé nhẹ hơn 2,5kg.

Những hậu quả của ô nhiễm môi trường càng ngày càng được minh chứng. Nhất là hậu quả của khí thải xe hơi và khói cặn các nhà máy điện chạy bằng than.

Đại học California San Francisco (UCSF) vừa công bố kết quả của một nghiên cứu lớn về đề tài này với sự cộng tác của hơn 30 trung tâm khoa học, trên toàn thế giới.

Phương pháp

Mẫu của nghiên cứu là ba triệu trẻ sơ sinh ở 14 vùng trong 9 quốc gia Bắc Mỹ, Nam Phi, châu Âu, châu Á và Úc. Những dữ kiện được thu thập từ giữa thập niên 1990 tới cuối thập niên 2010.

Trên những dữ kiện thu thập được, các tác giả đã nghiên cứu sự liên hệ giữa ô nhiễm môi trường mà các bà mẹ sống trong lúc có thai và trọng lượng của các trẻ sơ sinh khi chào đời. Sau đó họ kiểm chứng lại bằng cách so sánh các kết quả của các vùng miền khác nhau .

Mãng bụi trong không khí có kích thước từ ≤ 10 đến 2.5 µm (Những bụi trong môi trường có kích cở này nhỏ hơn 1/10 bề dày một sợi tóc, mỗi một trong chúng ta đều hít thở chúng, nhất là ờ các vùng đô thị, với khí thải của xe, của hệ thống sưỡi, các nhà máy, nhà phát điện, ….). Tùy theo số mãng bụi trong 1m3 không khí mà các nhà nghiên cứu đặt trần cho mỗi độ ô nhiễm.

Cấu thành của các mãng bụi này gồm cả trăm chất khác nhau, có kim loại, có chất hữu cơ, có những chất có thể gây ung thư,… Chúng đi vào phổi ta và có thể vào đến tận các phế nang và từ đó qua máu và đến các bộ phận khác.

Trọng lượng của trẻ sơ sinh nhỏ hơn

Theo những dữ kiện thu thập được, có một tỉ lệ thuận giữa chỉ số ô nhiễm khí trời và số trẻ cân nặng dưới 2,5kg lúc chào đời. Ô nhiễm khí trời càng cao thì số trẻ, lúc ra đời, nhẹ hơn 2,5kg càng nhiều.

Cái mốc con số cân nặng 2,5kg này quan trọng vì theo tác giả Payam Dadvan, trưởng nhóm nghiên cứu, khi cân nặng của trẻ sơ sinh thấp hơn con số này thì bé có nhiều rũi ro bệnh hoạn, tỉ lệ tử vong cao hơn, nếu không thì sau này, trong đời, có khả năng bị nhiều bệnh mãn chứng như tiểu đường, bệnh tim mạch, …

Cần giới hạn mức ô nhiễm ?

Bà Bác sĩ Zoodruff, cũng ở trong nhóm nghiên cứu, nhận xét rằng ở những quốc gia có luật định khắt khe vầ độ ô nhiễm của xe hơi và của những trung tâm điện chạy bằng than đá thì độ ô nhiễm về bụi thấp hơn.

Đồng thời, bà cho biết là ở Mỹ chẳng hạn, phòng chống ô nhiễm trong không khí rẽ hơn so với những ích lợi mà cộng đồng thu gặt được trên bình diện sức khỏe và giá trị sống.

Luật Mỹ ấn định mức bụi trong không khí là 12 microgrammes/m3 không khí trung bình cho cả năm cho những bụi có cỡ dưới 2,5 microns.

So với mức cho phép ở châu Âu (25 microgrammes/m3), giới khoa học ước định là tuổi thọ trung bình của dân tình giảm 9 tháng/đời người.

Tổ chức Y tế thế giới OMS khuyên chỉ nên cho phép mức ô nhiễm bụi đến 10 microgrammes/m3 không khí.

Ở Pekin, các khoa học gia của nghiên cứu này đã đo đến 700 microgrammes/m3 mức ô nhiễm bụi – một mức mà các tác giả của nghiên cứu không thể chấp nhận được cho sức khỏe cộng đồng.

.

Không nên lo sợ quá mức

Nghiên cứu này khuyến khích chính quyền các nơi nên hạn chế độ ô nhiễm cho phép và nên áp dụng các phương thức có thể để thực hiện chính sách này (trang bị đầu lọc khí thải cho các xe gây ô nhiễm, thay các lò điện chạy bằng than bởi các chất đốt khác, …). Hai thí dụ : ở Singapore, chính phủ hạn chế số xe cũ hơn 5 năm. Ở Bỉ, chính phủ phụ giúp các gia đình và khuyến khích họ thay máy sưỡi chạy bằng than bởi các máy điện hay khí đốt.

Đồng thời, các nhà khoa học cũng trấn an các bà mẹ phải sống trong những môi trường ô nhiễm nặng. Nghiên cứu chỉ cho những kết quả vĩ mô, tỉ lệ trẻ nhẹ cân nhiều hơn – so với số trẻ mà mẹ chúng không bị ảnh hưởng của ô nhiễm trong quá trình mang thai – nhưng không có nghĩa là tất cả trẻ đều bị hậu quả đó.

.

Tài liệu dẫn :

Payam Dadvand, Jennifer Parker, Michelle L. Bell (et al.), Maternal Exposure to Particulate Air Pollution and Term Birth Weight: A Multi-Country Evaluation of Effect and Heterogeneity, Environmental health perspectives, n°121:367–373 (2013).

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Khoa học

Đã đóng bình luận.