Skip to content

Văn hóa đối xử Tây Âu ?

Tháng Sáu 17, 2014

La culture occidentale ?  Une question qu’on me demande souvent. Sans doute parce que beaucoup de stéréotypes sont véhiculés au Vietnam.

Ici, je reprends pratiquement le contenu d’une leçon de trois heures que j’ai donnée à mes élèves

.

Lời nói đầu

Trình bày về văn hóa đối xử Âu Tây trong một bài ngắn không giản dị :

.

1. Chỉ riêng ở châu Âu, có nhiều khác biệt : dân Bắc Âu, ở Thụy điển hay Phần Lan không cư xử như người miền Nam, người Ý hoặc người Tây ban Nha. Văn hóa Pháp khác văn hóa Đức, đó là chưa nói đến trường hợp của người Anh : vị trí địa lý ở đảo riêng thành ra lối sống và cách đối xử của họ cũng khác. Ngay trong một nước như Pháp, dân Breton ở miền Bắc có nhiều nét văn hóa khác dân Auvergnat ở miền Nam : trong ngôn ngữ chẳng hạn, nhiều khi họ không hiểu nhau dù nói cùng một thứ tiếng (vì những từ địa phương và giọng nói đặc thù).

.

2. Nước Bỉ, chỉ có 10 triệu dân, nhưng dân ở miền Nam thuộc văn hóa và ngôn ngữ Pháp, dân miền bắc thì thấm nhuần văn hóa Hà Lan có gốc Đức, nói tiếng Hà Lan. Trong mười triệu dân Bỉ, trên một triệu là dân nhập cư (nếu kể cả những người mang quốc tịch Bỉ nhưng gốc nước ngoài thì con số này vượt quá 3 triệu tức là khoảng 30% dân số) từ nhiều nguồn gốc, tạo ra nhiều ảnh hưởng hổ tương, có những gia đình gồm nhiều quốc tịch gốc khác nhau. Với tác dụng của toàn cầu hóa thêm vào, nhiều món ăn mới xa lạ trở thành “cơm bữa” của người Bỉ : pizza, pita, couscous, chả giò, tôm chiên bột, gà nấu cà ri, … Và ngay đến trong ngôn ngữ, các chữ như “nem”, “nước mắm”, “nhà quê” của tiếng Việt, bên này ai cũng hiểu và trăm ngàn chữ từ các thứ tiếng khác . Chưa đến nổi thành văn hóa “hiệp chủng” như nước Mỹ nhưng không ai dám nói và viết về một văn hóa thuần Bỉ.

.

Mặt khác, văn hóa tại Bỉ cũng như bất cứ một văn hóa của vùng nào khác không phải bất di bất dịch mà luôn thay đổi, bởi những lý do nội tại cũng như những lý do từ bên ngoài mang đến. Giá trị của bài viết này bị giới hạn đó.

.

3. Lại không có một văn hóa đối xử mà có nhiều cách xử sự của từng giai cấp khác nhau. Cùng là người Bỉ – nghĩa là không nói đến thành phần dân nhập cư – người trưởng giả không sống, ăn nói và đối xử như giai cấp trung lưu hay thợ thuyền. Từ khoảng ba mươi năm nay, thành phần giai cấp không còn rỏ rệt như xưa, các nhà xã hội học từ bỏ khái niệm giai cấp và thay vào bằng “những nhóm xã hội” khác nhau theo nghề nghiệp – văn hóa của các nhóm này mang nhiều điểm đặc thù của nhóm…

.

4. Trình bày về văn hóa cũng phải đặt giới hạn và chủ đích của mình :

a. để hiểu về văn hóa người hầu nhìn lại ta và từ đó, thu thập, như thế “biết người biết ta “?

b. chỉ để đủ xoay sở trong một chuyến du lịch hay cho những bước đầu khi mới đến nước người cho bớt bở ngở ?

.

Bài này thiên về chủ đích thứ nhất. Nhưng sơ sài như một cái khung văn hóa để hình dung những chi tiết tiếp theo. Tôi sẽ phân tích văn hóa tạm thời gọi là Âu Tây xuyên qua bốn tầng khác nhau

. những biểu hiện cụ thể và cách cư xử hàng ngày

. những qui ước xã hội

. những giá trị chung của xã hội

. những điều tuyệt đối cấm kỵ và thế giới của đạo đức

.

Cấu trúc của bốn tầng này liên hệ chặt chẻ với nhau. Hệ thống đạo đức xã hội được qui ra thành nhiều giá trị chung, từ đó xã hội đặt ra những “luật lệ” cụ thể, … các thành viên trong xã hội cư xử với nhau trong bối cảnh ấy.

.

Phân tích như thế được cái ích lợi trước mắt là ta sẽ hiểu rỏ hơn để tránh kiểu hợp lưu văn hóa phiến diện mà điển hình nhất là trường hợp một số phụ nữ Á châu ăn mặc như kiểu những “người đàn bà dễ dãi” vì tưỡng rằng như thế là theo thời trang Âu Tây.

.

5. Bài này tránh trừu tượng, không dài dòng với những định nghĩa lý thuyết mà cái chính là dựa trên nhiều thí dụ cụ thể để dễ tiếp cận và dễ thấy những ứng dụng hay so sánh cần thiết với những mẫu văn hóa khác, … Tôi cũng không bàn đến các tác giả và những lý thuyết của họ về văn hóa. Cuối cùng, tôi cũng không nói đến những hiện tượng xâm phạm văn hóa hay những trường hợp phi văn hóa.

.

.

Tầng 1 : Vài cách cư xử hàng ngày

.

Văn hóa là những phương thức hay cách làm mà cộng đồng xã hội đã sáng chế ra để trả lời một cách hửu hiệu nhất thích ứng nhất cho  một hoàn cảnh nào đó.

.

Thí dụ cổ điển và giản dị ? Tây dùng dao nĩa trong khi ta dùng đũa để ăn.

Làm sao dùng đũa được khi thịt chưa được cắt nhỏ từ trong bếp và các món ăn được bày trên đĩa chứ không trong chén.

.

Đưa thí dụ này tôi cũng muốn nhấn mạnh ở chỗ các văn hóa khác nhau – vì hoàn cảnh khác nhau nên cách làm khác nhau – nhưng không có văn hóa nào hay hơn, khôn hơn hay cao hơn văn hóa khác. Nói rằng các bà mẹ Pháp dạy con hay hơn các bà mẹ Mỹ hay ngược lại là một điều không có căn cứ.

.

Ta đi qua vài thí dụ nữa :

Xin chúc một ngày đẹp …

Dù không cúi rạp 90 độ như người Nhật bản hay người Hàn quốc, một trong những chi tiết làm du khách ngạc nhiên trong liên hệ xã hội hàng ngày tại Bỉ là lời chúc một ngày đẹp và thăm hỏi sức khỏe, như cái cầu nối đầu tiên của liên hệ xã hội : lên xe buýt, gặp ông phát thư, và dĩ nhiên khi gặp người láng diềng, bạn đồng nghiệp, bà con trong gia đình, cha mẹ hay thầy cô ở trường. Lớn nhỏ đều chào nhau, bắt tay nhau hay kề má hôn nhẹ.

Hình thức tải nội dung. Tiếng chào và hỏi thăm sức khỏe gần như là máy móc, nhiều khi người ta không chờ đợi câu trả lời nhưng “tiếng chào cao hơn mâm cổ” hàm chứa ý tôn trọng người đối diện và để bắt đầu liên hệ.

.

Xin lỗi, cảm ơn, xin vui lòng

Trẻ con được dạy ba tiếng đó như những “chữ thần diệu” , từ lúc lên hai lên ba, không nói những mots magiques  cần thiết ấy thì có dậm chân khóc thét thì cha mẹ cũng làm ngơ … Kết quả về lâu về dài thành : đưa tiền cho cô thu ngân cũng nói “xin vui lòng nhận”, trò đưa bài làm xong cho thầy cũng được thầy “cảm ơn” và ai cũng “xin lỗi” khi phải đi qua bên cạnh hay vượt qua người khác (dù không đụng họ, tôi cũng đi sát vào “vùng lãnh thổ” hay là “vùng bình an” của họ).

Áp dụng thử điều này trong giao thông ở các thành phố lớn bên nhà, ta sẽ … tạo ra những bản đồng ca vĩ đại “xin lỗi” “xin lỗi” “xin lỗi” “xin lỗi” … trên đường phố suốt ngày ! Xin lỗi, lại chữ thần diệu đó, tôi chỉ đùa tí thôi. Rối loạn giao thông vì đường phố quá tải thậm tệ, đi bừa hay leo lên lề là “sáng chế” của dân ta trong tình cảnh đó – không hẳn là lỗi của họ đâu .

.

Xin hẹn và đúng giờ

Trong danh sách những điều “lý thú” của văn hóa ứng xử Âu Tây, ta hay nêu lên việc cha mẹ muốn đến thăm con cũng phải xin hẹn – xin suy nghĩ một phút : dù là con cái thật đấy nhưng xin hẹn là một vấn đề thực tiển : không báo trước, chúng bận việc, vắng nhà, ta có đến mất công tốn thì giờ, mệt nhọc cũng chỉ có cổng kín then gài, không ai đón tiếp. Công nghiệp nó bắt buộc thế ấy chứ không phải con thất lễ hay không tôn trọng cha mẹ.

.

Đúng hẹn cũng nằm trong trường hợp đó. Vì những bó buộc của sinh hoạt thời hậu công nghệ nên phải thế. Xe bus và xe lữa cũng đúng giờ. Năm rồi ở Bỉ chỉ có 4% xe lữa trể giờ và trung bình chỉ trể 5 phút – thế mà các tổ chức người đi tàu hỏa cũng bắt hảng xe đền bù thiệt hại.

.

Những chuyện “dân cần quan trể” không hiện hữu ở Bỉ. Quan cũng phải đúng giờ, nếu rủi đi trể thì phải … xin lỗi

.

Lịch sự ở các công sở và trong giao tiếp với những người … có quyền

.

Bác sĩ tận tụy nghe chuyện bệnh nhân (theo một nghiên cứu gần đây, thời gian dành cho mỗi bệnh nhân chao từ 15 đến 45 phút, tùy theo chuyên khoa và tùy bác sĩ). Ở Bỉ, mật độ của số cung y tế là 1 bác sĩ cho 241 người dân.

.

Cảnh sát không nói to tiếng với phạm nhân, thẩm phán công tâm thi hành bổn phận (cũng có những phiên trực y như bác sĩ vì nhu cầu phải như thế – có thành ngữ nói rằng “nếu mèo vắng nhà, chuột sẽ tha hồ nhảy múa”, hoặc “trời tối thì chó sói sẽ xuất hiện” kẻ gian có thể hành động bất cứ lúc nào nên thẩm phán cũng phải trực!). Quan hệ là quan hệ kỷ thuật, nghề nghiệp chứ không phải là quan liêu hay tình cảm. Về tuyệt đối không là quan hệ quyền lực.

.

Giáo sư, giáo viên có bổn phận phải chứng minh cách chấm điểm của mình, trả lời thư điện tử của học trò khi chúng gặp khó khăn hay không hiểu bài, …

.

Thêm một truyện cụ thể : hôm qua, tôi ra Toà thị sảnh của thành phố để xin hộ chiếu, nhân viên ở đấy đã niềm nở tiếp đón tôi, tận tình chỉ dẫn chỗ cho tôi đi chụp hình, còn hỏi thăm tôi định đi đâu và nói đùa giởn chơi một cách thân mật trong lúc chờ bản in. Mười lăm phút với bà ấy tôi thoải mái. Thủ tục hành chính rườm rà, khổ lắm rồi, tại sao không biến chúng thành “nhẹ nhàng” hơn tí ? Những “chất lượng thêm vào” ấy không làm mất thì giờ mà gây dễ chịu hơn cho mọi người.

.

Công nhân viên thường phải theo học những khóa về giao tiếp khi nhiệm vụ của họ phải tiếp xúc với người khác. Nghĩa là những cái “nhẹ nhàng” “lễ phép” “vui vẻ phục vụ” ấy không hẳn là tình cảm mà có thể chỉ thuần “kỷ thuật”.

.

Phân chia công việc trong nhà

Trong đại đa số gia đình ở Bỉ, hiện nay bà mẹ quản lý ngân quỷ, cha và mẹ cùng nhau làm việc nhà (mẹ 60-65% tổng lượng việc nhà, cha 35-40% ), các con và cha mẹ có những liên hệ đa dạng (tình cảm, kinh tế, có kính nể nhưng có tôn trọng hổ tương và dân chủ – quyền của trẻ em được nhìn nhận từ 20 năm nay -). Đại đa số trẻ con không làm việc nhà nhưng có thể tự “lo cho mình” rất sớm : xếp gọn đồ chơi, từ bé dọn phòng riêng của mình từ tuổi đi học, đánh giày và mang áo quần dơ bỏ vào máy và dĩ nhiên tự làm bài học chứ ít nhờ cha mẹ.

.

.

Bạo hành với phụ nữ và bạo hành với con trẻ

Hiện tượng này vẫn còn, nhưng định nghĩa của bạo hành rất rộng. Không phải chỉ bạo hành thể xác mà đối xử “nặng” với phụ nữ hay với trẻ con về tinh thần, áp đảo, gây lo sợ, bất an cũng không được bạo hành tâm lý, bạo hành xã hội – trong đấu ngoặc dạy con kiểu Mẹ hổ bên Mỹ có nhiều chi tiết gần giống như bạo hành tinh thần . Trong định nghĩa rộng như thế thì ở Bỉ có khoản 5-10 % phụ nữ và trẻ em khai là nạn nhân của bạo lực gia đình (Như thế là ít vì theo Tổ chức Y tế Thế giới OMS, số phụ nữ và trẻ con bị bạo hành, tùy theo vùng lãnh thổ, lên tới từ 15 đến 70% – cũng theo định nghĩa rộng).

.

Nhà ở

.

Có một thành ngữ bảo rằng “người Bỉ có viên gạch trong bụng” : hơn 70% dân Bỉ là chủ của nhà họ, phần lớn là nhờ vay trả góp trong 20-30 năm – làm chủ của ngôi nhà mình giúp bảo đảm yên ổn và độc lập . Nhà ở là thành lủy của thế giới riêng tư để họ có thể sống cho cá nhân và sinh con đẻ cái, nuôi dạy trẻ, …là nơi của liên hệ thuần tình cảm. Thông thường mỗi thành viên trong gia đình có phòng riêng, cha mẹ trước khi vào phòng con cũng gỏ cửa, tôn trọng thế giới riêng của con và đồng thời tập cho con học tính tự lập, được kính trọng và phải kính trọng người khác.

Luật pháp bảo vệ sự bất khả xâm phạm của nhà riêng.

.

Môi trường làm việc

.

15% người trong tuổi đi làm (18-65 tuổi) thất nghiệp. Số nghỉ hưu cũng cao vì dân Bỉ già (30% dân số đang nghỉ hưu). Nhưng thành phần còn lại thì đi làm. Văn hóa đối xử tại công tư sở là tùy theo văn hóa đặc thù của mỗi nơi, tùy kích thước của xí nghiệp. Công nhân viên được bảo vệ bởi luật pháp, bởi giao kèo lao động và bởi nghiệp đoàn. Dù là không hạnh phúc như ở thiên đường. Thế nhưng

. nhân viên làm 37 giờ mỗi tuần, 5 tuần nghỉ hè mỗi năm và tối thiểu 13 tháng lương chứ không phải 12 mỗi năm

. nếu thất nghiệp thì có phụ cấp thất nghiệp từ 500 euros/th đến 1000euros tùy hoàn cảnh gia đình

. lương công nhân viên theo những bảng lương được công báo thường xuyên bởi nghiệp đoàn, báo chí, lương tối thiểu hiện nay khoản 1400 euros/tháng.

.

Công nhân viên rất đoàn kết để bảo vệ quyền lợi nhau – không phải vì tình nghĩa, nhưng cái chính là thông qua tổ chức nghiệp đoàn – sẳn sàng đình công chẳng hạn khi một đồng nghiệp bị sa thải vì một lý do không chính đáng.

.

Tầng 2 : Một vài … qui ước xã hội

.

Tuyên ngôn Nhân quyền (1948), nam nữ bình quyền (dần dần từ 1968), Qui ước quyền của trẻ em (1990)

.

Đó là ba “luật xã hội” quan trọng nhất, nền tảng của mọi giao tiếp. Kính trọng người khác và tự trọng. Những qui ước này đã mất cả một thế hệ để từ từ được áp dụng trong cách đối xử giửa những thành viên xã hội.

.

Ngoài ra có những qui ước về cấu trúc và về sinh hoạt ảnh hưởng đến cách giao tế xã hội như gia đình hạt nhân, đạo đức của một số nghề nghiệp, …

.

Gia đình hạt nhân

.

Gia đình hạt nhân là một nhóm chỉ gồm một cặp vợ chồng và những con cái còn độc thân. Gọi là hạt nhân vì chỉ có một cặp vợ chồng. Cấu trúc gia đình này phổ thông trong xã hội Bỉ từ hơn 60 năm nay (2 thế hệ) và là hình thức thích hợp với cá nhân nhất. Cơ sở hay nền tảng của xã hội, gia đình rất quan trọng, là chỗ tựa của con người, giúp thỏa mản những nhu cầu căn bản và nhất là nhu cầu tình cảm.

.

Gia đình hạt nhân tránh được những xung đột giữa các thế hệ, giải phóng phụ nữ (giúp họ tự do và bình đẳng với chồng hơn) nhưng làm mất đi sự tương trợ của gia đình lớn và gây ra tình trạng cô đơn của người già.

.

Hai hiện tượng hiện đe dọa hình thức cấu trúc của gia đình hạt nhân:

. dân Bỉ cũng như dân châu Âu nói chung, càng ngày càng ít kết hôn mà sống chung không cần hôn lễ hay giá thú,

. số ly dị cao 508/1000 cặp, tức là hơn một cặp trên hai. Còn số chia tay nhau trong những cặp không cưới hỏi thì không có thống kê.

Tức là trong tương lai, có thể cấu trúc gia đình hạt nhân sẽ từ từ bị cạnh tranh bởi những người sống riêng lẻ, chỉ gặp nhau theo những «qui ước» nhất định. Hiện tượng mà các nhà xã hội học gọi là các cặp sống ở hai nhà (couple duo-locaux).

.

Đạo đức của một số nghề nghiệp :

Các ngành như y, luật, tòa án, cảnh sát, giáo dục, … có các hội đồng giám định của ngành nghề chăm lo về đạo đức riêng của nghề nghiệp. Ngoài ra, ảnh hưởng của thiên chúa giáo trong quá khứ với những giáo điều như “không làm cho nguời khác những gì ta không muốn người khác làm cho ta” hoặc lòng nhân ái như cơ sở của đạo làm người (đến bây giờ các cơ sở công giáo vẫn là những cơ sở có nhiều cấu trúc từ thiện nhất hoàn cầu).

.

Ngành y còn có hội đồng lương tâm lo cho những vấn đề triết lý liên hệ đến sự sống, cái chết và những can thiệp về di truyền và sinh sản, …

.

Ngành báo chí cũng vậy : tự do báo chí tuyệt đối nhưng người làm báo tự kiểm duyệt. Hội đồng các phóng viên là cơ quan bảo vệ những “ranh giới không được vượt qua” và đóng vai trò giáo dục/chế tài những thành viên của hội đồng.

.

Tiến bộ của khoa học, nhất là khoa học xã hội, luật và tâm lý học, cũng góp phần không nhỏ làm cho giao tiếp tốt hơn. Chẳng hạn, những nghiên cứu về liên hệ giửa thầy và trò vốn là một liên hệ áp đặt giửa người mạnh và có quyền (thầy) và người yếu, non nớt và kém hiểu biết (trò) đã giúp cho những người trong cuộc ý thức hơn về sự bất bình đẳng ấy và tìm cách thay đổi. Những nghiên cứu xã hội học hay tâm lý học về liên hệ giửa bác sĩ và bệnh nhân cũng giúp cho những kết quả tương tự.

.

Một cách lý thuyết hơn, vì sự phân công của xã hội nên có nghề này, nghề khác. Không phải vì tôi có cái nón cảnh sát, cái áo đen thầm phán hay cái áo khoác trắng của bác sĩ mà tôi có quyền áp đảo người đối diện trong khi những người này đóng thuế để trả lương tôi. Chế độ phong kiến đã bị Cách mạng 1789 lật đổ : 3 thế kỷ đã đủ để xóa bỏ những cách đối xử dựa trên quyền lực.

.

An ninh và bảo hiễm xã hội

Bỉ có một trong những tổ chức an ninh xã hội tốt nhất thế giới để bảo đảm một cuộc sống đàng hoàng cho tất cả mọi người. Quỷ bảo hiễm an ninh xã hội có ba nguồn tài trợ :

. chính phủ (từ thuế, thuế ở Bỉ nặng, đến 50% lợi tức cho những lợi tức cao)

. chủ nhân

. người đi làm (14,5% lương)

.

Bảo hiểm hưu trí, thất nghiệp, tai nạn lao động, sức khỏe, phụ cấp cho các gia đình có con cái… cho tất cả mọi người.

Món nợ của quốc gia Bỉ to nhưng Bỉ không hi sinh chế độ bảo hiểm xã hội dù đó hiện là một gánh nặng lớn cho ngân sách.

An ninh xã hội làm cho dân tình thoải mái hơn trong giao tiếp hàng ngày. Thoải mái đến nỗi ít ai nói chuyện về tiền bạc với nhau – đó vẫn là một đề tài tế nhị, chứ không như ở Mỹ –

.

Chế độ pháp trị

.

Không ai có quyền vin cớ là tôi mù luật vì luật chỉ là những hệ thống thành văn của những phép tắc, cư xử, sinh sống, … trong xã hội mà ai cũng đối diện mỗi ngày. Hệ thống luật pháp tinh xão như để sẳn sàng “ra tay” hầu giử “trật tự” cho xã hội.

. Buôn bán phải đúng giá vì có luật, giao kèo phải sòng phẳng vì có luật,

. Phải bảo vệ môi trường, đó là một ý thức tốt nhưng cũng là một bổn phận, nếu không thì sẽ bị phạt, rất nặng, nhất là các xí nghiệp kỷ nghệ…

. Quảng cáo, một cấu thành sinh ra bởi kinh tế thị trường, thì tự do thật đấy nhưng có hội đồng luân lý của quảng cáo kiểm soát và luật chế tài rất nặng những vi phạm. (Một điều mà ta chưa thấy ở Việt nam chẳng hạn là những ranh giới của quảng cáo, không lẫn lộn giửa bài học, bài báo và quảng cáo để tránh ngộ nhận – nếu không thì tai hại biết chừng nào, thương gia sẽ dùng tất cả các phương tiện xã hội để lôi cuốn người tiêu thụ).

. Vượt vận tốc trên đường đi, có máy ra đa chụp ảnh người vi phạm, sẽ bị phạt, tùy theo nặng nhẹ, có thể lên đến tương đương với cả tháng lương công nhân viên lại bị thu hồi bằng lái xe.

. Trẻ con được luật bảo vệ : chương trình truyền hình nhạy cảm vì có bạo lực hay có nội dung giới tính không được lên sóng trước 22 giờ ; người bán thuốc lá hay rượu cho trẻ dưới 18 tuổi sẽ bị phạt, …

.

Nhưng pháp trị không có nghĩa là hệ thống trừng phạt cao. Và cảnh sát hiện diện … ở khắp các ngỏ đường. Ở đây, ý thức của người dân để không phạm luật rất cao.

.

.

Tầng 3 : Những giá trị xã hội ?

.

Giá trị cao nhất ? Con người

.

Phải làm sao cho tất cả mọi người đều có phương tiện để sống

.

. kinh tế : mỗi cá nhân dù đi làm hay không, phải có ít nhất là 900 euros/tháng để sống. Điều này được bảo đảm bởi luật. Nhưng cả nước còn 17.000 người không có nhà, phải vất vưởng ngoài đường hay ở trong các trung tâm cứu trợ , mùa đông, vì những lý do khác nhau.

. giáo dục được bảo đảm miễn phí tới 18 tuổi nhưng có khoản 5% dân số không đọc viết trôi chảy và không đủ khả năng để bươn chải với các thủ tục hành chính (phần đông là người ngoại quốc hay người đã gặp nhiều “tai nạn xã hội dồn dập” bị bỏ rơi lúc bé, đau bệnh nặng, có vấn đề về trí tuệ, tật nguyền, …)

. bảo hiểm xã hội, sức khỏe, tuổi già, …

Bất cứ một tổ chức nào (trường học, xí nghiệp, bệnh viện, …), khi được cấu thành bởi trên 500 người đều phải có một cán sự xã hội lo cho giá trị sống của các thành viên.

.

Ứng dụng vào cư xử thường ngày, sự tôn trọng người đối diện thành một điều dĩ nhiên, dù người đó là người hốt rác hay đứng đầu một đảng phái chính trị, một người cao tuổi hay một em bé lên 5.

.

Các giá trị căn bản khác ?

.

Không có Tam cương (liên hệ giửa vua-dân, thầy-trò, cha-con) và Ngũ thường (nhân lễ nghĩa trí tín) của Khổng giáo, những giá trị cơ sở ở Bỉ là : Sự thật, Công lý, cái Đẹp, Luân lý, cái Tốt. Cộng vào đó phải kể 3 giá trị của Pháp mà Bỉ chịu ảnh hưởng sâu đậm : Tự do, Bình Đẳng, Tình huynh đệ. Tất cả những giá trị này bàng bạc trong tất cả các hệ thống tổ chức và sinh hoạt của xã hội.

.

Vài thí dụ :

. giữa lương trung bình cao nhất và lương trung bình thấp nhất tỉ số là 5/1. Đó là một trong những tỉ số bình đẳng nhất (ít cách biệt nhất) thế giới.

. trong cách xếp hạng ngành nghề, theo các điều tra xã hội học, dân chúng lúc nào cũng đánh giá cao các nghề khoa học, mỹ thuật dù những nghề này không cho nhiều lợi tức (sự thật, cái đẹp ).

. Ở Bỉ có nhiều nghị sĩ, thẩm phán và bộ trưởng,… là người gốc nước ngoài (“tứ hải vi huynh đệ”).

.

.

Tầng 4 : Những tuyệt đối cấm kỵ và truyền thống đạo đức ?

.

Bề dày của văn hóa đối xử Âu Tây có cội nguồn từ xưa – từ những truyền dạy của Socrate, Aristote, Platon của thời cỗ, qua khái niệm “người tử tế” của thế kỷ 18, 19 với Voltaire, Rousseau và tới những thành tựu về nhân quyền đầu thế kỷ 20. Công chúa giáo cũng góp phần trong hệ thống đạo đức xã hội. Từ Cách Mạng 1789 đến giờ, lại có thêm đạo đức của những người không tôn giáo.

.

Cấm kỵ ?

Giết người và loạn luân là hai cấm kỵ duy nhất mà ai cũng phải biết.

.

Cấm giết người vì người là cấu thành của xã hội, mỗi cá nhân là một cái mắt trong sợi xích dài, mất một mắt, sợi xích đứt đoạn, xã hội bị đe dọa trong sự sống còn và trong sinh hoạt.

.

Loạn luân cũng đe dọa xã hội, không những vì những đứa con của loạn luân sẽ có nhiều rủi ro bị tật nguyền mà hơn nữa, nếu ai cũng kết hôn với người trong gia đình mình thì xã hội mất một dịp để hòa bình hơn vì tạo được thêm liên hệ ngoài huyết thống.

.

Có một bản án ở Bỉ mà báo chí đã rình rang phản ảnh . Vụ án Dutroux năm 1996.

Marc Doutroux, trong những năm 80, đã hảm hiếp và giết hai em bé Julie và Mélissa và hai thiếu nữ khác.

.

300.000 người – một số khổng lồ trong một nước chỉ có 10 triệu dân – đã xuống đường biểu tình im lặng như để tang các em vì Dutroux vừa giết người vừa hảm hiếp hai em bé – một hành động hao hao giống hành động loạn luân.

.

Giết người là một tội nặng. Nhưng ở Bỉ không có án tử hình – cũng hợp lý thôi vì kẻ sát nhân cũng là một người mà ta phải tôn trọng !

.

.

Kết luận ?

Một thí dụ khác, dù có vẻ xa vời nhưng nói lên được ảnh hưởng của văn hóa: Phụ nữ Nhật bản khi giải thích về những dị đồng trong cuộc sống hằng ngày với một đấng lang quân người Mỹ, bà sẽ nói “tôi căng thẳng với chồng” bằng tiếng Anh nhưng lại nói “tôi buồn” khi diễn tả bằng tiếng Nhật.

Ngôn từ diễn đạt mẫu văn hóa. Những mẫu văn hóa được tiêm nhiểm từ trẻ, trong quá trình xã hội hóa đầu tiên, cũng như những từ “cảm ơn, xin vui lòng, xin lỗi”, bên này.

Xã hội hóa là một quá trình bắt đầu ngay từ lúc một em bé chưa chào đời, em bị ảnh hưởng bởi cách sống, thức ăn của mẹ em từ lúc còn là thai nhi. Sau khi chào đời, gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên, xã hội hóa cơ sở và quan trọng nhất – đến nổi cái xã hội hóa này cho trẻ những bản tính tự nhiên thứ nhì (seconde nature) mà người ta nói chasser la nature, elle revient au galop – đuổi cái tự nhiên, nó trở lại như ngựa phi nhanh –

.

Không có qui luật xã hội nào bẩm sinh hết, ta hòa hợp với xã hội, sống với người khác, hành động như người khác, … là nhờ những quá trình xã hội hóa.

.

Xã hội hóa đầu tiên bởi gia đình là một hình thức hết sức nhẹ nhàng. Gói ghém trong tình yêu thương của cha mẹ, trẻ hấp thụ những cách sống với người chung quanh.

.

Quá trình xã hội hóa của gia đình được nối tiếp bởi học đường, một môi trường tương đối được bảo vệ. Cách tổ chức, sinh hoạt, các lớp về công dân giáo dục – cho người không có đạo – và các lớp về tôn giáo (đạo Thiên chúa, Hồi giáo, đạo Phật) … của trường học giúp học sinh tiếp thu kiến thức và học đạo làm người.

.

18 tuổi, khi rời trường sau giáo dục cưỡng bách, giới trẻ có một hành trang tạm đủ để cư xử ở đời.

.

Văn hóa còn được bảo vệ bởi sự kiểm soát xã hội : hành vi nào khác lạ hay ra ngoài qui củ sẽ bị người bên cạnh cha mẹ anh em thày cô láng diềng dèm pha, chê trách . Rốt cục, để sống với xã hội, bản thân các thành viên cố gắng hòa đồng bằng cách thực thi những mẫu hành động của gia đình, học đường, bạn bè, …

Nếu xã hội hóa và kiểm soát thôi không đủ, ở Bỉ, hệ thống luật lệ “tiếp sức” để chế tài. Lâu dần, văn hóa ăn sâu bám rể vào tâm não mọi người, giản dị như tiếng “xin chúc một ngày đẹp” khi gặp ai đó, trước mọi liên hệ.

Với một hạ tầng kiến trúc khá giàu (PIB gần 40.000 US$/năm cho mỗi người), một thượng tầng kiến trúc trọng nhân bản, một nền giáo dục cưỡng bách tới tròn 18 tuổi, … văn hóa tiếp xúc ở Bỉ hiền hòa, yên ả, …trong cái giới hạn của một lối sống trọng cá nhân, “nhà ai nấy ở”, nơi mà tương trợ giửa người với người nhiều lúc nhường chỗ cho tương trợ được đảm bảo bởi xã hội là chính.

.

Nếu dán mắt nhìn gần vào các sự kiện xã hội ở Bỉ thì vẫn còn nhiều điều không ổn : bất bình đẳng xã hội nhất là trên phương diện …văn hóa, thất nghiệp, người nghèo (lợi tức dưới 893 euros/tháng/người là nghèo), chấm điểm và xếp hạng ở trường, tệ hại xã hội như thuốc lá, thuốc phiện, … và  cả vấn đề phạm tội nữa. Nhưng những vấn đề đó cần nhiều phân tích khác và cần định nghĩa cẩn thận về tính tương đối của các khái niệm.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

 

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.