Skip to content

Loạn kỷ cương và lệch chuẩn xã hội

Tháng Tư 13, 2014

L’anomie et la déviance. Des notions de Durkheim et de Merton aux applications.

.

Đây là bản được …tái lập sau khi VHNA đã cho in trong số 267, phát hành ngày 25.04.2014.

Hay làm sao cho giới trẻ bớt tha hóa ?

Theo bài báo này, bớt học hàn lâm là một cách giải quyết sự tha hóa của giới trẻ:

http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Bot-hoc-han-lam-truu-tuong-gioi-tre-thoi-tha-hoa-post142918.gd

.

Trong cùng đường hướng, báo Tuổi trẻ cho tựa đề bất ổn trong giáo dục đạo đức

http://tuoitre.vn/Giao-duc/602408/bat-on-trong-giao-duc-dao-duc.html

.

Dạy làm người, bớt dạy chữ, nâng tầm quan trọng của môn giáo dục công dân, … nhiều ý kiến được đưa ra, ý kiến nào cũng đúng nhưng có lẻ là chưa đủ.

.

Chưa đủ vì cách tiếp cận hiện trạng – dù đã được nghiên cứu – vẫn còn phiến diện, chưa phân tích nguyên nhân hậu quả vấn đề cho tổng thể. Chưa đủ vì những đề nghị giải quyết vấn đề còn giới hạn trong khuôn khổ học đường. Trường học không là một ốc đảo sống độc lập với xã hội bên ngoài. Chưa đủ vì còn cần phải huy động nhiều thay đổi của toàn xã hội mới mong giới trẻ bớt tha hóa.

.

Nhưng cái hay là ta đang ý thức được vấn đề và tìm cách khắc phục. Lo cho giới trẻ hôm nay là bảo đảm tương lai cho cả toàn xã hội ngày mai.

.

Chủ đích của bài này là tìm cách đi sâu hơn …

.

Loạn kỷ cương và lệch chuẩn ?

 

.Anomie và déviance – mà ta có thể dịch là loạn hay thiếu kỷ cương và lệch chuẩn.

.

Một chút kinh điển có thể giúp ta phân tích những trường hợp quan sát thấy chung quanh ta.

.

Trong xã hội học, loạn kỷ cương là một khái niệm triển khai bởi Emile Durkheim (1858-1917) trong “De la division du travail social”- Sự phân công xã hội, xuất bản năm 1883 để chỉ một tình thế rối loạn trật tự xã hội, thiếu vắng luật lệ hay thiếu cấu trúc sinh hoạt xã hội – Anomie đi từ chữ Hi lạp cổ xưa, an nghĩa là không có và nomos, luật lệ, trật tự, cấu trúc –

.

Đúng ra thì bất cứ xã hội nào để trường tồn và để sinh hoạt nhịp nhàng đều bài tiết, thiết lập một cơ cấu hệ thống tổ chức và những luật lệ, phương thức sinh hoạt.

.

Loạn kỷ cương hay thiếu cấu trúc là tình trạng của một xã hội hay một nhóm không có luật lệ, không hay thiếu tổ chức – tất cả đều lao xao bất ổn. Tình trạng thất nghiệp, gia đình tan vở là những thí dụ. Gia đình và nơi làm việc (nhà máy, công tư sở, … ) vốn giúp các cá nhân có chỗ dựa, cấu trúc tổ chức và sinh hoạt.

.

Thế nhưng trong một chừng mực nào đó, một xã hội mà tôn ti trật tự quá cứng nhắc cũng có thể gây ra loạn kỷ cương vì dân tình không có khả năng tuân thủ cái tôn ti trật tự, đa phần là bất công, đó.

.

Chính vì thế mà trong lý thuyết của Durkheim, trật tự bao gồm ý chính đángcông bằng.

.

Trong tình trạng loạn kỷ cương, dân tình không biết làm sao hành động hay tuân thủ luật lệ vì thiếu luật lệ hay chính những luật lệ, nếu có, không ổn, không hợp tình hợp lý.

Loạn kỷ cương, dân tình không có luật để để đưa đường dẫn lối, bơ vơ không chỗ tựa, không biết hành động một cách thỏa đáng nhất.

.

Sự thiếu vắng này có thể đưa đến hành động cùng cực là tự tử. Trong những xã hội thiếu kỷ cương tỉ lệ tự tử cao hơn, theo Durkheim.

Dẫn chứng của Durkheim: đàn ông có vợ ít tự tử nhất vì gia đình là một tổ chức kỷ cương bền vững rõ ràng. Trái lại, đàn ông góa vợ, mất cấu trúc kỷ cương của gia đình, tự tử nhiều hơn (Le suicide – Sự tự tử, xuất bản năm 1897).

.

Robert K. Merton (1910-2003), sau đó, dựa trên khái niệm loạn kỷ cương nhưng đi xa hơn và định nghĩa khái niệm lệch chuẩn như một sự vi phạm luật lệ xã hội (trong Social structure and anomie – Cấu trúc xã hội và loạn kỷ cương/lệch chuẩn, 1938).

.

Khởi đầu Merton nói tới loạn kỷ cương vì khi ở trong tình trạng này dân tình có thể phản ứng và sáng chế ra những cách thức làm cho xã hội biến chuyển một cách tích cực.

.

Merton sống và quan sát một xã hội khác xã hội của Durkheim. Thời những năm 30 của thế kỷ trước là lúc kinh tế tương đối là phát triển và sự tiêu dùng tăng lên. Sống và tiêu thụ thành lẻ thường. Ai cũng chấp nhận và được xã hội hóa trong đường hướng đó nhưng mọi người không có khả năng tiêu thụ bằng nhau. Bất công xã hội hiện rõ hơn, được ý thức rõ hơn.

.

Xã hội đưa ra «luật» tiêu thụ nhưng không cho tất cả dân tình khả năng để tiêu thụ thành ra xã hội chứng kiến hiện tượng lệch chuẩn : không có phương tiện để tiêu thụ, một số người trộm cướp để có thể tiêu thụ hay nói cách khác, để …thực thi đúng «luật» tiêu thụ. Trộm cướp là một déviance hay lệch chuẩn.

Từ đó, Merton phân biệt những nguyên nhân hay phân loại các hình thức lệch chuẩn.

.

Một cách giản dị và tổng hợp, theo Merton, ta lệch chuẩn khi

. thiếu tuân thủ luật lệ xã hội

. tuân thủ cứng nhắc luật lệ xã hội

. phản ứng chống lại luật lệ xã hội

. sáng chế ra một luật lệ xã hội mới

.

Thí dụ cổ điển mà tôi thường cho để thuyết minh các «loại» lệch chuẩn này là

. những người phụ nữ đầu tiên từ chối mặc váy và mặc quần như nam giới (thiếu tuân thủ luật lệ xã hội).

. mặc váy dài che hết chân, như người quakers (tuân thủ cứng nhắc luật lệ xã hội).

. liệng váy, hô hào phụ nữ khác mặc quần để tự do cử động (phản ứng chống lại luật lệ xã hội).

. phát minh ra loại váy có hai ống chẳng hạn vừa thuận lợi vừa không lệch chuẩn so với luật phải mặc váy (sáng chế ra một luật lệ xã hội mới).

.

Cái không được quên là khi nói lệch chuẩn tức là chấp nhận và so sánh với chuẩn.

Nhưng hiện tượng nhiều khi phức tạp. Bất cứ chuẩn nào cũng chấp nhận những ứng dụng uyển chuyển và chỉ xem như lệch chuẩn các “vi phạm” đi quá những giới hạn được chấp nhận. Cái chuẩn theo đó vợ chồng phải trung thành với nhau không có nghĩa là một trong hai người, hay cả hai, phải loại bỏ hết những giao tiếp với người khác phái. Nguyên tắc phải im lặng trong giờ học không có nghĩa là ta phải nín cả thở vì chỉ tiếng động của hô hấp cũng …gây ồn rồi.

.

Có những trường hợp xã hội không có chuẩn (xã hội hiện thời không đề cao cuộc sống thanh đạm dựa trên tình người: nhan nhản ở đâu cũng thấy nêu lên mức giàu sang của X Y Z, hay các nghề cho lợi tức hàng triệu mỗi ngày, …sự kín đáo về tiền bạc không còn là một phép ăn ở. Trái lại chuyện tiền bạc được bàn đến dễ dàng và nhẹ bổng, nhẹ còn hơn cái lông chim phất phơ bay theo gió…).

.

Hay xã hội có nhiều chuẩn trái ngược nhau. Ta có thể kể trường hợp dạy các cô phải là vợ hiền dâu thảo trong khi ở trường và qua internet, các cô được tiếp cận với hình ảnh người phụ nữ tự lập, đồng hàng với nam giới. Luật «thanh thiên bạch nhật» và «luật ngầm» ngược nhau – thi cử và mua bằng cấp chẳng hạn – là thí dụ thứ nhì.

Trong cả hai trường hợp này, khó mà định nghĩa thế nào là lệch chuẩn.

.

Cũng không thể dựa trên số lượng (sự hành sự theo đám đông là đúng chuẩn ?) để xác định đâu là chuẩn và đâu là lệch chuẩn.

Dựa trên số lượng, có thể số phá thai mỗi năm ở một số quốc gia cao hơn số trẻ chào đời. Thế nhưng phá thai vẫn bị luân lý xã hội xem là lệch chuẩn.

.

Déviance khác với anomie – lệch chuẩn khác với thiếu kỷ cương.

Thiếu kỷ cương không ai phạt hay bị phạt hết. Còn lệch chuẩn thì xã hội lúc nào cũng cố gắng kéo người không thực thi luật lệ về theo … chính đạo. Vì lệch chuẩn mang nguy cơ chạm tới sinh hoạt thuận hòa và chạm tới sự trường tồn của xã hội.

.

Khái niệm lệch chuẩn của Merton được xem như nền tảng của xã hội học về tội phạm để giải thích những hành vi vi phạm luật lệ và sự chính thống của những chế tài mà xã hội dùng để trừng phạt người phạm tội.

.

.

Trở về xã hội Việt Nam ? Loạn kỷ cương hay lệch chuẩn ?
Tác giả những dòng này không khẳng định, chỉ xin góp ý từ xa. Các dấu chấm hỏi (?), các từ «có lẻ», … là những dấu bỏ ngỏ, để các đồng nghiệp xã hội học gia bên nhà trả lời, bàn thêm.

.

Trong xã hội Việt Nam, báo chí hàng ngày đưa ra nhiều hiện tượng như bạo lực, giết người, mãi dâm, rượu chè, nghiện ngập, …

Trước những hiện tượng này đa phần dân tình kêu gọi phải chế tài mạnh để răn đe và để bảo vệ xã hội. Tức là mặc nhiên xếp và xem những hành vi trên là lệch chuẩn hay là phạm pháp phải bài trừ.

.

Thế nhưng chế tài, phạt nặng có thể không giải quyết được gì hết khi về số lượng, hiện tượng đi quá khả năng chế tài. Một thí dụ rõ ràng: làm sao bắt bỏ tù hết các bảo mẫu hành hạ trẻ con khi ta không có đủ nhà trẻ để trả lời thỏa đáng nhu cầu của các cha mẹ vừa có con nhỏ vừa phải đi làm ?

.

Dưới góc nhìn xã hội học, những hiện tượng kể trên có thể là những biểu hiệu của cả hai khái niệm loạn kỷ cương và lệch chuẩn.

.

.

Thí dụ 1: vấn đề loạn kỷ cương trong giáo dục ?

Hiện nay, số ngành nghề cần chuyên môn tăng đột biến nhưng giáo dục ta vẫn tiếp tục truyền kiến thức và cả truyền một số kiến thức hết giá trị vì không cập nhật. Lại truyền kiến thức theo những phương pháp sư phạm của quá khứ.

Kết quả, ta không đào tạo đúng với hoàn cảnh xã hội hay đúng với đòi hỏi chuyên ngành chuyên nghề của thị trường. Ta lại đào tạo theo phương thức lỗi thời, …

Đó có thể là một trong những nguyên nhân của bạo lực học đường, của học tủ, học đối phó, học để thi và luẩn quẩn, giá trị của đào tạo vì đó mà đi xuống thêm.

.

Ta thiếu gì ? Một triết lý giáo dục hợp thời, cấu trúc chương trình thích ứng, những phương pháp sư phạm có khả năng thực hiện triết lý giáo dục và nội dung chương trình. Đồng thời ta cũng cần áp dụng những mẫu liên hệ thầy trò hợp tình hơp lý. Hợp tình hơp lý ở đây có nghĩa là vừa giữ văn hóa tôn sư học đạo vừa tiếp cận những hiểu biết mới về tâm lý học trò và trào lưu dân chủ ở trường học.

.

Xem ra, chẳng phải ta đang ở vào tình trạng thiếu hay loạn kỷ cương mà Durkheim định nghĩa hay sao ?

.

Thí dụ 2: quá tải cơ sở hạ tầng và loạn kỷ cương trong giao thông ?

Số tai nạn giao thông với thiệt hại về nhân mạng là một vấn đề nhức nhối. Ta bắt đầu nghĩ tới vấn đề hạn chế vận tốc, chế tài các lái xe uống rượu, …nhưng khách quan mà nói, mật độ xe cộ giao thông trên đường vượt quá ngưỡng có thể chấp nhận được. Va chạm thành bất khả kháng. Khi một người ngã xuống đường, thiếu khoảng cách an toàn làm sao các phương tiện bên cạnh có thể tránh không cán lên người mới vừa bị ngã ? Thế không là anomique – thiếu kỷ cương – thì là gì ? Những hiện tượng đi kèm như bóp còi inh ỏi, chèn vượt trong giao thông, … là những lệch chuẩn cũng vì thiếu kỷ cương !

.

Ta cần gì ? Một thiết kế cơ sở hạ tầng và thiết kế đô thị với những tính toán thích hợp với nhu cầu hiện tại và tương lai đi đôi với giáo dục những người xử dụng các cơ sở hạ tầng ấy.

.

Thí dụ 3: lệch chuẩn hay vi phạm, thiếu đạo đức trong nếp sống ở thành phố ?

Điển hình là cướp giật, thiếu trách nhiệm trong vấn đề vệ sinh thực phẫm, thiếu tương trợ, hôi của, … Ở đây phải nói đến hiện tượng đô thị hóa ồ ạt. Hiện, năm 2012, 32% dân số Việt Nam là dân thành thị và con số này càng ngày càng tăng và ước tính tới năm 2030 thị dân sẽ chiếm 50% dân số.

Dân nhập cư ồ ạt như thế phải đối mặt với nhiều vấn đề: lao đao họ phải bỏ những thói quen đã được xã hội hóa từ nhỏ, họ vội vàng thích ứng với những điều kiện sống hoàn toàn mới lạ, trong những điều kiện vật chất nhiều khi rất khó khăn, lại ở trong một môi trường không còn những liên hệ và ràng buộc xã hội họ vốn đã có trước đó, …Xã hội đối với con người như «cá với nước» : mang một con cá ra khỏi môi trường nước, nó không chết thì cũng phải dãy dụa để sống còn. Người di dân, dù chỉ là di dân trong cùng một xứ sở, cũng thế – họ mất liên hệ xóm làng, thiếu sự đoàn kết giúp đỡ của người lân cận, khi tối lửa tắt đèn, xa gia đình thân thuộc. Bơ vơ giữa thị thành, lạ người, lạ cảnh, lạ cách sống, họ không thích hợp được cũng là dĩ nhiên thôi.

.

Ở đây, có thể rất cần những nghiên cứu như những nghiên cứu của trường phái Chicago cách đây một thế kỷ để tìm cách giải quyết vấn đề.

https://huynhmai.org/2013/07/09/truong-phai-chicago/

.

Tiền bạc, thực dụng, thiếu y đức… là những vấn đề khác và danh sách lệch chuẩn có lẻ còn dài, …

Thay lời kết ?

Bớt học hay bớt dạy hàn lâm không là một cách hoàn hảo để giải quyết sự tha hóa của giới trẻ.

Giới trẻ có tha hóa thực dụng, … là do quá trình xã hội hóa các em từ lúc các em mới chào đời. «Nhân chi sơ tính bản thiện» là câu nói của người xưa. Không em nào tha hóa lúc mới sinh ra. Xã hội học thì bảo rằng «con người là sản phẩm của xã hội». Ngắn gọn : trẻ tha hóa vì xã hội có vấn đề.

.

Nhưng tôi tin ở khả năng đối ứng của “sự khôn ngoan xã hội”. Các “chuẩn” sẽ kéo các lệch chuẩn về chính đạo và văn hóa như thế sẽ được bảo tồn.

Có cần phải thêm rằng Văn hóa là tổng thể những cách làm mà cộng đồng xã hội đã sáng chế ra để trả lời tốt nhất và để sống tốt nhất trong môi trường vật chất và xã hội ?

Từ định nghĩa này, văn hóa không phải từ trên trời rơi xuống, cũng không phải do một cơ quan quyền lực ấn định mà văn hóa đi từ dân tình trong bối cảnh thiên nhiên, địa lý, lịch sử, …. Cách sống, cấu trúc tổ chức và sinh hoạt xã hội, trật tự trên dưới, luật lệ và các giá trị phải tuân thủ, … cộng đồng tùy cơ ứng biến giỏi lắm – để sống chung với nhau và để trường tồn.

.

Để sống chung với nhau và để trường tồn là lời kết của bài này. Dạy trẻ thành trách nhiệm của cả toàn xã hội, từ lúc trẻ còn ở trong nôi cho đến lúc trưởng thành. Mà muốn trẻ không tha hóa, xã hội trước nhất phải đạo đức, trong sạch, tức là phải có kỷ cương và đúng chuẩn.

Vấn đề tái tạo kỷ cương và trừ lệch chuẩn cũng là một vấn đề cấp bách. Nếu không, lâu ngày, lệch chuẩn có khả năng thành chuẩn và chừng đó số mạng của xã hội có thể đổi thay.

Nguyễn Huỳnh Mai

 

.

 

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.