Skip to content

Vài nét về Xã hội học của Durkheim

Tháng Tư 20, 2013

.

«Ôn cố tri tân». Xã hội Việt Nam hiện có nhiều bạo lực, nhiều hệ thống giá trị cạnh tranh nhau. Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội. Một số người bắt đầu thấy bất lực trước tình thế. Có thể đã đến lúc cần nghiên cứu một cách hoàn chỉnh tình hình hầu tìm hướng đi.

Emile Durkheim (1858-1917), cha đẻ của ngành xã hội học ở Pháp, suốt đời ông đã chứng minh rằng các sự kiện xã hội liên hệ với nhau với một cấu trúc có hệ thống. Nghiên cứu chúng, các sự kiện xã hội, giúp ta hiểu được những bộ mặt bí ẩn của đời sống. Ông sáng lập một ngành mới, xã hội học, mà một trong những mục tiêu đeo đuổi là cải tiến và sửa đổi đời sống xã hội.

Trong dấu ngoặc, đó là thời mà khoa học và chính trị chưa tách rời nhau. Hiện xã hội học gia chỉ giới hạn trong khảo cứu và tìm tòi. Cải tiến, sửa đổi xã hội là công việc của người quản lý, của chính trị chứ không của khoa học dù là cần có hiểu biết một cách toàn diện để có thể quản lý tốt .

Những sách ... gối đầu giường của bất cứ nhà xã hội học nào

Những sách … gối đầu giường của bất cứ nhà xã hội học nào

Phương pháp xã hội học

Với Les Règles de la méthode sociologiqueLuật của phương pháp xã hội học (1895) Durkheim tuyên bố «phải nghiên cứu những sự kiện xã hội như một vật thể». Đây là ý tưỡng nền tảng của khoa xã hội học như một KHOA HỌC.

Thật vậy, theo Durkheim, những sự kiện xã hội gần gũi ta, ta sống trong đó, nhưng xã hội học gia khi nghiên cứu những sự kiện xã hội phải làm như một nhà vật lý học nghiên cứu một hiện tượng nào đó trên trời dưới biển. Tức là phương pháp xã hội học cũng phải nghiêm chỉnh, khách quan. Giữa nhà nghiên cứu và sự kiện nghiên cứu phải có khoảng cách. Nhà xã hội học không được quyền nhìn sự kiện với con mắt của mình hay với kinh nghiệm sống chủ quan của mình mà phải nhìn sự kiện như một các gì hoàn toàn mới để quan sát, đong đếm, so sánh, mổ xẻ, … như với bất cứ một đối tượng nghiên cứu nào. Bằng phương pháp và có phương pháp, ta đi vào thế giới của khoa xã hội học – và đó là cái khai quang mà Durkheim đã mang lại.

Cách đây hơn một trăm năm, Durkheim đã bảo rằng phải điều tra và giải thích các sự kiện xã hội bằng những sự kiện xã hội khác chứ không được phỏng đoán – hay võ đoán từ kinh nghiêm và quan niệm cá nhân – Ông đã dùng thống kê, hay ít nhất là những con số, những kết quả của so sánh, … để đo đếm, giải thích và kết luận về các sự kiện xã hội.

Durkheim đã không ngần ngại chọn một đề tài cấm kỵ : Sự tự tửcấm kỵ vì trong một xã hội mà công giáo là tín ngưỡng của đại đa số dân, các tín đồ tin rằng quyền quyết định sự sống hay cái chết là quyền tối thượng của trời, cá nhân không được tự mình tìm đến cái chết.

Năm 1897, Durkheim cho xuất bản quyển sách này và ông đã minh chứng rằng sự tự tử không thuần là một hành động cá nhân, xã hội ảnh hưỡng rất lớn trên hành vi cá nhân đó. Tự tử tùy thuộc sự hòa mình của cá nhân trong xã hội, tùy độ liên kết của toàn xã hội, tùy sức mạnh của tôn giáo, tùy mùa nữa…

Ảnh hưởng xã hội trên sự tự tử theo Durkheim

Theo Durkheim, trong những xã hội mà sự tương trợ dựa trên cấu trúc tổ chức, các thành viên «tự do» hơn nhưng cũng ích kỹ hơn. Ít kiểm soát xã hội hơn, cấu trúc xã hội thành lõng lẽo hơn để cuối cùng có thể đi đến tình trạng thiếu kiểm soát xã hội, mất cấu trúc – đó là khái niệm «anomie» hay «thiếu cấu trúc»

Thiếu cấu trúc khi những luật lệ xã hội không còn ràng buộc các thành viên một cách có hiệu quả, khi chính các thành viên này mất điểm tựa, mất khuôn mẫu để sống trên đời. Cụ thể hơn, khi tình thế xã hội thành anomique : các thành viên trong xã hội có thể sẽ sống một cách tiêu cực, tự tử là một trong những phương thức tiêu cực ấy.

Thất nghiệp, đối với một cá nhân, là mất cấu trúc về thời gian (cá nhân không còn sáng vác ô đi, tối vác về), mất cấu trúc về lợi tức (hết được hưỡng lương bỗng), mất cấu trúc xã hội (không còn những liên hệ với đồng nghiệp, …). Trong đường hướng này, khủng hoảng kinh tế có thể làm cho tỉ lệ tự tử tăng thêm.

Mất cấu trúc gia đình – một li dị hay số phận mồ côi – cũng là một tình huống anomique – thiếu cấu trúc. Ở đây là thiếu cấu trúc gia đình, cũng có thể là một lý do của tự tử.

Mặt khác, nói như Jean-Jacques Rousseau (trong Khế ước xã hội), mỗi thành viên là một mấu xích trong dây chuyền xã hội, mất một mấu xích, dây chuyền sẽ bị gảy.

Khi một thành viên trong xã hội đi tìm đến cái chết thì gia đình của người ấy bị lung lay, con cái thành mồ côi, vợ hay chồng thành góa bụa, xí nghiệp nơi người ấy làm việc trước đó phải lo tìm người thay thế, …Cả một xã hội thành … mắc bệnh.

Với những lý giải đó, Durkheim cho thấy là hiện tượng tự tử không còn là một hiện tượng cá nhân mà là một hiện tượng xã hội.

Ông đã từ đó phân loại các tự tử tùy theo độ liên kết của cá nhân với các thành viên khác trong xã hội.

Xã hội học và luân lý : vấn đề tương trợ / liên kết xã hội ?

Một đặc điểm thứ nhì, trong các công trình của Durkheim, rất có ích cho ta hiện thời vì ít hay nhiều xã hội ta đang ở vào lúc giao thời giữa xã hội thuần nông cổ truyền và xã hội đô thị hóa ồ ạt.

Điểm này, Durkheim theo ảnh hưởng của Auguste Comte : Durkheim định nghĩa xã hội học như một khoa học đạo đức « science morale », nghĩa là một khoa học về các văn hóa khác nhau tùy xã hội. Mà văn hóa, theo ý của Durkheim, là tùy thuộc vào độ gần nhau, liên kết với nhau giữa các thành viên trong xã hội và cường độ của các liên kết đó.

Áp dụng khía cạnh này vào xã hội Việt nam hiện thời ta thấy rõ ràng là ta đang biến chuyển mạnh. Dân từ nông thôn ra thành thị, từ «bán mặt cho nắng bán lưng cho trời» thành công nhân trong những dây chuyên sản xuất.

Một thế kỷ trước, ở trời Tây, Durkheim bảo là xã hội đi từ một «tương trợ máy móc » kiểu bên ta nói «thấy người hoạn nạn thì thương» hay «thương người như thể thương thân», phải giúp người khác như một bổn phận bắt buộc, sang một « tương trợ của tổ chức » (mà bảo hiểm xã hội là thí dụ điển hình).

Durkheim nói rõ hơn. Trong hình thức đầu, ở những xã hội mà ta gọi là truyền thống, sự liên kết trong xã hội rất lớn, chủ thể hay cá nhân có rất ít khả năng tự do hành động. Quyền lợi của nhóm được ưu tiên trên quyền lợi cá nhân. Trái lại, trong xã hội tân tiến, sự phân công ngành nghề rõ ràng hơn, trong mỗi ngành nghề lại có cả những tôn ti trật tự khác nhau. Tổ chức kinh tế lan thấm sang tổ chức gia đình, học đường, khu phố. Nhiều khác biệt xã hội ra đời và sự liên kết xã hội không còn chặt chẻ như trước.

Dựa trên khoa học để cải tổ xã hội ?

Một cách tích cực, Durkheim không giới hạn những nghiên cứu của mình trên bình diện khoa học. Ông nhắm tới việc giúp cho xã hội … điều hòa hơn, các thành viên tương trợ với nhau hơn khi tìm ra các nguyên nhân đưa đến những «căn bệnh» có thể làm lung lay xã hội.

Trong đường hướng đó, Durkheim phân tích hiện tượng chuyển tiếp từ xã hội tương trợ máy móc – xã hội truyền thống nông nghiệp, ai cũng như ai, vừa sản xuất vừa tiêu thụ tại chỗ – qua xã hội tương trợ tổ chức mà công nghiệp hóa dẫn đến cùng với đô thị hóa và sự phân công rõ ràng hơn nhưng đồng thời mất đi những liên hệ xóm làng mật thiết. Đối với ông, sự mất cấu trúc, khái niệm mà ông đã cho ra đời, là một hiểm nguy cho xã hội tân tiến. Vì vậy phải làm sao gìn giữ cấu trúc xã hội.

Nắm vững các dữ kiện đó có thể giúp xã hội tự tìm ra những phương thức điều hòa tốt hơn.

Sau này những người kế nghiệp Durkheim đã đi từ khái niệm déliance – mất liên hệ đến khái niệm reliance – tái tạo liên hệ.

Nguyễn Huỳnh Mai

Tài liệu tham khảo :    Ledent D., Emile Durkheim. Vie, Oeuvres, Concepts. NXB Ellipses, 2011.

Addendum :

Về vấn đề tự tử của những người trẻ, xin xem thêm :

https://huynhmai.org/2013/04/18/gia-thuyet-cho-van-de-tu-tu-o-gioi-tre/

 Và về anomie :

https://huynhmai.org/2013/11/05/durkheim-lien-he-xa-hoi-va-thieu-cau-truc/

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.