Bỏ qua nội dung

Có con hay không có con? Một vấn đề xã hội.

Tháng Bảy 27, 2014

Avoir un enfant ou ne pas en avoir – un phénomène social.

.

 

Bài này đã đăng trên Tạp chí Văn Hóa Nghệ An, số 272, phát hành ngày 10.07.2014.

 

Ở Việt nam, với quan niệm cần có con nối dõi tông đường, để thờ cúng ông bà, … gia đình nào cũng mong có cháu và nhất là cháu trai. Cái chuyên chính của quan niệm này có khi là một áp lực cho các gia đình trẻ và nhất là cho phụ nữ.

Ở châu Âu, hiện có một số gia đình (trên dưới 20% các cặp đôi, có cưới hỏi hay chỉ sống chung), không có con (vì họ không muốn có con hay vì họ không thể có con).

Bài này tóm lược nội dung một buổi nói chuyện với cộng đồng rộng, về vấn đề này, ở Liège mới đây. Góc nhìn xã hội học không phân tích các khái niệm tâm lý về hạnh phúc chủ quan.

.

Có con rất cực

.

Luật bảo hiểm xã hội ở Bỉ định là phụ nữ được nghỉ hộ sản 15 tuần, có trợ cấp gần bằng số lương vì chế độ thuế trên trợ cấp này nhẹ hơn. 15 tuần, mới nhìn thì nhiều nhưng nếu bà mẹ quyết định cho con bú thì thật sự không đủ – hiện giới y khoa khuyên nên cho con bú mẹ trong sáu tháng đầu đời. Dĩ nhiên, bà mẹ trẻ có thể xin nghỉ thêm nhưng nhiều công việc làm không cho phép liên tục gián đoạn một thời gian dài như thế.

.

Có nhiều bà mẹ trẻ lúc mới đi làm trở lại, cố gắng hút sữa, cho đông lạnh trữ để tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ được ngày nào hay ngày nấy.

Nhưng thật sự thao tác này nặng: làm sao trong ngày làm việc có thể dừng tay, 4-5 lần (mỗi lần cần khoảng 20 phút), có phòng riêng và có điều kiện để khẩn trùng dụng cụ và sau đó, hút sữa rồi có tủ lạnh để đông sữa?

Thế nên không sớm thì muộn – trong vài tuần – , nguồn sữa của bà mẹ cũng kém đi rồi hết hẳn.

.

Ngoài việc cho con bú và những khó khăn phức tạp ấy, một đứa con đòi hỏi phải được săn sóc, được thỏa mãn tất cả các nhu cầu của bé, nhu cầu vật chất, sinh lý cũng như nhu cầu tình cảm và trí tuệ .

Buổi sáng trước khi đi làm là phải chuẩn bị cho bé bú lần đầu, thay tả, mặc áo quần, chuẩn bị đồ đạc và bình sữa mẹ trong túi giữ lạnh, ra xe đưa bé đi nhà trẻ – tính ra là hơn 60 phút. Buổi chiều về, đi đón con, cho con bú, tắm rửa chơi với bé cho bú lần chót trước khi đi ngủ – thêm khoảng 120 phút nữa. Cộng với việc làm, việc nhà, lo cơm nước, bổn phận xã hội, …Mỗi ngày «làm việc» của một phụ nữ có con nhỏ là không dưới 13-14 giờ sinh hoạt – các nhà xã hội học bảo là làm «hai ngày cho mỗi bữa» – la double journée – thật không ngoa.

.

Cụ thể, xin kể thêm thí dụ của một nhà nữ khoa học trẻ, mang con bốn tháng tuổi đi dự hội nghị quốc tế và tranh thủ những giờ giải lao để cho con bú. Trong dấu ngoặc, phải nói thêm cho hoàn chỉnh là bà ấy đã dự trù trước để tổ chức tỉ mĩ mọi việc, ba ngày hội nghị cùng với con là phải mang theo bao nhiêu tả lót, bao nhiêu quần áo, khăn nón, thuốc men dự trù, … và có nhờ một người em họ đi cùng để lo cho bé lúc bà phải lên diễn đàn thuyết trình hay lúc bé khóc…

.

Chuyện riêng về cuộc sống của bà Marie Curie là một ngoại lệ : Bà Curie đã một đời làm khoa học, được hai giải Nobel, vừa nuôi dạy hai con gái không có vấn đề. Một trong hai con bà cũng được giải Nobel nữa. Hoàn cảnh xã hội lúc đó khác và có lẻ bà đã được giúp đở hoàn toàn cho việc nội trợ.

.

Đó là chưa kể lúc trẻ bị bệnh, tức là phải thêm lo lắng, thêm công việc, …Một gia đình có hai hay ba con là phải nhân các thao tác chăm sóc con lên hai hay lên ba lần! Các con ở các độ tuổi khác nhau có những nhu cầu khác nhau và cha mẹ chúng phải thật đa năng trên đủ mọi phương diện…

.

Một cách khôi hài, đơn thân độc mã, mỗi một trong chúng ta chỉ phải săn sóc cho 32 cái răng của chính mình. Có một con, là phải lo cho 64 răng. Nếu có hai con, con số thành 96 răng và cứ thế mà tính.

.

«Có con là một hạnh phúc» (quan niệm và kiểm soát xã hội)

.

«Có con là một hạnh phúc», «con cái là lộc của trời cho», không phải chỉ ở Việt Nam mà ở Tây Âu, đó cũng là những luật xã hội. Hiện thời, các luật đó vẫn còn được nhiều người thực hành áp dụng.

Khi mang ý này (có con là một hạnh phúc) ra hỏi trong một khảo sát thực địa, năm 2005, chỉ 10 % người Pháp bài bác ý đó, bất đồng ý kiến với câu đó (1). Chỉ một thiểu số !

.

Tựu chung, vai trò của phụ nữ truyền thống vẫn là có chồng và có con. Nhiều người quan niệm rằng cuộc đời một phụ nữ chỉ trọn vẹn khi bà có được niềm vui làm mẹ.

Thế nên, người ta vẫn còn chúc các cặp tân lang và tân giai nhân, trong ngày cưới của họ, là mau có con để vui cửa vui nhà, gia đình viên mãn.

Sự kiểm soát xã hội còn đi xa hơn, khi các cặp đôi hay gia đình nào đó quyết định không có con, người chung quanh họ tò mò tìm hiểu tình trạng, đưa ra giả thuyết là những cặp ấy có lẻ là đã sống trong một gia đình bất hoà, lúc thơ ấu không hạnh phúc, hay là vì họ ích kỷ, không muốn bị gò bó bởi trách nhiệm làm cha mẹ, … (1).

.

Càng ngày càng có nhiều người quyết định không có con

.

Nghiên cứu của Luc Masson (thuộc l’INSEE, Institut National de Statistiques et des Etudes Economiques Viện Thống kê và Nghiên cứu Kinh tế – Pháp) cho thấy rằng ba mươi năm gần đây, số đàn ông không có người nối dõi đã tăng từ 12,8%, trong những năm 1980, lên 20%, hiện nay (2).

.

Theo ông Masson, những lý giải thích hiện tượng này là sự phổ cập các phương pháp ngừa thai, dĩ nhiên rồi, nhưng nhất là vì số người sống độc thân tăng lên (khoảng 10 % các ông và 7 % phụ nữ thế hệ sinh ra ở thập niên 1960 và hiện gần gấp đôi). Đồng thời, vì thế hệ hiện nay có con muộn hơn nên họ khó có con hơn hay thành tuyệt tự (vì càng lớn tuổi, khả năng sinh sản càng kém đi).

.

Cho thế hệ trẻ hơn, nhà xã hội học Charlotte Debest, người đã nghiên cứu các đối tượng quyết định không có con – một hiện tượng chỉ chiếm từ 5 % đến 10% số các cặp sống lứa đôi, tùy năm (3) – bà Charlotte Debest cho biết là đa số các đối tượng nghiên cứu của bà cho rằng có con là một quyết định điên cuồng, không hợp lý.

.

Đối với họ, đón một em bé chào đời đòi phải đủ điều kiện về thời gian tiền bạc tiện nghi để có thể săn sóc bé, lo cho bé, giáo dục bé, chấp nhận tổ chức đời sống cá nhân và gia đình hoàn toàn tùy theo nhu cầu và thời dụng biểu của bé. Để bé phát triển tốt nhất và để bé hạnh phúc. Vì em bé là một cá nhân cần được nuôi dưỡng và kính trọng. Nếu không đủ các điều kiện làm được như vậy thì không nên cho bé chào đời.

.

Những đối tượng nghiên cứu này còn nhấn mạnh đến vai trò của họ đối với người bạn đời (không để người bạn đời phải hi sinh chẳng hạn) và họ cũng nghĩ tới những hậu quả cho con cái nếu cặp đôi phải chia tay nhau (tỉ lệ li dị, ở châu Âu, hiện đã trên 50%, tức là một cặp trên hai tan vở).

.

Tại sao tôi không muốn đẻ hay có con?

.

Trả lời câu hỏi này, các đối tượng nghiên cứu của bà Debest (3) cho biết nhiều lý do lắm, những lý do cá nhân, lý do xã hội và lý do môi trường nữa.

Trên phương diện cá nhân, họ bảo họ cần sống tròn vẹn cuộc đời của họ, cho sự nghiệp riêng.

Về xã hội, nhất là phái nữ, họ nói không muốn từ bỏ việc làm vì không muốn lệ thuộc, ít nhất là lệ thuộc kinh tế, một người đàn ông.

Còn về môi trường, họ dựa trên việc chúng ta đã hơn bảy tỉ trên mặt đất, tài nguyên ngày một cạn, ba mươi năm sau sẽ hết dầu hỏa chẳng hạn, cho thêm trẻ chào đời thì lấy gì bảo đảm tương lai chúng ? Một số người khác nói nếu muốn có con, tôi sẽ nuôi một trẻ mồ côi hay bị bỏ rơi ở trên đời nhiều trẻ có số phận đó, tại sao không giúp chúng sống tốt hơn ?

.

Bà Debest kết luận «những người không muốn có con không phải vì họ trốn tránh trách nhiệm mà vì họ có một quan niệm rất khắt khe về vai trò của cha mẹ một trẻ».

.

Phụ nữ thông minh có con ít hơn

.

Chữ thông minh được viết nghiêng ở đây vì cần xem lại định nghĩa thế nào là thông minh. Chỉ số QI (quotien d’intelligence – chỉ số thông minh) không hoàn toàn chính xác. Nhiều nhà khoa học, trong đó có tác giả những dòng này, không chấp nhận tuyệt đối các trắc nghiệm đo QI.

.

Theo nghiên cứu của bà Satoshi Kanazawa (London School of Economics), mỗi khi chỉ số QI tăng 15 điểm thì khả năng sát xuất quyết định có con của phụ nữ ấy giảm 25%.

Hiện ở Anh, 20% phụ nữ ở độ tuổi 40-45 không có con. Tỉ lệ này lên 43% khi chỉ tính các bà đã tốt nghiệp Đại học (4).

.

Bà còn viết tiếp theo, trong sách nói trên của bà, rằng 80% thông minh là do thừa hưởng từ mẹ, qua trung gian của chromosome X nên khi các bà mẹ thông minh sinh ít con hơn thì thế hệ sau này sẽ ít trẻ thông minh – một giải thích không được các nhà di truyền học và các nhà thần kinh học chấp nhận vì thông minh không hẳn là đa phần do di truyền mà đúng ra là do kết hợp giữa môi trường và tiềm năng thừa hưởng từ cha mẹ (5). Với lại cũng không có quyền lầm lẫn giữa thông minh và tốt nghiệp Đại học.

.

Trước đó vài năm và trong đường hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của con cái trên đời sống cha mẹ chúng, Ts Nattavudh Powdthavee, một kinh tế gia người gốc Thái Lan, thuộc Đại học York (Anh Quốc) và ĐH Melbourne (Úc) chuyên viên nghiên cứu về hạnh phúc, đi đến kết luận rằng con cái chỉ cho một hạnh phúc ảo vì thật ra con cái bắt cha mẹ chúng phải dành một quĩ thời gian rất lớn để làm những chuyện vật chất, lo nấu nướng, quản lý các vấn đề của trường học, giặt giủ. Những công việc nặng nề nhàm chán và cuối cùng làm ảnh hưởng một cách tiêu cực đến mức hạnh phúc thường nhật (6) (7).

.

Vấn đề triết lý?

.

Bà triết gia người Canada, Christine Overall, trong sách Why Have Children ? Tại sao có con? (8) cho thấy rằng cho một em bé chào đời không nằm trong cái dĩ nhiên của cuộc sống.

.

Theo bà, một số cha mẹ quyết định cho một em bé chào đời là vì ích kỷ và họ không nghĩ tới quyền lợi hay hạnh phúc của em bé sắp được sinh ra. Họ thường quyết định có con vì những ràng buộc xã hội hay vì những lý do tín ngưỡng.

.

Đối với bà Overall, về luân lý, những gì cần phải lo khi lấy quyết định đó là:

  • bà mẹ sẽ sống tốt hơn và hạnh phúc hơn không?

  • bà ấy sẽ tiếp tục có khả năng tự lập không, mặc dù có thêm ràng buộc con cái?

  • đứa trẻ sắp chào đời có là công cụ để thực hiện một mục đích gì khác?

.

Cho một em bé ra đời chỉ hợp với đạo đức xã hội và luân lý khi quyết định này vô vị lợi mà chỉ nhắm tới quyền lợi của em bé sắp chào đời, với sự kính trọng vô điều kiện những đặc thù của bé về phái, về hình dáng, tiềm năng, … và với dự định là cha mẹ sẽ làm tất cả trong khả năng của mình để giúp bé từ từ tự lập, tức là thoát vòng tay giúp đở hay bó buộc của cha mẹ.

Bà còn thêm vào rằng có con không là một điều kiện cần thiết để có một cuộc sống có chất lượng. Địa cầu càng ngày càng chật. Ta cần suy nghĩ trước khi cho thêm công dân mới chào đời. Ở đây triết gia cũng đồng ý với những nhà chuyên về môi trường.

.

Vấn đề con cái và tự do cá nhân – hay thay lời kết luận

Tất cả những gì vừa trình bày ở trên là những dữ kiện vĩ mô, đi từ các nghiên cứu gần đây. Vấn đề có con hay không là một quyết định cá nhân. Dĩ nhiên, vốn đã được xã hội hóa, các cá nhân thường quyết định và hành động theo tập tục xã hội. Nhưng càng ngày, phần tự do cá nhân càng quan trọng và dân tình theo khuynh hướng quyết định như một chủ thể chứ không toàn toàn tùy thuộc luật lệ xã hội.

Rốt cuộc, nếu trên dưới 20% các cặp đôi không có con (như đã nêu ở phần dẫn nhập) thì 80%, tức là đại đa số, các gia đình vẫn là những gia đình “cổ điển” với vợ chồng và con cái, theo như mẫu mà xã hội vẫn tôn vinh.

Một con số cuối cùng: hiện trung bình, ở Bỉ, mỗi phụ nữ chỉ có 1,57 con tức là không đủ để thay thế thế hệ già – các nhà địa lý nhân chũng học bảo rằng mỗi phụ nữ trung bình phải có 2,1 con mới có thể giữ dân số ổn định. Sở dĩ đến bây giờ dân số Bỉ chưa đi đến tình trạng báo động là nhờ dân nhập cư, những người này lại thường có đông con hơn người bản xứ. Nhiều nước ở châu Âu cũng đang lâm vào tình trạng tương tự.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

 

Tài liệu tham khảo

(1) Debest Ch., « Le choix d’une vie sans enfant à travers le prisme des normes parentales et conjugales », Nouvelles Pratiques sociales, vol. XXV, n° 1, 2013.

(2) Masson L., « Avez-vous eu des enfants ? Si oui, combien ?», in INSEE, France, Portrait Social, 2013.

(3) Debest Ch., « Quand les “sans-enfant volontaires” questionnent les rôles parentaux contemporains », Annales de démographie historique, n° 125, 2013.

(4) Kanazawa S., The Intelligence Paradox: Why the Intelligent Choice Isn’t Always the Smart One. NXB Wiley, 2012.

(5) Nguyễn Huỳnh Mai     https://dantri.com.vn/ban-doc/ngay-xuan-man-dam-ve-su-thong-minh-va-chi-so-iq-1296575220.htm

(6) Powdthavee, N., Think having children will make you happy?, The Psychologist, 2009, 22(4), 308-311.

(7) Powdthavee, N., The Happiness Equation: The Surprising Economics of Our Most Valuable Asset. NXB Icon Books, 2010.

(8) Overall Ch., Why Have Children ? The ethical debate, NXB MIT Press, 2012.

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.

%d bloggers like this: