Skip to content

Đám cưới dưới góc nhìn xã hội học

Tháng Tám 12, 2013
hoa cưới

hoa cưới (photo: M. Poirrier)

Mùa cưới, qua các báo trên mạng, qua tiếp cận với những người quen bên nhà, … tôi hình dung được những … nhộn nhịp của một số thanh niên và thanh nữ trước ngày trọng đại.  Thế nên tôi muốn chia sẻ những gì tôi biết về các nghiên cứu của Kaufmann,  de Singly, Bawin, …

Bài này ra đời và Dân Trí đã cho lên trang :

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/dam-cuoi-duoi-goc-nhin-xa-hoi-hoc-766102.htm

Đối với nhiều thiếu nữ, ngày cưới là ngày đẹp nhất đời, ngày trọng đại nhất… nên phải tổ chức sao cho trang trọng, lịch sự để đánh dấu, để giữ lại những kỷ niệm.

Báo Phụ nữ Việt Nam trên mạng để nguyên cả số đặc biệt tuần này dành cho chủ đề đám cưới. Nhiều khía cạnh được đề cập tới, từ hoa cưới đến tuần trăng mật…

Và không quên khía cạnh tài chính:

Một đám cưới trung bình ở thành thị, theo bài này, tốn khoảng 200 triệu vì phải làm ảnh cưới, phải lo nhẫn, lo hoa, lo tiệc… làm bất cứ người đọc nào cũng tự hỏi: sao mà nhiều thế?

Rõ ràng đám cưới là một tổ chức, một sự kiện xã hội với những phong tục phải giữ và những nghi thức không tránh được.

Trong lịch sử gần,ở Việt Nam, ta đã chứng kiến những đám cưới thời chiến tranh, cưới vội rồi người chồng trẻ nhập ngũ. Hay đám cưới hồi thời bao cấp, vài đĩa bánh kẹo, thuốc lá và một ấm trà.

Nhưng nhiều năm gần đây, là những đám cưới rình rang, mời mấy trăm người, cổ tiệc tiền trăm triệu, xe đón dâu hàng dãy… cô dâu thì phải thuê áo cưới, áo đầm, hai vợ chồng tốn tiền triệu nữa để chụp ảnh cưới.

Có lẽ phải đặt câu hỏi về những ý nghĩa của các hình thức rình rang đó.

Đám cưới ở trời Tây?

Bên Pháp, một xã hội học gia, ông Jean-Claude Kaufmann đã “giải mã” hiện tượng đám cưới của dân tình và những biến đổi từ nửa thế kỷ nay. Ngày xưa, một đám cưới truyền thống, cô dâu trong áo trắng trinh nguyên, ở nhà thờ, tiệc ở nhà… cho đến bây giờ, đám cưới được xã hội hóa và “thương mại hóa”, phải có cả chuyên viên tổ chức như một sự kiện – wedding planner -, có theo thời dụng biểu nghiêm ngặt, có các cô phù dâu, có tiệc cổ bàn, có ban nhạc cho nhảy nhót sau đó.

Tại sao dân tình làm như thế. Đó là câu hỏi mà ông Kaufmann đặt ra, khởi thủy, trước khi bắt đầu nghiên cứu.

Về phương pháp, đó là một nghiên cứu định tính. Ông đã đi phỏng vấn 50 cặp đôi đã cưới nhau vào khoảng từ 1940 đến năm 2000, yêu cầu họ kể về đám cưới của họ và xin họ cho xem ảnh cưới. Như thế, dùng phương pháp phân tích những dữ kiện thu thập được qua phỏng vấn đồng thời phân tích những hình ảnh bổ túc thêm.

Từ đó ông Kaufmann đã phân biệt được, qua thời gian, những đám cưới nhỏ, khoảng những năm 1940, hai bên nam nữ đã tự do kết hôn nhưng trong chiến tranh, với những giao động xã hội, không thể nào giữ những tập quán cũ. Nhưng dù thiếu thốn, giản dị, đám cưới thời đó vẫn có cái lãng mạng của tuổi trẻ và của tình yêu.

Những năm 1950-1960 là thời của những đám cưới “đẹp”, với áo cưới trắng tinh khôi, với hôn lễ ở nhà thờ dù gia đình không còn là tín đồ ngoan đạo, với tiệc tùng sau đó.

Sau 1960 và trong những năm 1970 là thời điểm của những câu hỏi về giá trị truyền thống và quan điểm cá nhân. Có một số người trẻ không cần những nghi thức rườm rà, dẫn nhau ra Tòa thị sảnh ký tên vào sổ giá thú và bắt đầu cuộc sống lứa đôi. Một hình thức biểu lộ sự chống đối của giới trẻ trước những can thiệp của xã hội trong việc cưới hỏi.

Cuối thế kỷ XX, áp lực của xã hội giảm. Việc cưới hỏi trở thành việc của riêng cá nhân đôi vợ chồng. Họ tổ chức đám cưới theo quan niệm riêng của họ. (Đồng thời ta cũng không nên quên là tỉ lệ li dị cao – 50% các cặp đôi – sự tự do cá nhân trong hình thức của đám cưới ít nhiều bị ảnh hưởng của quan niệm về hôn nhân).

Đám cưới hiện tại vẫn là một đám cưới lớn, một ngày trọng đại và các đôi vợ chồng tìm đủ mọi cách để thể hiện mình, tránh những hình thức «lối mòn» mà ai cũng làm. Một đám cưới “hay” là một đám cưới đánh dấu một chuyện tình đẹp. Hiện thời đại đa số làm đám cưới sau một hay nhiều năm sống chung.

(Kaufmann J.-Cl., Mariage. Petites histoires du grand jour. De 1940 à nos jours. NXB Textuel, 2012).

Đám cưới bên ta: một hình thức đầy áp lực xã hội?

Chuyện của hai họ, một khế ước giữa hai gia đình lớn. Bằng cớ là nhiều cha mẹ trông cậy ở ngày cưới của con như một dịp để… nở mặt nở mày với xóm làng. Hai trẻ, cô dâu chú rể, đã được giáo dục như thế nên bị “lợi dụng”, phải thực hiện “chức năng” mang vinh dự về cho cha mẹ đôi bên mà hoàn toàn không ý thức được.

Nhiều đám cưới cũng là dịp để duy trì hay mở rộng liên hệ xã hội, để “trả lễ” cho một số người, để phục vụ vai trò truyền thông hay nói nôm na để PR cho cá nhân hay xí nghiệp của cha mẹ. Nhiều khi, đó cũng là dịp để lợi dụng khai thác những liên hệ xã hội và nhận quà cưới.

Cuối cùng, phong tục xã hội cộng thêm vào những quảng cáo của các nhà chuyên môn “ăn theo” hay sống nhờ các đám cưới (tiệc, ảnh, áo cưới…) làm cho các thanh niên thanh nữ bị “ảnh hưởng” và bắt chước, làm theo “phong trào”: áp lực của thị trường, áp lực của quảng cáo và cả áp lực của truyền thông (qua những thông tin về các đám cưới của người nổi tiếng)… rất lớn.

Đám cưới và cuộc sống vợ chồng?

Nhưng cuộc sống vợ chồng là cả một đời người chứ không chỉ một ngày cưới. Điều đó có vẻ hiển nhiên mà ông La Palice không nói khác hơn (thành ngữ “La vérité de la Palice”). Nhưng khi nói đến đời sống vợ chồng ta phải nghĩ đến câu “Cưới nhau, sướng khổ ngọt bùi có nhau” – on se marie pour le meilleur et pour le pire – Chuyện vợ chồng là chuyện trăm năm, dù là ở bên Tây hay bên ta!

Sống chung, thương yêu nhau và hạnh phúc với nhau. Đó là lý thuyết của hôn nhân, nhưng chuyện “một mái nhà tranh với hai quả tim vàng” là chuyện đời xưa. Bây giờ chắc không còn ai… bằng lòng uống nước lã để yêu nhau (vivre d’amour et d’eau fraiche).

Sống chung với nhau trên thực tế là một chuổi thương lượng, nhường nhịn, liên hệ tương trợ nhau, tôn trọng nhau, đồng thời được tôn trọng… trong mỗi ngày.

Tình yêu là chất xúc tác, là động lực giúp vượt qua khó khăn. Nhưng một cuộc sống vợ chồng là một cuộc sống đầy ngọt bùi và gian khổ.

Lấy nhau xong, sinh con đẻ cái, nuôi dạy con cho chúng thành người rồi từ từ chúng tự lập, còn hai vợ chồng với nhau, tuổi tác về chiều, chắc chắn là lại cần nhau khi tối lủa tắt đèn, khi sức khỏe không còn như xưa.

Tình yêu, trách nhiệm, nghĩa vợ chồng… tất cả những khái niệm đó, cặp đôi nào cũng sẽ và phải trải nghiệm qua. Đó là chưa nói đến những cấu trúc đại gia đình với chuyện làm dâu, lo chăm sóc cha mẹ lớn tuổi.

Thế nên đám cưới đẹp là một chuyện. Viết nên một mối tình đẹp là chuyện của những yêu thương trong nhiều năm chứ không chỉ trong ngày cưới.

Trong chừng mực nào đó, đám cưới to và sang không cần thiết cho một cuộc tình đẹp.

Nguyễn Huỳnh Mai

Sách tham khảo:

Bozon M., Sociologie du rituel du mariage. in Population, 1992, vol. 47, n° 2, tr. 409-433.

de Singly Fr., Sociologie de la famille contemporaine. NXB Armand Colin, 2004.

Kaufmann J.-Cl., Mariage. Petites histoires du grand jour. De 1940 à nos jours. NXB Textuel, 2012.

Advertisements

Đã đóng bình luận.