Skip to content

Giảng Bourdieu cho học sinh trung học (2) ?

Tháng Năm 20, 2014

Parler de Bourdieu aux lycéens (2e partie)

.

Xin xem phần đầu ở đây:

https://huynhmai.org/2014/05/17/giang-bourdieu-cho-hoc-sinh-trung-hoc/

.

Sau các vốn, cũng đựa trên phim chiếu lúc đầu buổi, trò và thuyết trình viên đi sâu vào những chi tiết tế nhị hơn nhưng chúng … tố cáo sự khác biệt giữa ba gia đình trong phim – sự thanh cao tao nhã và quan niệm về cái đẹp

Thế nào là thanh cao tao nhã ? Biết thưởng thức âm nhạc thính phòng, đi viếng các Bảo tàng, nghe hòa nhạc, đi xem kịch xem hát, …

Nói về cái đẹp thì quan niệm của mỗi người mỗi khác. Thành ngữ Pháp bảo rằng les goûts et les couleurs, chacun son avis et ça ne se discute pas (quan niệm về sở thích và màu sắc, mỗi người mỗi ý, không bàn luận được).

Cái thanh cao tao nhã theo nguyên tắc thì cũng thế .

Nhưng đúng ra, xã hội định nghĩa thế nào là thanh cao tao nhã, thế nào có gu về cái đẹp 

Xã hội ở đây là tầng lớp thống trị. Tầng lớp thống trị ngày xưa là các vua chúa và nhà quí tộc. Ngày nay, theo các nghiên cứu của Bourdieu, là giai cấp những lảnh đạo xí nghiệp và các người hành nghề tự do như bác sĩ, kỹ sư, luật sư, …

Thật vậy, những người này, ăn mặc thì theo cái đẹp kín đáo, cũng kín đáo nhắc cho người đối diện bởi một chi tiết nào đó thể hiện “giá trị” kinh tế của áo quần (vải tốt, may cắt sắc sảo, …) chứ không cần lòe loẹt phô trương.

Trong dấu ngoặc điều này giải thích tại sao các loại túi xách hàng hiệu chỉ lôi cuốn những “trưởng giả học làm sang”, những người mới giàu chứ không lôi cuốn những người thanh cao tao nhã theo định nghĩa của Bourdieu. Họ kín đáo hơn. Xe hơi cũng không là một biểu tượng của giàu có, đối với tầng lớp thống trị.

Phép lịch sự là một thanh cao tao nhã khác. Đó là cách nói không ồn ào mà từ tốn nhỏ nhẹ, biết nghiêng mình chào người khác, biết phải bắt tay thế nào, biết cách lên xuống xe, biết xử sự lúc ăn, …

Rốt cuộc sự thanh cao tao nhã tùy thuộc vị trí và giai cấp xã hội. Và tùy thuộc cái vốn văn hóa mà ta được môi trường sống rèn tập từ lúc mới chào đời (dân có giáo dục, để nói một cách nôm na !).

.

Còn tập tính là gì ?

Những thói quen. Những cách  hành xữ. Cách ăn cách nói cách gói cách mở như kiểu bên ta dạy (học ăn, học nói, …).

Tập tính là những gì ta được dạy từ lúc còn ở trong nôi. Đến nổi chúng thành một loại “bản năng”, “phản xạ”, một lớp da thứ nhì – seconde peau – nó dính vào thân, ta không quên được. Tổng thể các tập tính tạo thành kiểu sống, style de vie. Mà kiểu sống “tố cáo” nguồn gốc xã hội của cá nhân. Cứ nhìn kiểu sống của X hay Y, ta có thể đoán được giai cấp của ông hay bà đó.

Từ các nghiên cứu về cách sống,  Bourdieu vẽ ra bản đồ chi tiết về các sinh hoạt từ cách ăn ở, bài trí nhà cửa, chỗ đi nghỉ hè tới các sở thích âm nhạc,… chung chung của các giai tầng và dân các ngành nghề khác nhau trong xã hội.

.

Các vốn, sự thanh cao tao nhã, các tập tính, … nói trên ta có được nhờ thừa hưởng của gia đình, nhờ sự xã hội hóa đầu tiên mà diễn viên chính của sự xã hội hóa đầu tiên này chính là gia đình.

.Xã hội hóa là tất cả những phương thức nhờ  đó một cá nhân tập tành nếp sống với người khác trong xã hội, thực hành các luật lệ và các giá trị đạo đức của xã hội ấy.

.

Gia đình cho ta vòng tay yêu thương ấp ủ, đã đành rồi, nhưng trên bình diện xã hội, gia đình cho ta một cái tên gọi. Lúc chưa là cô hay cậu X, Y, bác sĩ hay kỹ sư, …ta là con của ông A hay bà B. Vai trò con của A hay B đã cho ta một vị trí . Từ gia đình, ta thành con nhà giàu hay con nhà nghèo, trưởng giả hay con thợ thuyền. Một số người sau này vượt qua được số phận mà làm nên sự nghiệp nhưng nhiều nghiên cứu, trong đó có những nghiên cứu của Bourdieu cho thấy là vị trí xã hội của gia đình định đoạt phần lớn tương lai của mỗi một trong chúng ta. Vai trò lớn nhất của gia đình là vai trò xã hội hóa trẻ, giúp trẻ tập tành sống với người khác và cho trẻ những mẫu làm người. Gia đình “dạy” trẻ những thứ ấy một cách rất nhẹ nhàng qua tiếp xúc, qua mẫu cha mẹ cho con, với thương yêu, … Trẻ còn nhỏ, “học” những khuôn mẫu của cha mẹ rất nhanh. Lại thêm vào đó cái khuynh hướng tự định nghĩa mình theo nề nếp của cha mẹ. Quá trình xã hội hóa của gia đình có kết quả cao và …”con giống cha, nhà có phúc” (đúng ra, thành ngữ đó là “con hơn cha, …).

.

Xã hội Âu Mỹ có một mệnh lệnh giả tạo theo đó chỗ đứng tốt trong xã hội được dành cho những người tài, bất kể nguồn gốc gia đình (xã hội theo giá trị của cá nhân – méritocratie – ). Thực tế thường không như thế. Những trường hợp báo chí nêu lên thường chỉ là những ngoại lệ.

.

Nhưng khả năng là gì và thế nào là “có tài” ?

Có thể nói là khi sinh ra tất cả trẻ đều bình đẳng. Bình đẳng ở chỗ là trẻ sơ sinh không thể tự bươn chải để sống như một động vật khác (sinh ra là đã có thể đứng vững trên bốn chân và chạy nhảy). Trẻ cần có gia đình nuôi. Nhưng trẻ có tiềm năng lớn hơn bất cứ con thú nào. Nhất là tiềm năng trí tuệ. Xin ngừng nói gen thông minh là di truyền. Về vấn đề tiềm năng thông minh, ta rất bình đẳng nhau lúc mới chào đời. Nhưng thông minh “nhiều” hay “ít” sau này là do môi trường có “khai thác” và “giúp” ta phát triển các tiềm năng ấy hay không.

(các chữ trong dấu ngoặc đôi chỉ là một cách nói ngắn gọn. Thực tế tế nhị hơn và cần được giải thích dài dòng hơn. Xem thêm ở đây chẳng hạn Jacquard A., Cinq milliards d’hommes dans un vaisseau NXB Seuil, 1998).

Bourdieu đã minh chứng trong La reproduction sociale là vị trí xã hội ta sẽ do vị trí của cha mẹ ta quyết định. Cái kiểu “con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa đi quét lá đa”. Dĩ nhiên có những trường hợp ngoại lệ. Cách quyết định của vốn xã hội có lẻ không cần phải chứng minh nữa.

Michel Schiff, trong một nghiên cứu xuất bản năm 1982 cũng cho những kết quả tương tự (L’intelligence gaspillée, NXB Seuil).

Raymond Boudon có những kết luận khác đi ít nhiều. Theo Boudon, chủ thể có thể thay đổi vận mệnh của mình và tùy theo liên hệ hổ tương giữa chủ thể và  hoàn cảnh (La logique du social, NXB Hachette).  Nhưng vấn đề này thuộc một đề tài khác.

.

Thế là các vốn ta thừa hưởng từ gia đình. Mới sinh ra, trẻ đã thừa hưởng gia tài của cha mẹ, là con nhà giàu hay con nhà nghèo như đã nói ở trên. Đó là  hiện trạng dễ hiểu nhất. Cha mẹ truyền cho con vài vốn sinh học (màu da, màu mắt, màu tóc, nhóm máu, ADN, …) và một chỗ đứng trong xã hội. Nhưng bên cạnh đó, ngôn ngữ, truyền thống, cách ăn ở, cư xữ  với người khác, quan niệm sống, đạo đức ở đời, …vốn văn hóa và vốn biểu tượng này quan trọng vô cùng.

.

Từ đó, vì trẻ được xã hội hóa bởi gia đình cho các vốn văn hóa, vốn biểu tượng nên nhiều bất bình đẳng bắt nguồn từ đó.

.

Trường học có thể can thiệp để bình đẳng hóa các vốn về văn hóa và biểu tượng cho tất cả học trò ?

.

Câu trả lời rất dè dặt: trong chừng mực nào đó, trường học can thiệp trể, chỉ là sự xã hội hóa thứ nhì, tức là ít có hiệu lực hơn sự xã hội hóa đầu tiên, đi từ gia đình.

.

Thứ đến, chính trường học lại dùng văn hóa thống trị – culture dominante – văn hóa của tầng lớp ăn trên ngồi trước (ngôn từ trừu tượng, văn chương hội họa và âm nhạc thính phòng, …). Thế nên trẻ con nhà giai cấp “cao” cứ thể như cá trong nước, văn hóa ở trường và văn hóa gia đình giống nhau, chúng thành công tốt ở trường. Trong khi đó, những trẻ khác phải tập tành làm quen với một “văn hóa lạ” mà gia đình các em không thực hành và các em chưa bao giờ được tiếp cận trước đó. Các em gặp nhiều khó khăn hơn.

.

Có những em thành phần “khiêm tốn” thành công ở trường. Và thành công tốt. Nhưng về vĩ mô mà nói, tỉ lệ trẻ sinh ra ở giai cấp “khiêm tốn” thành công tốt ở trường không cao.

Điều đó chứng tỏ rằng trường học thất bại trong công cuộc bình đẳng hóa các em.Chẳng những thế, trường học, vô hình chung, còn là một công cụ chính thống hóa (légitimer) sự áp đặt của văn hóa thống trị.

Bourdieu cũng đã minh chứng sự kiện này trong công trình La reproduction sociale ông viết cùng với Passeron.

.

.

Kết luận nào cho các khái niệm của Bourdieu ?

.

Phần thứ nhì của buổi thuyết trình rất khó được các học sinh 15 – 18 tuổi chấp nhận. Vì nội dung nằm trong những điều cấm kỵ. Bất bình đẳng về văn hóa là một đề tài tế nhị : trên bình diện tâm lý, đối với những em xuất thân từ giai tầng khiêm tốn,  các phân tích này không khác nào làm việc “khứa dao vào một vết thương” (mettre le couteau dans la plaie) và có thể làm cho các em khổ sở . Cuối cùng, nhấn mạnh đến vai trò của gia đình là một việc tế nhị đối với các em ở vào độ tuổi chưa thoát ly gia đình nhưng đã muốn tự lập và hết lệ thuộc vào cha mẹ.

Nhưng  ta có thể cho vài biện minh để các em thấy sự cần thiết của các khái niệm này:

.

Thứ nhất, biết được các cơ chế, bộ máy sinh hoạt của xã hội giúp ta ý thức được để nắm vững số phận và tìm cách, nếu cần, thoát số phận. Chính bản thân Bourdieu đã có một mặc cảm tự ti rất lớn vì xuất thân từ một gia đình khiêm tốn – cha ông vốn là người phát thư – và ông nói tiếng Pháp với giọng của tỉnh nhỏ (ông đã bỏ ra nhiều thời gian để tập nói như người sống ở Paris).

.

Thứ nhì, La distinction của Bourdieu đi từ một nghiên cứu của những năm 1960. Từ đó đến nay, “nhiều nước đã chảy dưới cầu”, xã hội có nhiều thay đổi, dù một số điểm còn cố định.

.

Điều thứ nhì này được đón nhận như một viễn ảnh cho hi vọng và buổi nói chuyện đã kết thúc trong sự thoải mái của các em.

Nhất là sự thoải mái này được cộng vào niềm hảnh diện đã lĩnh hội được vài khái niệm của Bourdieu để hiểu được rằng trong một xã hội tự cho là bình đẳng, thế nhưng vẫn có những người … bình đẳng hơn so với người khác

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.