Skip to content

Tuổi già ?

Tháng Mười Hai 16, 2013

Bài này đã đăng trên Văn hóa Nghệ An, số 257, phát hành ngày 25.11.2013

.

Simone de Beauvoir, lúc chỉ hơn ngũ tuần, đã viết cả 800 trang về tuổi già (La vieillesse). Bà đã tố cáo xã hội không biết đối xữ với người cao tuổi, chỉ xem họ như những người thừa thải, vô ích, ăn bám,…Tệ hơn nữa, không nói tới họ, thể như họ không hiện hữu. Từ đó bà bắt đầu phân tích về người già dưới đủ mọi khía cạnh : từ sinh lý, xã hội tới lịch sử và văn hóa, …để bứt bỏ cái vòng im lặng khó hiểu đối với người cao tuổi.

Dưới một khía cạnh khác, các nhà xã hội học đều biết rằng người già, ít nhất là ở phương Tây, thường phải đối mặt với cô đơn vì góa bụa, vì con cái đều đã ra riêng, …Tỉ lệ người già tự tử cao hơn tỉ lệ tự tử ở các nhóm tuổi khác.

Nhưng 17,5% dân số thuộc lớp tuổi trên 65 ở châu Âu (Eurostat, 2012). Trong tương lai tỉ lệ này còn cao hơn. Giới quản lý phải tìm giải pháp lo cho cuộc sống của tầng lớp người cao tuổi này.

Từ lúc nào ta già ?

Xuân hạ thu đông, như bốn mùa trong năm, đời người cũng có thể chia ra làm bốn độ tuổi. Thời niên thiếu, giai đoạn trưởng thành, lúc đứng tuổi và lúc già. Nhưng các mốc tuổi co giản tùy thời, tùy bối cảnh, tùy theo xã hội.

Bên ta, một người qua độ tuổi 60 thì được gọi là «cụ».

Cách đây bốn mươi năm, ở trời Âu, khi một bệnh nhân trên 70 tuổi gặp biến chứng, cần một cuộc mổ quan trọng, nhiều bác sĩ ngần ngại. Hiện nay, người ta còn ghép tim, tức là một can thiệp phẩu thuật nặng, cho các cụ đến 80 tuổi.

Bên cạnh tuổi tác, già hay trẻ còn tùy thuộc trí tuệ, lối suy nghĩ, tâm lý, cách sống và dĩ nhiên, tình trạng sức khoẻ.

Hiện nay, một cách chung chung, mùa thu của cuộc đời (troisième âge – độ tuổi thứ ba) bắt đầu từ 65 tuổi cho đến 79, tuổi của những người mà ta gọi là seniors. Lớn tuổi, đã về hưu nhưng còn khỏe. Sau đó, tuổi già, trong nghĩa hẹp, tuổi của bệnh hoạn và mất khả năng tự bươn chải (quatrième âge – độ tuổi thứ tư) là sau 80 cho đến cuối đời.

Với ba bốn chữ, De Gaule tóm lược cái bi đát : La vieillesse est un naufrage – tuổi già là một tình thế chìm (đắm) tàu.

Phụ nữ và tuổi già ?

Hiện thân cho sắc đẹp, phụ nữ nào cũng sợ già. Nhất là từ độ tuổi mãn kinh, tức là khoảng 50 tuổi, lúc mà các bà không còn khả năng mang thai và sinh đẻ, khi những hoóc môn oestrogen không được sản xuất nữa khiến da bà nhăn và thân thể không còn đầy đặn.

Phụ nữ già là một người bị truất phế. Một nam giới còn có thể tái hôn … tới già trong khi phụ nữ, sau 40 tuổi, chưa già, nhưng muốn tái hôn là bắt đầu khó khăn rồi đấy. Sau 60 tuổi ? Trên bình diện lý thuyết và nhân bản một cụ bà sau 60 tuổi cũng cần được thương yêu như bất cứ ai. Thế nhưng hi hứu lắm bà mới tìm được người tri kỹ.

Chỉ nhìn sơ hình ảnh của phụ nữ qua báo chí và qua quảng cáo ta cũng thấy rằng người phụ nữ mà báo chí và quảng cáo xem như mẫu, như «mô đen», là một phụ nữ trẻ, dưới ba mươi tuổi, thậm chí chỉ ở khoảng tuổi đôi mươi- Cứ làm như phụ nữ già thì hết quyền hiện hữu !

Xã hội học có khái niệm “loại bỏ” (exclusion). Người già nói chung không danh giá gì trong xã hội. Phụ nữ già bị xã hội loại bỏ thật.

Người già trong xã hội ?

Ngày xưa người già được xem như là nguồn kinh nghiệm, vốn khôn ngoan triết lý của xã hội. Cả ở trời Âu cũng như trời Á. Người Phi châu cũng nói «khi một cụ già mất thì cũng như một thư viện bị hỏa hoạn triệt tiêu».

Kính lão đắc thọ là câu bên ta.

Nhưng xã hội thực dụng không còn chỗ cho tình cảm. Trong một nền kinh tế thị trường, chen lấn và cạnh tranh, mỗi cá nhân được xem như có hai vai trò : vai trò sản xuất, người thì làm việc ở nhà máy, người khác ở bệnh viện hay ở trường học, … và vai trò của người tiêu thụ. Dĩ nhiên rồi, đồng tiền phải luân chuyển và luân chuyển nhanh chừng nào tốt chừng ấy cho nền kinh tế – vì như thế tạo ra công ăn việc làm cho số đông –

Trong cái logic đó, người già thành vô giá trị trong nền kinh tế thị trường. Người già hết góp phần vào sản xuất mà ngược lại thành gần như là gánh nặng cho xã hội, họ sống nhờ lương hưu tức là nhờ sự đóng góp của những người trẻ hiện thời và nhờ phúc lợi xã hội. Ít tiền nên họ không tiêu thụ gì nhiều. Cả hai vai trò vừa nói trên – sản xuất và tiêu thụ – người già đều không làm tròn.

Đi nghỉ hưu cũng là một hình thức bị loại trừ, bị bỏ xó, cho ra ngoài lề (marginalisation). Người cao tuổi không còn đi làm là mất liên hệ với bạn đồng nghiệp, mất cấu trúc thời gian, lại mang mặc cảm hết hữu ích cho xã hội.

Thiết kế hưu trí khởi thủy rất là cần thiết vì sau một đời làm việc nặng nhọc, người đi làm, lúc tuổi hạc đã cao, cần nghỉ ngơi. Lương hưu cũng là một cách qua đó xã hội cảm ơn những năm đóng góp của người cao tuổi.

Đầu thế kỷ XX, một người nghỉ hưu lúc 60-65 tuổi trung bình chỉ sống thêm được 10 năm nữa. Một thế kỷ sau, hiện một người nghỉ hưu còn trên dưới 20 năm cuộc đời để sống. Nhiều người thành bơ vơ không biết làm gì cho quảng đời còn lại !

Một ngày nào đó, có lẻ xã hội sẽ bắt các người cao tuổi trèo lên cây cao, rồi xã hội sẽ rung cây thật mạnh. Ai mà bám víu được tức là còn sức lực, sẽ có quyền leo xuống sống thêm vài năm nữa. Còn những người khác, rơi từ cao xuống, kết liểu đời mình, sẽ nhẹ gánh cho xã hội !

Chuyện ấy có thật. Roger Bastide (1898-1974) đã kể trong cuốn Sociologie des maladies mentales, Xã hội học về những bệnh tâm thần, sách xuất bản năm 1965 – chuyện ông kể về tục lệ lúc xưa của một bộ lạc trên đảo Fidji, Thái bình dương – tục lệ này được chấp nhận vì đó là một cách để bảo vệ sự sinh tồn của cộng đồng.

Hiện thời bên Tây, người già không sống tốt hơn bao nhiêu. Cứ vào các nhà dưỡng lão thì rõ.

Cách đây bốn mươi năm, dân tình gọi nhà dưỡng lão là nơi chờ chết và … trấn áp các con của người già để họ lo săn sóc cha mẹ của mình. Thế nhưng từ từ, các viện dưỡng lão có khá hơn chút ít nhưng cái thay đổi là hiện nay đưa cha mẹ vào viện dưỡng lão thành điều … bình thường, con cái không còn ái ngại nữa vì chúng còn có đời sống riêng của chúng mà, làm sao lo chăm sóc người cao tuổi được.

Hạnh phúc thay ông bà nào còn tiếp tục sống được ở nhà riêng của mình, quây quần cùng con cháu…

Diễn biến gần đây ở trời Âu và diễn biến thấy trước ở trời Á ?

Người già hiện thời ở trời Âu thuộc thế hệ baby boom (sự bùng nổ sinh sản) của những năm hậu thế chiến thứ II. Ở trời Á, chính sách hạn chế sinh sản ở Trung quốc từ nửa thế kỷ nay và ở Việt Nam từ đầu những năm 1980 sẽ bắt ta đối diện với cấu trúc dân số già trong vài thập niên tới.

Sống chung với người cao tuổi có nghĩa là phải thay đổi cách nhìn về tuổi tác, phải tổ chức sự tương trợ với người «già» sao cho thích hợp.

Âu Mỹ cho ra khái niệm người cao tuổi hoạt động tích cực (seniors actifs) và đặt nhiều câu hỏi để làm tốt hơn vấn đề tương trợ giữa các thế hệ.

Xã hội dân sự tích cực lo cho sinh hoạt của người cao tuổi (các lớp văn hóa, nghệ thuật và cả kỹ thuật nữa dành cho người hưu trí) giúp họ nghỉ hưu một cách tích cực, tổ chức những sinh hoạt xã hội hay du lịch – những sinh hoạt mà họ đã không thể thực hiện được trong lúc còn đi làm hay vì bận bịu con cái.

Một số người lúc về hưu bắt đầu làm những việc tình nguyện không lương để tiếp tục có ích cho xã hội.

Đồng thời, dước góc cạnh kinh tế và tài chính, từ từ người đi làm phải nghĩ đến lúc mình già và cần để dành tiền tiền tiết kiệm cho quĩ nghỉ hưu vì lương hưu, trong tương lai sẽ không đủ sống. Chính phủ khuyến khích việc này bằng những ưu đải về thuế vụ.

Tuổi già dưới khía cạnh quản lý vĩ mô ?

Khi tỉ lệ người cao tuổi trên 60 chiếm 20% dân số hiện nay ở châu Âu, hay 25% vào đầu thập niên tới, không thể tiếp tục xem người già là … người bỏ đi vì nhiều lý do:

. đó là một tầng lớp càng ngày càng đông vì tuổi thọ càng ngày càng tăng

. bước vào mức tuổi 60, hiện đa số các «cụ» còn rất khỏe, còn khả năng làm việc và nhất là đầy kinh nghiệm – một vốn liếng vô cùng quí giá cho giới trẻ mới bắt đầu vào nghề

. đa số các cụ lại có khuynh hướng muốn tiếp tục đi làm để có ích cho xã hội và để tránh tâm trạng «hụt hẩng» vì «vô công rảnh việc»

. không quĩ bảo hiểm hưu trí nào có khả năng trả lương hưu cho một tầng lớp càng ngày càng đông và càng sống lâu ấy.

. lùi tuổi đi nghỉ hưu hiện là trào lưu. Đồng thời cổ xúy phát triển cho cả một mảng kinh tế dịch vụ (giáo dục, y tế, …) mà đối tượng là người cao tuổi.

Ta đối diện với tuổi già như thế nào ?

Thông thường, sau khoảng 50 tuổi, nhiều người bắt đầu nghĩ đến thời xế chiều của mình. Như một tiến trình nhẹ nhàng : phụ nữ thì bắt đầu mặc những cái váy dài hơn, bỏ kẻ mắt, búi tóc khi ra đường để rồi từ từ chỉ mặc quần hay váy dài che hết chân và không đánh phấn nữa. Họ tổ chức việc làm khác đi, lui về nghỉ hưu khi không đủ sức để đạt được những kết quả mong muốn trong công việc…

Một số người khác không chấp nhận tiến triển này của thời gian, bám víu vào tuổi thanh xuân, đổi việc làm, đổi bạn tình, trang điểm đậm hơn – cái tuổi này ta gọi là hồi xuân cho phụ nữ hay tuổi của “ma quỷ buổi trưa” (démon de midi) cho nam giới.

Dĩ nhiên cái ám ảnh của mất mát phong độ, cái tiếc nuối của «vang bóng một thời», … là những tâm trạng khó sống. Tuổi già cũng là lúc những đứa con rời nhà đi ở riêng. Và người cao tuổi mất đi thêm một lẻ sống nữa.

Về phương diện sinh lý, tuổi già là tuổi của các bệnh mãn tính. Như một cổ máy cũ, bất cứ một «trục trặc» nào cũng dễ thành nặng nề và người cao tuổi chống chọi kém hơn với bệnh tật.

Nhưng cũng nói theo Simone de Beauvoir, nhiều người tiếp tục tìm ý nghĩa của cuộc sống. Lời nói, chữ viết không thay đổi diện mạo của hiện trạng nhưng chúng giúp ta đối mặt với hiện trạng ấy (Simone de Beauvoir, La Force de l’âge).

Nguyễn Huỳnh Mai

Để đi xa hơn :

Caradec V., Sociologie de la vieillesse et du vieillissement. NXB Armand Colin, coll. «128», 2008.

de Beauvoir S., La vieillesse. NXB Gallimard, 1970.

Guérin S., L’invention des seniors. NXB Hachette, coll. Pluriel, 2007.

Guillemard A.-M., L’Âge de l’emploi. Les sociétés à l’épreuve du vieillissement. NXB Armand Colin, 2003.

Advertisements

Đã đóng bình luận.