Skip to content

Những đứa con của ly hôn ?

Tháng Tư 10, 2014

Les enfants du divorce – une tragédie pour eux ?

Il le paraît, au moins suivant cet article :

http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/168401/bi-kich-cua-nhung-dua-con-sau-cuoc-ly-hon.html

.

Bài báo trên đưa ra  ba chuyện đời đau khổ  của ba người con lớn lên sau khi cha mẹ của họ đường ai nấy đi.

.

Những chuyện hẳn có thật. Tình tiết có éo le. Nhưng ba chuyện không phản ảnh hết sự thật. Mang tới kết luận hay từ đó đưa ra những lời khuyên cho các cặp vì trăm ngàn lý do phải chia tay thì có cái gì … không ổn. Sợ rằng  kết luận  vẻ vội vàng,  khuyên có vẻ giảng đạo lý cho người li hôn, … và có thể vì chủ quan của người viết.

.

1. Bi kịch của những đứa con của ly hôn. Thế có nghĩa là không có trẻ sung sướng hạnh phúc khi cha mẹ ly dị ? Tác giả bài này không rõ tình hình ở Việt Nam, bản thân đã kết hôn từ hơn bốn mươi năm, chưa…ly dị nhưng hoàn toàn tôn trọng những quyết định của các cặp đôi sống với nhau hay quyết định chia tay nhau.

.

2. Bên ta, con cái thông thường sống trong một gia đình gồm cha mẹ và ông bà. Số con của ly dị không nhiều,

.

Vì không nhiều mà thành bất bình thường ?

Cái gì khác với đám đông là dị hợm ? là thành bi kịch ?

Dĩ nhiên ai cũng mơ ước một gia đình êm ấm vẹn tròn. Nhưng nếu không thể tiếp tục sống chung với nhau, ly hôn có thể là một giải pháp thỏa đáng, nếu không gia đình có thể là một …địa ngục cho tất cả các thành viên.

.

3. Bài báo dẫn các lời khuyên của các tâm lý gia như một cái gì chính thống hay như lời kinh thánh. Tâm lý gia cũng có nhiều trường phái và nhiều người với những chuyên khoa khác nhau. Cái nhản tâm lý gia không là một giá trị gia tăng cho các lời khuyên … vàng ngọc. Trừ phi là nhà báo đưa tên chính xác của tâm lý gia, với công trình nghiên cứu, đăng trên tạp chí xyz năm nào, … để người đọc có thể hiểu và kiểm soát.

.

Giải thích thế nào về vấn đề những đứa con của ly dị ?

.

Số phận của những đứa con của ly dị tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Hoàn cảnh xã hội của gia đình cha mẹ trước và sau ly dị, tuổi của cháu khi cha mẹ ly dị, tâm lý của cháu và tâm lý của cha mẹ gia đình cháu, thái độ của xã hội nói chung về vấn đề ly dị, …

Tức là không phải đứa con nào của ly dị cũng sống trong bi kịch.

.

.

Theo chỗ người viết bài này biết qua các khảo cứu ở trời Âu thì hoàn cảnh của trẻ mà cha mẹ ly dị thay đổi tùy trường hợp. Tựu chung, hiện thời số trẻ của các gia đình ly dị đông –  ít nhất là 50% trẻ trong lớp học hay trong giảng đường là con của các cặp ly dị – . Hiện tượng thành … bình thường.

.

Đi ngược lại thời gian, trong quá khứ, «số phận» của những trẻ này ít nhiều có thay đổi tùy theo tỉ lệ li dị, tùy theo ý nghĩa hay biểu tượng mà xã hội gán cho hiện tượng ly dị của các cặp đôi.

.

1. Khởi thủy, trước đệ nhị thế chiến, li dị ít, ở Pháp hay ở Bỉ, dưới 10% số các cặp kết hôn. Thời đó, khi người ta kết hôn là kết hôn  cho trọn đời. Luân lý tôn giáo bắt buộc như thế. Đạo Thiên chúa không chấp nhận ly hôn.

.

Những người ly dị, bỏ chồng bỏ vợ bị xem như những con chiên ghẻ lở, không ngoan đạo, bị xã hội ruồng rẫy. Con cái của những cặp ly dị bị xem như những người bất hạnh. Bất cứ biến cố nào xãy đến,sau đó, cho các trẻ này đều được hay bị đổ lên đầu cái ly dị của cha mẹ chúng

. chúng học không nên ở trường ? Không lạ, chúng thiếu gương đoàn kết của gia đình,

. chúng bị bệnh trầm cảm ? Dễ hiểu thôi, chúng bị thiếu thốn tình cảm.

. Chúng không thiết lập được một liên hệ bền vững với người khác phái ? Tại vì biến cố ly dị của cha mẹ chúng là nguyên nhân chứ còn gì nữa.

.

Thời điểm lúc đó lại là thời …hoàng kim của trường phái phân tâm học – giải thích theo Freud về mặc cảm Oedipe, con cái phải có đủ cha đủ mẹ, để có hai hình ảnh nam nữ, để tự rèn tâm lý mình. Có mẫu để bắt chước và tạo bản thể. Cha mẹ mà ly dị thì cứ như có cái gì đổ vỡ trong tâm lý.

.

Những giải thích này làm cho cho cha mẹ chúng có mặc cảm tội lỗi với con và phải tự họ tìm cách «cứu» con khi hôn nhân họ đổ vỡ. Những lời khuyên của bài báo dẫn trên có lẻ nằm trong quan niệm về ly dị của thời điểm này của trời Âu. Ly hôn bị xem như một cái … tội.

.

2. Sau thời đó, cũng ở trời Âu, khi tỉ lệ ly dị đến ngưỡng 30% các cặp kết hôn, ly dị thành một giải pháp thỏa đáng cho hai người không còn yêu nhau hay không còn khả năng sống chung với nhau.

.

Trong giai đoạn này, con cái họ được xem như được giải phóng bởi cái ly dị của cha mẹ chúng. Dân tình có ý kiến rằng chẳng thà chia tay nhau còn hơn là lục đục tiếp tục chung sống với nhau (un bon divorce vaut mieux qu’un mauvais ménage). Ly hôn ở đây được xem như một giải pháp cho những cặp đôi không còn khả năng “tâm đầu ý hợp”.

Khi trẻ, con cái của những cặp ly dị trong bối cảnh xã hội thời này, có vấn đề, tương tự như những trường hợp mà ta vừa kể trên, thiên hạ không đổ tội cho ly dị nữa mà đi tìm những giải thích và cách trả lời cho những khó khăn của chúng.

.

3. Từ gần ba mươi năm nay, khi tỉ lệ ly dị chiếm hơn 50% những cặp kết hôn, khi nhiều người sống chung nhau không cần kết hôn nữa, thì con cái của những cặp ly dị không còn là ngoại lệ nữa.

.

Khởi đầu, chúng sống trong một gia đình có cha có mẹ. Sau đó, cha mẹ chúng chia tay nhau, rồi lập gia đình thứ nhì chẳng hạn, chúng sống cùng với những cha mẹ hay anh em «ghẻ», không sao cả, không có liên hệ huyết thống thì có liên hệ nuôi dưỡng. Chúng có thể sống bán thời gian với cha và phần còn lại với mẹ dù cha mẹ không còn ở chung nhà. Hiện tượng thành bình thường.

.

Khi chúng có vấn đề, biến cố «ly dị» của cha mẹ là một trong những biến cố của đời sống. Những người có trách nhiệm giúp chúng vượt khó phải thận trọng nắm  hết toàn diện các khía cạnh của cuộc sống của chúng để tìm giải pháp.

.

Nuôi một đứa con cho thành người là một «công trình» khó. Cuộc sống đầy thử thách. Hai vợ chồng chia tay nhau với một hay nhiều đứa con chung là thêm một thử thách nữa. Nhưng hiện nay, các bác sĩ và giáo sư tâm thần học ở Liège không dùng giải thích của Freud như giải thích duy nhất (= mất hình ảnh người cha, hay hình ảnh người mẹ  để tự định nghĩa mình) , để “dán nhản”  (stigmatiser)  cho các khó khăn mà con cái các cặp ly dị có thể gặp phải.

.

.

Kết luận ?

.

Ngày xưa, không có khoa học, không có thống kê, ly hôn ít xãy ra, … cho dân tình những lời khuyên hợp với luân thường đạo lý là một điều tốt. Nhưng thời thế bây giờ khác…

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

Đã đóng bình luận.