Skip to content

Sự thương cảm ? Tế bào thần kinh gương

Tháng Sáu 16, 2013

Nhân ái, chất keo xã hội, «thương người như thể thương thân», …các nhà thần kinh học còn cho ta thêm một giải thích khác : tế bào thần kinh gương (neurones miroirs).

Xin mời đọc một bài viết cũ (2011), được minh họa bằng một cái ảnh dễ thương :

http://dantri.com.vn/khoa-hoc/te-bao-than-kinh-guong-hay-te-bao-than-kinh-phan-chieu-634346.htm

Hiện liên kết trên có khi không dùng được, xin chép bài lại đây :

Tế bào thần kinh gương hay tế bào thần kinh phản chiếu

.

hình ảnh phản chiếu

Qua bức ảnh này, giữa nhà khảo cứu và em bé có một sự phản chiếu như hình ảnh mà một cái gương cho thấy : em bé có ánh mắt, cử động của các ngón tay và hé miệng giống như người đối diện (ảnh : M. Poirrier).

Ứng dụng của khám phá về tế bào gương hay tế bào phản chiếu giúp ta hiểu tại sao khi nhìn thấy một người khổ sở, đau đớn, ta cảm thấy thương cảm và tìm cách giúp người ấy.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu phương thức học nói của các em bé để hiểu làm sao chúng có thể “học” một cách dễ dàng tiếng mẹ hay ngôn ngữ của cha (trong trường hợp bé song ngữ). Câu trả lời rất là đơn giả dị : bé hoàn thành công việc đó một cách rất “tự nhiên” nhờ tế bào gương (hay tế bào phản chiếu). Khi mẹ hay cha cháu nói chuyện, những tế bào não của cha hay mẹ sẽ được “chép” bởi não của em bé, ngay lập tức và cấu thành, cũng ngay lúc đó, những liên hoàn (synapses) cần thiết để em bé ghi nhận chuyện cha mẹ nói và từ từ xây cấu trúc ngôn ngữ của chính mình (dĩ nhiên, để có thể nói được, để có thể phát biểu thành “lời”, bé còn cần những tế bào não chuyên về ngôn ngữ và những cấu trúc nghe và phát âm phía tai và họng. Phận sự của các tế bào phản chiếu chỉ giới hạn trong trách nhiệm hiểu và “bắt chước” cha mẹ).

Trong suốt thời niên thiếu, bé tiếp tục “sao chép”, cũng nhờ các tế bào gương, những sinh hoạt tình cảm và trí tuệ của cha mẹ. Tất cả thành một hệ thống tâm lý sâu đậm, vô thức, mà bé tạo được do cha mẹ truyền cho.

Ta vẫn nói “cha nào con nấy”. Các nhà xã hội học thì dùng từ “xã hội hóa đầu tiên” (socialisation primaire). Đó là lần thứ nhất của trẻ sơ sinh tập tành sống với người khác. Xã hội hóa đầu tiên quan trọng nhất vì nó tạo nền tảng cho nhân sinh quan và vũ trụ quan của cá nhân em bé sau này để giải thích việc con giống cha. Nhưng làm sao có những kết quả đó ? Sự xã hội hóa, sự kiểm soát xã hội, các phương thức tâm lý theo mẫu, … là những giải thích cổ điển

Khám phá của tế bào gương hay tế bào phản chiếu đã cho thêm một câu trả lời.

Tế bào thần kinh gương / phản chiếu ?

Năm 1992, một cách tình cờ, khoa học gia Giacomo Rizzolatti, Đại học Parme, ở Ý, thấy các tế bào ở khu F5 trong phần vỏ não nơi con khỉ rất là đặc biệt : các tế bào này kích hoạt, đi vào hành động (theo hình ảnh của scanner à résonnance magnétique nucléaire – máy quét chiếu cộng hưởng từ hạt nhân -, hình ảnh các tế bào não này đỏ rực lên, chứng tỏ là chúng hoạt động) không những khi con khỉ thực hiện một công việc cố ý – thí dụ như mở một cánh cửa – Nhưng những tế bào này cũng hoạt động khi con khỉ này nhìn thấy một bạn của nó làm cử động tương tự (trong thí dụ này là mở một cánh cửa). Tức là có một sự “tương đồng” giửa não của con khỉ hành động và não của con khỉ quan sát. Ông Rizzolatti công bố kết quả này năm 1996 trên tạp chí khoa học Cognition Brain Research.

Sau đó, vài nhà khoa học khác đã nghiên cứu cách áp dụng khám phá này trong não bộ của con người. Họ đi tìm hiểu hoạt động của não trong liên hệ xã hội.

Kỷ thuật scanner à résonnance magnétique nucléaire – máy quét chiếu cộng hưởng từ hạt nhân – cồng kềnh và tốn kém nên khó thực hiện. Thông thường ta chỉ thực hiện, mỗi lần, cho một người.

Khi quan sát não bộ của hai người đang giao tiếp với nhau bằng phương tiện của máy này, ta sẽ thấy hai bộ não, của hai người đang liên hệ với nhau, có những sinh hoạt cùng một lúc (hình ảnh các tế bào này đỏ rực lên), ở vùng Broca, các vùng não ở thùy đĩnh và thùy thái dương. Điều này chứng tỏ rằng mỗi một cá nhân trong liên hệ xã hội chẳng những suy nghĩ và hành động như một chủ thể mà đồng thời còn :

. hiểu ngôn ngữ (bằng lời và ngôn ngữ ngầm)

. hiểu những hành động và những phản ứng hay khả năng hành động

. cảm nhận được trạng thái tinh thần

. …

của người đối diện để từ đó có thể hiểu họ, thích ứng với họ rồi sáng chế ra cách xữ lý tiếp theo. Những tế bào thần kinh này tạo ra “não của sự đồng cảm và của lòng thương người”, giúp ta có khả năng đặt mình vào vị trí của người đối diện. Một cách ví von hơn, nó giúp ta …mang tha nhân vào bản thể, thông cảm người khác và sống hài hòa với họ.

Một số người gọi tế bào gương là tế bào của sự thương cảm (empathie).

“Gương”, “bắt chước”, “phản chiếu” chỉ là những cách nói ngắn gọn. Các tế bào thần kinh này, của hai người liên hệ với nhau, trong nghiên cứu kể trên, rõ ràng sinh hoạt y như nhau, cùng “tầng sóng” với nhau.

.

Một số tác giả đặt câu hỏi Tại sao một khám phá to lớn như thế lại có rất ít tiếng vang và rất ít ứng dụng ?

Khám phá quan trọng. Vấn đề này vừa có liên quan đến Y khoa (một số nghiên cứu gia từ đó tìm giải thích cho bệnh tự kỷ và bệnh tâm thần phân liệt). Vừa rất có ích cho các ngành Tâm lý và Xã hội học, đánh dấu một thành quả mới cho sự hiểu biết về cách cư xữ hành động của con người trong xã hội.

Thế nhưng khám phá này không hay chưa cho ra một ứng dụng kỷ thuật nào mới.

Hiện thời, một số tâm lý và xã hội học gia (điển hình nhất là Simon De Keukelaere), vài triết gia nữa, đang suy nghĩ về những hành động của con người sống trong xã hội, những xung đột, hòa đồng, liên hệ giửa “tôi” và “người khác”. Tế bào gương hay tế bào phản chiếu đóng một vai trò lớn trong các sự kiện đó.

Nguyễn Huỳnh Mai – Liège, Bỉ

Tài liệu tham khảo:

CONSTANT E., Empathie, neurones miroirs et schizophrénie. Des explorations neurobiologiques aux implications thérapeutiques». NXB Đại học U.C.L. Ḅỉ, 2008.

DUGUE B., Neurones miroirs, une découverte monumentale mais ignorée. Trang internet

http://www.agoravox.fr/actualites/technologie/article/neurones-miroirs-i-une decouverte-48805

GALLESE V. và đồng tác giả, Miror Neuron Forum. Tạp chí khoa học Perspectives on Psychological Science. 07.2011, 6:369-407.

RIZZOLATTI G. và SINIGAGLIA C., Les neurones miroirs, bản tiếng Pháp, NXB Odile Jacob, 2007.

Ghi thêm :

Khi cảm xúc bị truyền thông thống trị ?

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/124807/-chiec-xo-cam-xuc–cua-nguoi-viet-dang-dan-can-.html

Về khái niệm và chỉ số thông minh cảm xúc,  xin mời  đọc ở đây (06.2011) :
http://dantri.com.vn/c202/s202-488553/tim-hieu-ve-thong-minh-cam-xuc.htm

http://dantri.com.vn/c202/s202-488583/chi-so-thong-minh-cam-xuc-eqemotional-quotient.htm

Advertisements

Đã đóng bình luận.