Skip to content

Khoa học về giấc ngủ

Tháng Hai 8, 2014

Bài này đã đăng,  năm 2012, một loại kiến thức y khoa viết bởi một người ngoại đạo, nhưng nghiêm chỉnh, cho trang khoa học của Dân Trí,  …

http://dantri.com.vn/khoa-hoc/khoa-hoc-ve-giac-ngu-hien-tai-va-tuong-lai-620102.htm

Giấc ngủ chiếm một phần ba đời người. Những rối loạn về giấc ngủ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống ban ngày và đến sức khỏe của dân tình và từ đó, cả cuộc sống kinh tế xã hội của toàn quốc gia.

Khoa học về giấc ngủ mới thực sự phát triển từ hơn bốn mươi năm nay nhưng phát triển với những bước khổng lồ mặc dù vẫn chưa trả lời đủ cho nhu cầu của dân chúng, ngay cả ở những nước Âu Mỹ.

Trái với những “công thức hay lời khuyên” ta thường thấy hay nghe, một người bình thường không phải áp dụng một phương thức nào hết để ngủ ngon. Ngủ là một sinh hoạt được dự trù sẳn trong não, một sinh hoạt bẩm sinh: nhân loại làm việc ban ngày và nghỉ ngơi khi trời tối. Chúng ta có hormone melatonine mà cơ thể ta tự chế, lo cho việc đó. Cũng không nên chú trọng đến độ dài của giấc ngủ. Có người cần 5 giờ mỗi đêm, có người cần 8 giờ. Chỉ phải bắt đầu lo khi cần hơn 8-9 giờ mỗi đêm và chỉ phải cẩn thận lo cho trẻ ngủ đủ giờ.

Vệ sinh thường thức cho một cuộc sống tốt (ăn uống điều hòa, sinh hoạt thể thao, tránh hút thuốc và chất kích thích, liên hệ gia đình và xã hội hài hòa…) đủ cho một giấc ngủ tốt.

Thế nhưng nếu ban ngày ta không thể làm việc được, thấy uể oải, mệt mỏi, buồn ngủ hay ngủ gật… thì phải bắt đầu để ý đến cách sinh hoạt, chỉnh lại và nếu cần thì xem giấc ngủ có vấn đề hay không.

.

Sơ lược cấu trúc của giấc ngủ

Giấc ngủ không phải là một “dòng sông bình lặng”, trong đó người ngủ ngừng hết mọi hoạt động. Trong khi ta ngủ, bộ máy cơ thể vẫn tiếp tục, mà hoạt động một cách khác. Nhờ đồ thị giấc ngủ đo sinh hoạt thần kinh, sinh hoạt tim, nhịp thở, cử động của mí mắt, sinh hoạt của cơ bắp… mà ta phân biệt được 4 trạng thái hay giai đoạn của giấc ngủ – từ chập chờn tới ngủ sâu và sau đó ngủ mơ.

Các trạng thái ngủ lại cấu trúc với nhau theo một tuần hoàn nhất định: ngủ nông, ngủ sâu, ngủ mơ và như thế lần lượt khoảng 5, 6 chu kỳ mỗi đêm, mỗi chu kỳ dài khoảng 90-100 phút.

Tới bây giờ, các nhà khoa học tin rằng ngủ sâu (khoảng 25% thời gian ngủ, nhất là lúc đầu mỗi đêm) là để tái tạo sức lực còn ngủ mơ (khoảng 20% thời gian ngủ, nhất là vào lúc gần sáng) là để tổ chức trí nhớ và giúp hài hòa những sinh hoạt tâm lý.

Nhưng cấu trúc của giấc ngủ co giản thay đổi tùy theo cá nhân, tuổi tác, môi trường cuộc sống của cá nhân và tùy đồng hồ sinh học của mỗi người…

Quan sát giấc ngủ là phải qua một hệ thống các điện cực (électrodes) gắn trên đầu, trên mặt và trên mình người ngủ. Tất cả nối liền với các máy ghi. Sau đó bác sĩ chuyên khoa “đọc” các đồ thị này và từ đó chẩn bệnh.

.

Những thành quả đã đạt được:

Từ những bước khởi đầu, ở thời điểm những năm 1960, khoa học về giấc ngủ đã khám phá ra hơn 80 bệnh. Ngủ nhiều, ngừng thở lúc ngủ, mộng du, ngủ rũ, cử động lộn xộn trong lúc ngủ, tê liệt lúc ngủ, khó khăn về giờ giấc… và dĩ nhiên, mất ngủ hay khó ngủ. Đó là chưa nói tới các bệnh mà một số triệu chứng vài khi chỉ phát hiện trong giấc ngủ – một số bệnh nhân động kinh là một trường hợp điển hình.

Một số bệnh nhân khác : Parkinson, tự kỷ, sclérose en plaque… cũng có vấn đề về giấc ngủ mà ta phải chữa song song.

Ngừng thở trong đêm làm cho người ngủ không thể đạt tới độ sâu của giấc ngủ, làm họ mệt mỏi và ngủ gật suốt ngày, từ đó khó làm việc hay học hành, gây nhiều tai nạn nghề nghiệp và tai nạn lưu thông và xa hơn, gây những chứng bệnh về tim…

Ngủ rũ, thông thường xuất hiện lúc trẻ, làm trẻ không học được và ảnh hưởng tới cả tương lai chúng nếu không trị đúng và đúng lúc.

Mộng du không làm các nhà khoa học lo lắng thái quá vì nhiều trường hợp mộng du tự biến mất khi trưởng thành. Cái cần là phải chẩn ra bệnh và chú ý phòng ngừa tai nạn lúc người bệnh đi “du” lúc ngủ.

Chứng mất ngủ mà rất nhiều người than – tới 30% dân số ở các nước phát triển – bệnh này làm mất giá trị sống nhưng theo một số chuyên gia bệnh này không “nguy hiểm”, có thể trị được bằng nhiều phương thức, chứ việc dùng thuốc ngủ không phải là cách điều trị duy nhất.

Hiện y khoa về giấc ngủ nắm vững và chữa trị được đại đa số 80 bệnh đã “khám phá”.

Với thời gian, tiến bộ lớn nhất của khoa này là khả năng phân tích tự động đồ thị giấc ngủ.

Lúc khởi thủy tới đầu những năm 1990, đồ thị giấc ngủ mỗi đêm là hơn 500 trang giấy (mỗi trang là đồ thị của 30 giây giấc ngủ) mà chuyên viên phải đọc, như bác sĩ tim mạch phải đọc điện đồ tim, để có thể chẩn bệnh. Nhờ tiến bộ của tin học, những phần mềm lập ra với sự cộng tác của những giáo sư lớn trong ngành, hiện đồ thị giấc ngủ được ghi và phân tích bằng máy. Bác sĩ chỉ cần kiểm soát và kết luận dựa trên những dữ kiện lâm sàng khác của bệnh nhân.

Tiến bộ thứ nhì: trị bệnh khó ngủ bằng ánh sáng, trong đó có kính Luminette sáng chế ở Liège, cho những người có thời dụng biểu của giấc ngủ khác với thời dụng biểu thời tiết; cho bệnh trầm cảm mùa thu khi ánh sáng mặt trời đột ngột giảm mạnh lúc thay mùa hay để có thể mau thích hợp với múi giờ khác lúc đi du lịch…

Tiến bộ thứ ba: cấu trúc xương hàm và chứng ngừng thở lúc ngủ – một tiến bộ đồng hành giữa y khoa và nha khoa. Liège đã tiên phong trong tiến bộ này và đang tiên phong trong việc chỉnh nha khoa nơi trẻ em để ngừa ngừng thở sau này cho chúng.

Đồng thời, bốn mươi năm qua là bốn mươi năm gầy dựng một khoa học mới, đào tạo chuyên viên, phổ cập kiến thức cho quần chúng.

Đào tạo chuyên viên rất quan trọng. Ồ ạt, hơn 80 bệnh về giấc ngủ được khám phá, số bệnh nhân đông mà chuyên viên thì phải đi từ số không, các bác sĩ được đào tạo ngày xưa hoàn toàn mù tịt về những kiến thức này… Hiện số cung về chuyên viên giấc ngủ ở Bỉ vẫn chưa đủ và thời gian bệnh nhân phải chờ đợi để được khám có khi đến 6-12 tháng.

Phổ cập kiến thức cho quần chúng không kém phần quan trọng: trước đó, vì thiếu thông tin, nhiều bệnh nhân ngủ ngáy và ngừng thở lúc ngủ không đi khám và chịu đựng như thế nhiều năm dài, đưa đến các bệnh khác, gây tai nạn, giảm tuổi thọ…

Thông tin đến quần chúng còn có vai trò xã hội: giúp những người có liên hệ với bệnh nhân cư xữ thích ứng hơn – trường hợp chứng ngủ rũ và các em đang đi học ở THCS chẳng hạn, các giáo viên Tiểu học cần thông tin để hiểu và nâng đỡ các em.

Khoa học về giấc ngủ, cũng như nhiều chuyên khoa khác trong ngành Y, là một khoa học cần sự hợp tác của các ngành khác tâm lý, xã hội, kinh tế, dịch tễ, di truyền học… Bốn mươi năm rồi là bốn mươi năm tiến bộ cho các ngành hỗ tương ấy về vấn đề giấc ngủ.

Về mặt địa lý toàn cầu phải kể đến sự bùng nổ – hơn cả phát triển, một sự bùng nổ thực sự – của khoa giấc ngủ ở Nhật bản trong những năm 1990 và ở Trung Hoa và Hàn quốc từ những năm 2000. Họ đã gửi chuyên viên sang các trung tâm giấc ngủ lớn, nhất là ở Mỹ, Pháp, Israel hay Ý (hay bắc “cầu vàng” để mời các chuyên viên này về nước họ gầy dựng khoa giấc ngủ) và hiện có thể nói là họ có khả năng không kém các chuyên viên Âu Mỹ (dù mạng lưới điều trị cho dân các xứ này còn thưa).

.

Viễn ảnh tương lai

Tương lai và đường hướng phát triển của khoa học về giấc ngủ được hướng dẫn bởi nhu cầu. Trong những hội nghị khoa học gần đây, ba nhu cầu quan trọng nhất được đề ra là:

– làm sao để người ngừng thở lúc ngủ tiếp tục trung thành theo phương thức trị bệnh bằng máy trợ thở dưới áp suất cao

– làm sao để chẩn đoán mau nhất và đúng nhất các bệnh về giấc ngủ để giảm bớt thời gian đợi của các bệnh nhân tại các trung tâm chuyên khoa

– làm sao áp dụng hữu hiệu nhất những tiềm năng khoa học máy móc và công nghệ thông tin để phát triển tốt nhất khoa giấc ngủ và để săn sóc tốt hơn các bệnh nhân

Viễn ảnh thiết thực nhất hiện thời là

. Hoàn thiện những bảng thang câu hỏi về sinh hoạt, thời dụng biểu mỗi ngày, trạng thái chủ quan về độ khỏe khoắn, độ buồn ngủ để bệnh nhân – và cả người không bệnh – có thể tự kiểm tra trường hợp của mình – để giúp bác sĩ trong việc chẩn bệnh – Thông thường các bảng này (40 – 60 câu hỏi) khi được điền xong, phần mềm của chương trình sẽ đưa từ 5 đến 11 kết luận khác nhau. Bác sĩ sẽ chọn kết luận đúng nhất, thích hợp nhất tùy theo trường hợp và tùy theo các dữ kiện khác mà bác sĩ thu lượm được lúc khám bệnh nhân. Sau phân tích tự động các đồ thị giấc ngủ, các bảng thang này sẽ là một tiến bộ quan trọng.

. Các máy ghi đồ thị di động. Đây là một tiến bộ mà tác giả là Trung tâm giấc ngủ Đại học Liège. Đến bệnh viện để ghi đồ thị giấc ngủ vừa tốn kém vừa có thể làm “xáo trộn” giấc ngủ thường ngày của bệnh nhân (có người không ngủ được ở nhà thương; có người trái lại, với cảm tưỡng an toàn được săn sóc bởi nhân viên chuyên môn, ngủ rất tốt ở bệnh viện), không phản ảnh được tình trạng “thật” lúc ở nhà. Trong ngành tim mạch, đã có những holter ghi đồ thị tim trong 24 giờ mà bệnh nhân mang trên người, trong khi sinh hoạt bình thường. Máy ghi đồ thị giấc ngủ di động phức tạp hơn vì phải ghi 5 đồ thị khác nhau (đã nói trên ở phần sơ lược cấu trúc giấc ngủ) nhưng rất có ích vì trong 24 giờ, có những lúc người bệnh ngủ 3 hay 4 “mini giây” chẳng hạn, kể cả đang lúc lái xe hay làm việc. Đó là một chứng bệnh khác, phải biết để trị.

. Việc trị chứng bệnh ngáy ngủ và dừng thở lúc ngủ cho một số bệnh nhân hiện phải phụ thuộc máy thở mỗi đêm khó bảo đảm sự kiên trì tuân thủ của bệnh nhân. Một số tiến bộ về kỹ thuật – máy nhẹ hơn, ít ồn hơn, mặt nạ gắn trên mũi dễ chịu hơn… nhưng hiện thời, sự theo dỏi bệnh nhân bởi một chuyên viên tâm lý cho thêm nhiều kết quả tốt. Thành quả này, một lần nữa chứng tỏ là khoa học về giấc ngủ không chỉ là chuyên ngành của y khoa. Nhưng hiện cần đào tạo tâm lý gia chuyên về giấc ngủ.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Khoa học

Đã đóng bình luận.