Skip to content

Khoa học của những giấc mơ (II)

Tháng Ba 19, 2013

Bài này đã đăng ở đây :

http://dantri.com.vn/khoa-hoc/khoa-hoc-cua-nhung-giac-mo-phan-ii-708867.htm

Về vấn đề giấc mơ, thần kinh học nghiên cứu sinh hoạt của não trong khi tâm thần học nghiên cứu về những “bệnh” của giấc mơ hầu tìm cách chữa trị. Có người xếp hạng cho rằng thần kinh học về giấc mơ là một  khoa học “cứng” còn tâm thần học về giấc mơ là một khoa học “ứng dụng” – ứng dụng những hiểu biết y khoa để trị bệnh.

Thật sự, biên giới giữa thần kinh học và tâm thần học không rõ ràng. Muốn trị bệnh cho những người có vấn đề về giấc mơ bác sĩ tâm thần cũng phải có ít nhất là một vài vốn liếng về sinh hoạt não bộ của giấc mơ để quyết định phương thức điều trị thích ứng nhất.

Trong tâm thần học, trường phái phân tâm học đóng một vai trò quan trọng, để ít nhất là một phần giúp giải mã các giấc mơ của bệnh nhân trước khi có thể trị được bệnh.

Thế có nghĩa là bác sĩ tâm thần chỉ “can thiệp” khi người nằm mơ có vấn đề hay khi người ấy không thể tiếp tục sống bình thường với những giấc mơ khi ngủ. Một cách khác, ta chỉ đến gõ cữa bác sĩ tâm thần khi ta có bệnh, khi những giấc mơ làm ta khó chịu hay làm ta khổ. Định nghĩa của tâm thần học nằm ở đó.

Bài này khai thác khía cạnh tâm thần học, trong đó có phân tâm học, của những giấc mơ.

Ác mộng

Nguồn gốc của ác mộng có thể là những lo lắng, sợ hãi của ta trong ngày (trên dưới 50% ác mộng là do nguyên nhân này), hay những vấn đề lúc còn bé mà vẫn chưa giải quyết (giả thuyết của trường phái phân tâm học). Hay cũng có thể là một sự kiện sau chấn động mạnh (post traumatique – những nạn nhân chiến tranh có thể bị ác mộng trong suốt cuộc sống còn lại). Đôi khi, một vấn đề sức khỏe (đau đớn mãn tính hay một bệnh nặng) cũng sinh ra ác mộng khi ta ngủ. Chính vì vậy mà phải khám cẩn thận bệnh nhân, loại trừ hết các nguyên nhân bệnh lý có thể sau đó mới bắt đầu chú ý tới phần tâm lý, phần “hồn” của bệnh nhân.

Tóm lược, một bác sĩ tâm thần trước tiên là một bác sĩ lo cho phần “xác” của bệnh nhân. Tìm nguyên nhân sinh lý của ác mộng để chữa. Nếu không có nguyên nhân sinh lý mới đi xa hơn, tìm các nguyên nhân khác. Có thể là những nguyên nhân tâm lý.

Phương thức làm việc này cho ta thấy rằng bác sĩ tâm thần không ở đó để giải mã các ác mộng hay các giấc mơ. Họ ở đó để giúp những bệnh nhân khổ sở vì các giấc mơ hay ác mộng để họ thoát khỏi ám ảnh của các giấc mơ đó.

Như ta đã biết, trong giấc mơ, ta chỉ mơ thấy những gì ta đã trải nghiệm. Cấu trúc, thứ tự của các sự kiện có thể lộn xộn, kỷ niệm xưa pha trộn với những trải nghiệm gần, có sự kiện ta chỉ nghe nói hay chỉ đọc qua sách báo, có trải nghiệm ta đã sống thật trong đời… nhưng tuyệt nhiên não ta không có khả năng sáng chế ra sự kiện mới trong giấc ngủ. Ta không thể nằm mơ thấy những gì chưa từng xảy ra chẳng hạn. Kể cả những ác mộng.

Các nhà tâm thần học giải thích các ác mộng của trẻ con như cách mà trẻ con giải quyết những giằng co tâm lý giữa những gì mà bản năng chúng muốn làm nhưng bị giáo dục ngăn cấm. Ban ngày, ý thức không cho phép chúng thực hiện những bản năng đó vì có sự kiểm soát của xã hội, vì chúng phải vâng lệnh cha mẹ, …Trong khi ngủ, vô thức “tự do” hành động và có thể hành động một cách quyết liệt – đó là “ngữ vựng của ác mộng” – một hình thức hầu tái tạo thăng bằng giữa các nghịch lý.

Không những chỉ ứng dụng cho các trẻ em, ác mộng thường là ngôn ngữ của một khó ở, một ý muốn bị ngăn cấm trong cuộc sống. Ác mộng có vẻ đáng sợ, có thể làm ta hoảng hốt trong lúc mơ, nhưng rất là cần thiết cho sự cân bằng tâm lý.

Hiểu các ác mộng giúp người nằm mơ tự “giải phóng” mình khỏi cái lo sợ ác mộng và có thể từ đó, giúp họ ngủ tốt hơn.

Mơ thấy một người thân qua đời.

Giấc mơ này gần như là một ác mộng đối với ta. Nhà phân tâm học S. Freud giải thích rằng đó có thể là một ước muốn của ta lúc ta còn bé vì có lần ta bị mắng hay bị phạt. Ước muốn đó bị dìm sâu vào vô thức và khi có dịp, lúc ngủ, 30 năm sau chẳng hạn, nó “nổi” lên qua một giấc mơ.

Những nhà phân tâm trường phái Freud còn đi xa hơn : theo họ, ta vẫn mong cái chết của người thân, vì đó là phương thức duy nhất để xác định sự tự lập của ta, sự trưởng thành của ta, hết lệ thuộc người lớn.

Mơ thấy người thân qua đời thành bình thường.

Mơ thấy rụng răng và rụng tóc

Đại đa số dân tình xem đó là hai điềm gở. Thật ra trong các giải thích của phân tâm học đó chỉ là dấu hiệu cho biết rằng người nằm mơ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống và mệt mõi, không muốn tranh đấu nữa. Răng và tóc rụng đi là một cách để tự nói là “từ đây ta không còn phải lo săn sóc chúng”.

Hầu hết những giấc mơ khỏa thân hay có màu sắc tình dục có nghĩa là, cũng theo phân tâm học, người nằm mơ có nhiều nhu cầu không được thỏa mãn, mà trái lại, bị dồn ép đến tận tiềm thức. Chúng chỉ ùa ra lúc mơ, tức là lúc mọi rào cản của giáo dục hay của xã hội biến mất khi ta ngủ. Nhưng Freud cũng thêm vào là một số các giấc mơ có màu sắc tình dục không có ý nghĩa tình dục. Có thể hình thức sexe của giấc mơ chỉ muốn nói lên một sự cấm kỵ chung chung.

Những giấc mơ liên tục lập lại trong nhiều đêm? Tình trạng này không lạ, khi khó khăn của cuộc sống chưa được giải quyết, chúng tiếp tục ám ảnh ta khi ta ngủ.

Đồng thời, trong một chừng mực ít hơn, những sảng khoái trong đời cũng có thể trở về trong đêm, dưới hình thức những giấc mơ nhẹ nhàng và tươi đẹp, mỗi đêm.

Điều mà ta phải nhớ là ý nghĩa của các giấc mơ thay đổi tùy người và nơi mỗi người, tùy thời điểm. Không có một tự điển để giải mã các giấc mơ mà ta có thể áp dụng cho tất cả mọi trường hợp. Vã lại, mỗi chi tiết trong một giấc mơ có thể độc lập với nhau và nhà phân tâm học có thể giúp ta phân tích từng chi tiết riêng lẻ hay phối hợp các chi tiết với nhau thành một tổng hợp có ý nghĩa – ý nghĩa riêng cho mỗi cá nhân -. Giấc mơ có thể cho ta biết dấu hiệu của những khó khăn ta đã gặp phải trong đời, chuẩn bị ta đương đầu với chúng và giúp ta hướng đi mới.

Nội dung cụ thể và nội dung tiềm ẩn của giấc mơ

Khi kể các giấc mơ, người trần mắt thịt chỉ kể các nội dung cụ thể, với những gì họ nhớ về giấc mơ của họ, với những gì họ “hiểu” vì kể lại tức là kể lại theo cấu trúc ta xây dựng lại chứ không còn là cấu trúc của giấc mơ. Khi ta mơ, phần nhiều ta mơ thấy những hình ảnh. Còn khi ta kể lại, ta dùng ngôn ngữ. Từ hình ảnh chuyển sang ngôn ngữ ta đã phải làm công tác “dịch thuật”, tức là cho vào đấy phần không “chính thống”, phần không trung thành đối với nội dung thật sự của giấc mơ.

Ta chỉ kể lại nội dung cụ thể của giấc mơ mà ta còn nhớ được. Trong lúc đó, nội dung tiềm ẩn nhiều khi ta không nắm được – mà nội dung này mới là nội dung thật, có ý nghĩa của giấc mơ.

Cái mà nhà phân tâm học có thể giúp ta, ở đây, là gợi những câu hỏi để ta đi tìm nội dung tiềm ẩn của giấc mơ vì có thể một chi tiết nhỏ, không quan trọng, lúc kể ta cũng không để ý. nhưng liên kết lại với nhau, những chi tiết nhỏ có thể mang một ý nghĩa lớn và từ đó giúp ta giải thích giấc mơ.

Phân loại các giấc mơ

Freud phân ba loại giấc mơ:

– giấc mơ ngắn, hợp lý, dễ hiểu. Thông thường ta không chú ý đến những giấc mơ này.

– giấc mơ gồm những chuyện bình thường nhưng khó hiểu. Ở đây, ta bắt đầu đặt câu hỏi.

– giấc mơ thấy những chuyện lạ và không hiểu được – đa phần các giấc mơ thuộc thể loại này và ta muốn tìm hiểu, giải mã chúng.

Đi tìm ý nghĩa của các giấc mơ có ích hay không?

Các nhà phân tâm học đều cho rằng đại đa số những người đi tìm ý nghĩa của các giấc mơ sống hài hòa hơn, nâng cao sức “đối kháng” với những khó khăn trên đường đời. Thế nhưng lập luận này không được tất cả các bác sĩ tâm thần đồng tình. Một số người sau khi phân tích ý nghĩa của các giấc mơ, sau khi đã “nói ra” được những lo ngại của họ thì nhẹ gánh hơn. Nhưng cũng có một số người khác thì các giấc mơ ám ảnh họ hơn…

Hiện chưa có một nghiên cứu vĩ mô có kiểm chứng để xác nhận hay phủ nhận lợi ích của việc đi tìm ý nghĩa của các giấc mơ.

Chuyện “điềm báo mộng” hay giấc mơ thành sự thực?

Đó là chuyện một bà mẹ nằm mơ thấy cậu con trai trèo cây té trong khi đi nghỉ hè ở cách xa nhà hàng ngàn cây số. Bà mẹ ấy cũng như bất cứ ai sẽ tin rằng “rõ ràng là có điềm báo mộng”.

Thật ra, bất cứ nhà tâm lý học nào cũng sẽ nói đúng ra giấc mơ không thành sự thật mà chính ta, trong cuộc sống, lúc thức, đã nhận thấy một số dấu hiệu của những việc có thể xãy đến trong tương lai, Những dấu hiệu đó làm ta lo sợ đến nỗi chúng ám ảnh ta và ta mơ đến chúng trong khi ngủ. Trở về chuyện của bà mẹ có con trèo cây té nặng nói trên, trước biến cố, bà đã mơ thấy việc đó : đứa con của bà đã có những dấu hiệu bướng bĩnh, hiếu động, không biết lường hiểm nguy… từ lâu khiến bà lo lắng…

Nội dung của các giấc mơ là những gì ta đã sống ban ngày. Mơ không có tính sáng tạo thì làm sao thành điềm báo mộng được?

Giấc mơ là để bảo vệ cá thể tâm lý của ta

Đó là giả thuyết của gs Jouvet (Đại học Lyon, Pháp).

Theo ông, giấc mơ bảo vệ, tái lập cá thể và giúp ta hiện hữu độc lập với ảnh hưỡng của môi trường. Trong đường hướng này, giấc mơ thuộc cái gia tài “bẩm sinh” mà ta mang trong ta khi chào đời.

Gia tài bẩm sinh đó giống như cái vốn di truyền mà ta thừa hưỡng của cha mẹ.

Ông cho thí dụ của hai anh em sinh đôi, cách ly từ lúc chào đời và được nuôi dưỡng sinh sống trong hai khung cảnh xã hội hoàn toàn khác nhau. Thế nhưng hai anh em vẫn giữ nhiều điểm tương đồng:

Hai anh em đều có vợ tên Linda và li dị với cô vợ này. Sau đó họ tái hôn với một phụ nữ khác – hai bà đều tên Betty. Họ có một con chó được họ đặt tên là Toy. Mỗi người trong hai anh em này có một con trai. Họ cùng đặt tên cho con trai của họ là James Alan mặc dù ngàn trùng phân cách hai anh em sinh đôi này –

Nhưng đó chỉ là một thí dụ. Có thể những trùng hợp là ngẩu nhiên.

Giả thuyết sinh học của Jouvet xác đáng hơn : số tế bào thần kinh của ta không thể tăng thêm có bị đào thải vì già đi chứ không nẩy nở thêm. Nhưng cấu trúc giữa các tế bào hiện hữu có thể thay đổi. Có thể trong lúc ngủ mơ, ta lợi dụng sự yên tỉnh và sự bất động của cơ thể để tổ chức nhịp nhàng hơn hệ thần kinh hầu tái tạo bản thể và bảo vệ phần riêng biệt của cái tôi, trên bình diện trí tuệ và tâm lý, khác với tha nhân .

Kết luận này của Jouvet được nhiều người đồng tình.

Giấc mơ, dù đẹp hay là ác mộng, có nội dung cụ thể hay tiềm ẩn…, giấc mơ nào cũng vô cùng quí báu. Nhờ nó mà ta sống thoải mái, hài hòa. Ban đêm trong lúc ngủ mơ, ta kiểm điểm lại các sự kiện của cuộc sống, tổ chức lại trí nhớ, loại bỏ những chi tiết vớ vẩn, ta thiết lập các thứ tự ưu tiên… để chỉ giữ lại những gì cần thiết.

Vai trò đó các chuyên gia về giấc ngủ đã minh chứng từ gần 30 năm nay. Giấc mơ giúp ta loại bỏ những gì bị nén ép và làm cho ta có thể sống một ngày mới, nhẹ nhõm hơn.

Nguyễn Huỳnh Mai

Sách tham khảo:

Freud S., L’interprétation du rêve, dans Oeuvres complètes. NXB Presses universitaires de France, 2003.

Jouvet M., Le grenier des rêves. NXB Odile Jacob, 1997.

Jouvet M., Où, comment et quand : Pourquoi rêvons-nous, pourquoi dormons-nous ? NXB Odile Jacob, 2000.

Parot Fr., L’homme qui rêve. NXB Presses universitaires de France, 1995.

 

Advertisements

From → Khoa học

Đã đóng bình luận.