Skip to content

Góp ý cho Bàn tròn Học thế nào – Đổi mới SGK ?

Tháng Tư 19, 2014

 

Đổi mới trong giáo dục là một vấn đề không phải chỉ đặt ra cho nước ta mà cho tất cả các nước. Đổi mới thường xuyên. Đổi mới để tốt hơn, để hiệu quả hơn, để thích hợp hơn với tình cảnh xã hội và tình cảnh thế giới. Đổi mới để giáo dục không thành một khủng long ở thời @.

Đối với ta, đổi mới còn cấp bách hơn nữa vì giáo dục là một trong những cấu thành của phát triển.

Dĩ nhiên, để đổi mới một cách «hữu hiệu» – hữu hiệu được đặt trong dấu ngoặc vì nó có thể có nhiều nghĩa nhưng tạm thời ta dùng chữ hữu hiệu trong một nội dung khiêm tốn: hữu hiệu là làm những gì cấp bách nhất trong giới hạn khả năng hiện thời – phải biết một cách cặn kẻ tình thế và nhu cầu. Hai điều này nghe có vẻ đơn giản nhưng nhiều khi ta chưa biết một cách có ngọn có ngành. Rất cần một état des lieux (tức là một nghiên cứu về hiện trạng).

.

Tại sao bắt đầu bằng đổi mới sách giáo khoa hay đổi mới cách thi cử. Tức là hai đổi mới ta đang thực hành ?

Trong một chừng mực nào đó, cách làm của ta có thể hiểu được.

Thì cứ làm đi, để tạo đột phá – dù không lô-gích.

Thật vậy, theo lý thuyết, đánh giá, hay thi cử, là tùy theo cách dạy – đó là thành phần của đào tạo (để biết kết quả của đào tạo và để hoàn thiện, tiếp tục công trình đào tạo).

Sách giáo khoa cũng thế. Đó là một công cụ cho giáo dục. Sách giáo khoa vừa tải nội dung vừa «dịch» hay cụ thể hóa những phương pháp sư phạm. Thay sách giáo khoa là một công hai chuyện, thay đổi vừa nội dung các môn học vừa phương pháp dạy.

Thông thường thay đổi thi cử hay thay đổi sách giáo khoa lúc chưa thay đổi những … nền tảng, có thể là những thay đổi không cho kết quả chờ đợi.

.

Theo lô gích, muốn thay đổi, dĩ nhiên phải đi từ lý thuyết, từ cái tổng quát nhất cái nền tảng nhất.

a. Tại sao phải học và tại sao phải dạy ? Tức là muc tiêu và triết lý của giáo dục.

b. Phải học cái gì ? Nội dung chương trình

c. và cuối cùng Học thế nào ? Hay phương pháp sư phạm trong đó có sách giáo khoa.

Nhưng chia chương trình đã nằm trong phương pháp sư phạm nên hai giai đoạn chương trình và phương pháp sư phạm có thể đồng hành.

Như vừa nói trên, sách giáo khoa nằm trong phương pháp sư phạm, là một công cụ để dạy, giúp ta chuyển tải nội dung chương trình và là cơ sở cụ thể để học trò đở phải chép bài, …

.

Bắt đầu từ đây, xin dựa theo thứ tự các vấn đề nêu lên bởi gs Ngô Bảo Châu:

.

1. 2.3. Tại sao 10 năm phải đổi sách giáo khoa một lần? Ai đổi, …

Phải đổi sách giáo khoa vì phải cập nhật. Khoa học tiến bộ không ngừng, kể cả khoa sư phạm. Nhưng không hẳn 5 hay 10 năm một lần. Thay đổi khi cần, khi sách không còn up to date hay hợp thời.

Ở những nơi mà sách giáo khoa được chọn bởi trường học hay bởi giáo viên – vì chương trình chỉ là chương trình khung – thì sự thay đổi sách giáo khoa được làm … không kèn không trống… Khi thay đổi thì có thể chỉ thay đổi từng phần chứ không nhất thiết phải thay đổi toàn bộ sách giáo khoa.

Riêng bản thân người viết những dòng này, với quan niệm theo đó «không thể dạy một cách bất di bất dịch bất cứ điều gì, cho bất cứ ai, vào bất cứ hoàn cảnh nào, …» thành ra nội dung, phương pháp sư phạm, sách giáo khoa, … được chọn và thay đổi tùy học trò, tùy lớp và tùy thời gian, không gian…

.

4. Thay đổi chương trình trước hay thay đổi sách giáo khoa trước ?

Trong trường hợp chương trình chung ấn định và bắt buộc bởi Bộ Giáo dục, thì có lẻ sách giáo khoa phải được soạn và thay đổi tùy theo chương trình. Dĩ nhiên, giữa tập thể soạn chương trình và tập thể soạn sách giáo khoa có những liên hệ mật thiết.

Có thể thêm vào một diễn viên thứ ba: tập thể người đi dạy đứng lớp.

Kinh nghiệm những người này vô cùng quan trọng. Có thể tưởng tượng rằng tập thể những người đi dạy, đã dùng sách giáo khoa, bày tỏ góp ý về những ưu khuyết điểm của một sách giáo khoa nào đó hay của một chương trình nào đó. Vì giáo viên gần với học trò và thấu đáo hơn ai hết những như cầu và chờ đợi của học trò. Những feed back này rất quí giá, chúng thể hiện tiếng nói của cơ sở và từ cơ sở.

.

5. «Rinh về» và dịch sách giáo khoa nước ngoài ?

Tại sao không, nếu hợp tình hợp cảnh được với thực địa bên ta. Cho trường hợp các sách giáo khoa đã chứng tỏ giá trị khách quan của chúng. Chẳng hạn một số sách về Toán, về Vật lý Hóa học hay về Sinh học. Các sách về cổ ngữ nữa.

Ngày xưa những người thuộc thế hệ 1950-1970 ở miền Nam học Anh văn với Let’s learn English hay English for Today hay học Pháp văn với bộ sách Langue et civilisation française của Mauger, hoàn toàn không có vấn đề.

Nhưng cho các môn về văn chương và khoa học xã hội có lẻ là phải suy nghĩ khác.

.

6. Cần thay đổi gì nhất trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành?

Câu hỏi có vẻ giản dị nhưng khó trả lời vô cùng vì cần nghiên cứu nhiều yếu tố trước khi trả lời. Lại không có một câu trả lời duy nhất cho tất cả các chương trình hay sách giáo khoa, cho tất cả các độ tuổi và tất cả các vùng miền.

.

Chỉ xin có vài ý đơn lẻ:

a. Ít nhất là cho trẻ 6-12 tuổi, ở bậc Tiểu học, cần phá vở các ranh giới giữa các môn học và khai thác các chủ đề một cách tổng hợp. Các hiện tượng ở chung quanh các em là những tổng thể chứ không phải là sinh học, toán học, sử học… Như vậy cụ thể hơn, dễ tiếp cận hơn và dễ nhớ lâu hơn cho các em – học để biết và học để làm ấy mà.

b. Cho thêm, và vấn đề này tối quan trọng, giáo dục môi trường xã hội (éducation hay éveil à l’environnement social) ở tiểu học hay xã hội học (sociologie) vào chương trình trung học để các em thêm khả năng giải mã các hiện tượng của môi trường và để các em sống chung với nhau – một trong những chủ đích mà UNESCO đề ra.

Kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, Facebook, quảng cáo, truyền thông tiếp thị, …những hiện tượng như thế ta không chuẩn bị cho các em thì trông cậy vào ai khác ?

c. Tập tành cho các em, từ lúc còn rất nhỏ, ngay ở trường mẫu giáo, những cách tiếp cận «khoa học» là gieo mầm nghiên cứu khoa học, là chống tiên kiến, là ngừa kỳ thị, …Cụ thể, cách trình bày và nội dung của từng chủ đề trong các sách giáo khoa phải khoa học và có dẫn chứng.

d. Đem giáo dục đạo đức vào chương trình. Bình đẳng xã hội, bình đẳng giới tính, tự do, dân chủ, … Không dưới dạng những bài học khô cứng mà bàng bạc qua cách khai thác bất cứ đề tài nào.

e. Giao cho giáo viên một «vùng tự do co giản» trong nội dung, trong phương pháp, … để tùy cơ ứng biến áp dụng sách giáo khoa và chương trình theo sở trường của mình và theo nhu cầu của học trò. Rộng hơn nữa, và điều này nằm trong «phương pháp» sư phạm, đề cao những liên hệ bình đẳng giữa thầy và trò – vì áp đảo trong giáo dục là phản giáo dục.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Giáo dục

Đã đóng bình luận.