Skip to content

«Sống thử», thử nhìn diễn tiến ở trời Âu

Tháng Một 9, 2014

La cohabitation conjugale sans mariage – regards sur l’évolution du phénomène en Occident.

(Theo nguyên tắc bài này đã lên trang Văn Hóa Nghệ An, báo giấy, từ tháng 12.2013)

Hôm nay đọc bài này với tiếng kêu cứu S.O.S. của tác giả Kiều Nga

http://vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/xu-nghe-ngay-nay39/song-thu%E2%80%9D,-sos

(bài này, hôm nay, 29.10.2015, không còn đọc được trên trang VHNA)

nhiều độc giả, nhà luân lý và cả các bậc cha mẹ nữa chắc là hoàn toàn đồng ý với tác giả.

Bài viết có dẫn phát biểu của ông Phan Xuân Thạch, Trưởng phòng Quản lý HS- SV trường ĐHSPKT Vinh «Sống thử không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn gây ra các tệ nạn bạo lực học đường, tình trạng mang thai ngoài ý muốn dẫn đến nạo phá thai, đặc biệt nó có thể kéo theo nhiều căn bệnh nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống hôn nhân thực sự của các bạn sau này»

Cuối cùng, tác giả kết luận:

«Chứng kiến và tìm hiểu tình trạng “sống thử” và quan hệ tình dục trước hôn nhân ở giới trẻ hiện nay, bản thân người viết không khỏi giật mình và lo sợ cho cuộc sống của lớp thế hệ tương lai sau này. Trước khi chưa muộn, mong rằng các bạn trẻ luôn tỉnh táo tự bảo vệ mình trước những cám dỗ để tránh làm tổn thương đến người thân và chính bản thân mình».

.

Văn hóa Á đông khác văn hóa Âu Mỹ nhưng con người ở đâu cũng là con người. Bài này sẽ không so sánh hiện trạng bên Tây với hiện trạng bên ta. Chỉ có vài phân tích dưới khía cạnh văn hóa.

Người xưa nói «nam nữ thụ thụ bất thân», đàn ông và đàn bà không được gần nhau. Dân dã hơn, ta nói «Lữa gần rơm, không sớm thì muộn, …». Những «luật» đó ai cũng biết. Ta trọng sự trong trắng của cô dâu ngày lên xe hoa về nhà chồng, …

Mà có ai phân tích cái tại sao của các luật đó không ?

Xin phép mở một dấu ngoặc để thưa rằng ở trời Âu, trước thập niên 1960 cũng như thế đấy : các cô dâu mặc áo cưới màu trắng trinh nguyên. Chưa hết, hoa cưới cầm tay là hoa cam – fleurs d’oranger- cũng màu trắng, cũng tượng trưng cho sự trinh bạch. Các nghiên cứu xã hội học cho biết là tỉ lệ các cặp sống chung với nhau trước ngày cưới chỉ khoảng trên dưới 3% tới tối đa là 10%, thời đó gọi là sống chung trước khi cưới. Tức là phải có dự án cưới rồi các cô mới bằng lòng sống chung.

Vì sao sống thử ở trời Âu cũng bị xem như cấm kỵ lúc đó ?

Vì những lý do vừa tâm linh, vừa xã hội, vừa vật chất.

Tâm linh ? Đạo Thiên chúa xem việc liên hệ giới tính ngoài hôn nhân như một trong mười tội lỗi nặng tệ nhất. Thời điểm ấy, cách đây nửa thế kỷ, dân tình đại đa số còn trọng tín ngưỡng và theo Công giáo.

Lý do xã hội ? Phải bảo vệ phụ nữ. Vì thời ấy đa số phụ nữ chưa độc lập về kinh tế mà còn lệ thuộc vào các đấng nam nhi. Tỉ lệ phụ nữ đi làm ở Bỉ, trước thập niên 1960, cho tất cả các hạng tuổi chưa đầy 13% (phụ nữ trẻ đi làm nhiều hơn trong khi những người lớn tuổi, thế hệ của các bà sinh ra khoảng 1920-1930, số bà đi làm chưa tới 1%). Sống thử, không có hôn thú, theo luật, đấng nam nhi không bị bắt buộc phải «nuôi» cô bạn trong thời gian sống thử. Sau đó, nếu hôn nhân không thành thì người phụ nữ sẽ ra sao ?

Về vật chất ? Chưa có phương thức ngừa thai. Đề cao sự trong trắng của các cô dâu trước khi về nhà chồng là để bảo vệ dòng tử hệ, bảo đảm rằng bất cứ trẻ nào sinh ra cũng sẽ có một ông bố có bổn phận phải cấp dưỡng nuôi nấng. Và lo cho vẹn toàn tương lai sức khỏe của phụ nữ. Thời đó việc phá thai khó khăn, lại nguy hiểm vì y khoa chưa phát triển như hiện nay và vì đạo Thiên chúa cấm phá thai (sự sống là thuộc quyền của đấng tối cao chứ không thuộc quyền của ta).

Thế là ta lại nói về tâm linh !

Muôn lý do gộp lại, rất ít sống chung ngoài hôn nhân thời ấy, ngay cả ở trời Âu.

Bốn mươi năm sau, …Hiện nay thì ra sao ?

Xin … đốt đuốc giữa ban ngày để tìm ra một vài cặp không sống thử trước ngày cưới. Thống kê cho biết chỉ vài phần trăm thôi. Ngày nay, gần 100% các cặp đi tới hôn nhân là đã qua sống thử, với người ấy hay lần lượt với nhiều người rồi.

Tại sao ?

Tại vì cuối thập niên 1960 có «cách mạng» 1968 trong đó giới trẻ đứng lên đòi quyền của mình, có phong trào giải phóng phụ nữ, có sự phổ cập của các phương thức ngừa thai và nhất là ồ ạt phụ nữ đi làm để tự lập. Rốt cuộc, không những chỉ có tự do luyến ái mà có tự do sống chung không cần cưới nữa.

Về trí tuệ hay triết lý, trời Âu còn có những cặp đôi được nhiều người kính trọng mở đường, làm gương và cho thí dụ. Jean-Paul Sartre với Simone de Beavoir, Louis Aragon và Elsa Triolet, … những nhà trí thức lớn sống chung với nhau mà không qua hôn nhân.

Thiên chúa giáo càng ngày càng mất tín đồ – vì tín ngưỡng ít được theo hơn khi khoa học tiến bộ. Những cấm kỵ của Thiên chúa giáo không còn được tuân thủ như trước.

Còn một lý do rất quan trọng: có cưới hỏi, có hôn nhân đi nữa, tỉ lệ ly hôn rất cao – một cặp trên hai (50%) thậm chí hai cặp trên ba (66%) – tùy thời điểm và tùy thành phố hay vùng miền – không sống với nhau tới già. Sống thử thành cần thiết, để biết nhau rõ hơn để bảo đảm sự tín cậy trên người hôn phối.

Trong dấu ngoặc, các nhà xã hội học sẽ cho thấy sau này là vai trò tìm hiễu nhau trong lúc sống thử không được hoàn tất vì sống thử khác … sống thật và dù có sống thử và cảm thấy tin cậy nhau được, sau đó kết hôn, tỉ lệ ly hôn vẫn cao.

Nhắc lại định nghĩa của văn hóa trong một xã hội, định nghĩa của hành vi hay thói quen của dân tình, … có thể giúp ta hiểu rõ hơn diễn tiến của vấn đề sống thử.

Văn hóa là những phương thức mà cộng đồng đã sáng chế ra để trả lời tốt nhất, trong hoàn cảnh nào đó, và bắt buộc các thành viên (của xã hội) tôn trọng để xã hội sinh hoạt tốt nhất và để bảo vệ sự trường tồn của xã hội.

Qua vấn đề sống thử ở trời Âu ta thấy rõ là cách đối xử, «luật lệ» xã hội (normes) phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Sống thử khi mất các rào cản tâm linh, vật chất và xã hội đã hết bị xem như cấm kỵ và thành một hành động «bình thường» ở trời Âu.

………

Có thể trong tương lai vấn đề sống thử ở bên ta sẽ thành … phổ cập hơn.

Quan niệm xã hội biến chuyển không ngừng dù ở bên ta hay bên Tây, vì những lý do nội tại và vì những giao lưu văn hóa.

Lý do nội tại ?

Thành thị hóa là một lý do nội tại chẳng hạn, trong vấn đề sống thử mà ta đang bàn. Tác giả Kiều Nga đã nói đến hiện tượng «sống thử» ở các thành phố. Điều đó hiển nhiên, vì ở phố chợ đông người sự kiểm soát xã hội không chặt chẻ như ở thôn quê. Các thanh niên thanh nữ sống ở thành phố lại xa «đôi mắt» canh giữ của cha mẹ…

Kiểm soát xã hội là tổng thể các phương tiện kiểm soát (hay chế tài trong nghĩa rộng) mà xã hội dùng để tạo áp lực trên các thành viên để các thành viên này tuân thủ các luật lệ, theo nghĩa cách ăn ở, của xã hội. Tiếng thơm, tiếng thị phi, bị cách ly hay trái lại được đón tiếp ân cần, được khen thưởng, … là những hình thức kiểm soát xã hội.

Sự độc lập của các thanh nữ là một lý do nội tại khác. Số các cô đi học và đi làm càng ngày càng cao. Độc lập cả về phương điện tâm lý. Các thanh nữ có độc lập mới dám đồng ý sống thử.

Dĩ nhiên có hoàn cảnh đưa đẩy (tiết kiệm tiền nhà, sống chung để lấp đầy nhu cầu tình cảm khi xa quê, …), nhưng hoàn cảnh có khó đến mấy đi nữa, con người vẫn đủ khôn để thích ứng và thích ứng tốt.

.

Giao lưu văn hóa hay lý do từ bên ngoài đưa đến thì không cần bàn đến nữa: phim ảnh, sách báo, internet. Ngay đến phụ nữ Hồi giáo còn đòi tự do, trong đó có tự do lựa chọn trong vấn đề liên hệ giới tính. Các thanh niên thanh nữ Việt Nam tránh được ảnh hưởng của toàn cầu hóa ?

Vai trò lực cản của phụ nữ trong vấn đề sống thử quan trọng hơn vai trò của nam giới – vì về vấn đề này, nam giới là người … «được nhiều lợi và ít bị thiệt» hơn nữ giới trong quan niệm xã hội – ở trời Tây đã như thế đấy rồi cách đây mấy mươi năm.

……..

Dĩ nhiên, trước khi nói đến những tai hại của sống thử, ta cần nghĩ tới vấn đề giáo dục giới tính để, nếu các cô và các cậu quyết định sống thử, các cô và các cậu được trang bị đầy đủ hầu không bị những hậu quả tiêu cực hay bất ngờ (có thai hay những bệnh truyền nhiểm qua đường sinh dục).

Giáo dục giới tính có tổ chức và có hệ thống nên được thực hiện từ trường tiểu học và tiếp tục đến trung học cơ sở. Tức là trước khi trẻ có thể bị tiêm nhiễm từ những nguồn không chính thống với những thông tin nhiều khi méo mó. Đồng thời thuốc ngừa thai, ở Bỉ chẳng hạn, hoàn toàn được bảo hiểm sức khỏe trả tiền.

Điều cuối cùng mà bài này muốn nhấn mạnh không là cấm hay quảng bá sống thử. Mà cần giúp giới trẻ suy nghĩ chín chắn khi quyết định sống thử hay không sống thử.

Những phiêu lưu tình ái, nếu gặp phải đổ vở, chưa kết hôn đi nữa, cũng để lại những vết thương khó lành, ít nhất là trên phương diện tâm lý.

Được thông tin và được chuẩn bị, giới trẻ sẽ ứng xử và quyết định có trách nhiệm. Xã hội không cần phải cấm đoán. Vì cấm đoán hay bài trừ cũng khó hữu hiệu.

Nguyễn Huỳnh Mai

Tài liệu tham khảo

Hai tài liệu cho hiện trạng:

Marquet J., Sociologie du mariage. NXB Đại học Louvain UCL, 2008.

Prioux F., Mariage, vie en couple et rupture d’union, Informations sociales, 2005. N° 122:38-50.

Và hai tài liệu cho tình trạng cách đây vài thập kỷ:

Roussel L., Le mariage dans la société française. NXB Presses Universitaires de France, 1975.

Sarma Cl., La cohabitation hors mariage : un mode de vie différent ? Economie et statistique. 1985. Vol. 179, N° 179: 47-52.

Cập nhật: Bài này cho thêm vài ý:

https://huynhmai.org/2014/12/21/lai-ban-ve-song-thu/

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.