Skip to content

Dạy và học lịch sử ?

Tháng Mười 23, 2014

Enseigner et étudier l’histoire – un vieux texte

.

Bài này đã đăng trên Dân Trí cách đây ba năm, khi thời sự lúc đó «nóng» vì những điểm 0 của các em cho môn Sử. Với bài viết về gs Lê Thành Khôi trên khung cửi, tôi bổng nhớ đến … những ý xưa

10.08.2011

http://dantri.com.vn/c25/s25-506674/dai-hoc-bi-coi-trong-cac-nganh-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van.htm

Tất cả những gì dân tộc – sử nước nhà – hay nhân loại – sử quốc tế – đã chạm đến, đã sống qua, đã chế tạo, đã viết, đã nói trong quá khứ đều thuộc về lịch sử. Nhà sử học là người đi tìm những dấu vết ấy để «đọc», để hiểu và để giải thích…

Lịch sử ngày nay – lịch sử theo quan niệm hiện đại – là lịch sử toàn cảnh (histoire globale) mà ta nghiên cứu với những phương pháp độc đáo. Nằm trong lịch sử toàn cảnh : những sự kiện chiến tranh thời cuộc, dĩ nhiên rồi, mà còn có khí hậu, văn minh vật chất, những thái độ, những quan điểm, triết lý, đời sống, sự lo sợ, sự chết, những người nghèo khổ, … trong quá khứ.

Học lịch sử để biết ông cha ta đã sống như thế nào, để hiểu gia tài mà tổ tiên ta đã để lại. Từ đó để tự hiểu chính chúng ta và có trách nhiệm đối với các thế hệ con cháu của chúng ta – những gì ta làm hiện thời sẽ là lịch sử của chúng .

Nhiều nhà sử học hạnh phúc với nghề của họ, họ «tràng giang đại hải» kể về Đại thế chiến thứ nhì, về văn minh La Mã, về cuộc chiến ở Algérie hay gần với ta hơn, về cái chết qua các thời đại, về vai trò của tiến bộ y khoa trong sự tự do tình dục, …

Có nhiều thí dụ khác nữa trong đó vai trò của lịch sử không thể chối cải được .

    • Khi nói về cấu trúc của gia đình, để có thể hiểu tại sao hiện thời gia đình ở châu Âu chỉ là gia đình hạt nhân (chỉ có hai vợ chồng và các con của họ), cũng phải nhắc tới các hình thức gia đình gốc và gia đình đại tộc, phải phân tích những lý do khiến các cấu trúc gia đình ấy phải nhường chổ cho cấu trúc hạt nhân.

    • Khi nói đến việc giải phóng phụ nữ ở Việt Nam, phải nói đến vai trò của người phụ nữ trong hai cuộc chiến giành độc lập ở thế kỷ thứ 20 (ba đảm đang- giỏi việc nhà việc nước và việc sản xuất) lồng trong bối cảnh tam tòng tứ đức (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử và công dung ngôn hạnh)của Khổng giáo, …

    • Liên hệ giửa bác sĩ và bệnh nhân, liên hệ giửa thầy và trò cũng là những liên hệ do lịch sử truyền lại cho ta. «Truyền thống» là một trong những lý do giải thích quyền của bác sĩ và quyền của thầy trên đối tác trong liên hệ.

Không hiểu lịch sử thì không định nghĩa được hiện tại và có thể sẽ bất lực trước định hướng tương lai. Cái ý đó, nhiều người đã nói từ lâu. Cái cần là ta học sử để có thể so sánh hiện tại với quá khứ và để hiểu cả hai. Đó là một cách để sống với xã hội và sống trong xã hội.

Phương pháp sử học ?

Tìm tài liệu: Đây là khó khăn lớn nhất của sử học. Phải tìm dấu vết những gì đã xảy ra trong quá khứ và tìm cách «đọc», giải thích, … những dấu vết ấy. Dấu vết có thể là tài liệu viết nhưng cũng có thể là những chứng tích vật chất khác.

Thận trọng đánh giá tài liệu – đánh giá từ bên ngoài, đánh giá nội tại, đánh giá nguồn gốc, đánh giá tùy theo điểm đến, …- nhưng đánh giá không có nghĩa là chỉ tìm cách phân biệt tài liệu đáng tin và tài liệu «giả». Vì nhiều khi tài liệu «giả» cũng giúp nhà sử học biết thêm được nhiều điều ! Đánh giá cần để hiểu và giải thích sự kiện lịch sử trên cơ sở «giá trị» của tài liệu thu thập được.

Không có tài liệu thì không viết sử được.

Để «viết» sử, các nhà nghiên cứu còn «mượn» những phương pháp của các khoa học khác như vật lý học (dùng phương pháp đo carbon 14 để định tuổi của một chứng tích là một thí dụ) xã hội học (phương pháp phân tích tài liệu văn bản chẳng hạn), nhân chủng học, kinh tế học, …

Dạy sử ở tiểu học và trung học phổ thông ?

. để truyền cho trẻ hiểu biết về quá khứ

. để luyện cho trẻ các kỹ năng về giáo dục công dân, quyền lợi và nghĩa vụ trong xã hội, các giá trị văn hóa, đạo đức, …

. để tập tành lý luận, kỹ năng về phương pháp, để phát triển khả năng trí tuệ

Sử học là một trong những phương tiện hửu hiệu để gây đoàn kết cho một nhóm người sống trên một lãnh thổ, cùng chia nhau tài nguyên khoáng sản, có cùng một quá khứ và sẽ cùng chịu chung một «số phận» tương lai.

Nhưng học sử không phải là học thuộc lòng một chuổi sự kiện và ngày tháng.

Có thể bốn chữ : thích, hiểu, học, và làm giàu thêm kiến thức là một công thức mà người dạy sử có thể khai thác cho việc dạy sử ở tuổi này. Gây tò mò hứng thú cho các em bằng cách qui nạp, bằng những cụ thể hiện đại, sau đó giải thích cho các em hiểu một liên hệ, dù rất nhỏ với quá khứ, các em sẽ chú ý học và từ đó dùng kiến thức mới tiếp thu để áp dụng cho các sinh hoạt khác.

Con đường đi đó rất là thích hợp với sinh hoạt và quá trình làm việc thông thường của não (logique neuronale) lại dễ tiếp cận đối với trẻ.

Dạy sử và học sử như thế thì không có gì là áp lực mà lại rất là thực tiển.

Tốt nghiệp Đại học ngành Sử sẽ làm gì được ?

Ít nhất là có 5 nơi «dụng vỏ» :

. đi dạy trung học

. nghiên cứu

. làm việc ở các trung tâm tài liệu, quản thủ thư viện, bảo tàng

. nghề báo chí, viết văn

. công chức ở các cơ quan di tích, bảo tồn di sản

Đó là chưa kể đến khả năng giử các chức vụ cần kỹ năng tìm tòi, thận trọng đánh giá, phân tích và giải thích một cách khoa học – những kỹ năng mà bất cứ một sử gia nào cũng có.

Theo quan niệm hiện thời ở Bỉ, trừ trường hợp của Y khoa, đào tạo Đại học không những là đào tạo chuyên môn mà còn là đào tạo người (savoir-être) một người có kiến thức laị quen với những nghiêm túc của khoa mình học trong phương pháp.

Một luật gia biết lý luận, có thói quen tra cứu, giỏi trí nhớ, có khả năng phát biểu trước đám đông, biết tổ chức công việc và điều khiển nhân viên : đó là mẫu lý tưởng cho các xí nghiệp cần tuyển người lảnh đạo ! Bằng cớ, một nghiên cứu ở Bỉ, năm 1986, cho thấy không đến 20% luật gia ra trường làm luật sư hay thẩm phán. Số còn lại, tức là đa số, làm đủ thứ nghề thậm chí … đi bán tranh hay làm nghệ sĩ. Mà tất cả đều thành đạt, tức là thuộc giai cấp thượng lưu với lợi tức cao.

Một thí dụ khác ? – hơn phân nửa kỷ sư tốt nghiệp Đại học Liège trong những năm 1970-1980 hiện là giám đốc hành chính, tài chính, thương mại, nhân sự, … và hoàn toàn không có trách nhiệm sản xuất hay xây dựng – khả năng mà họ được đào tạo trước đó.

1 năm sau khi ra trường, theo Hội những cựu sinh viên Sử của Đại học Liège, không một sử gia nào thất nghiệp mặc dù từ nhiều năm nay, tỉ lệ thất nghiệp tại Bỉ khá cao (10-15% dân trong tuổi đi làm).

Chính vì thế mà cơ quan hướng dẩn ngành học vẫn «trấn an» các sinh viên tương lai, khuyên các em cứ ghi danh học sử nếu các em thích, nếu các em thuộc «hạng» hay tò mò trí tuệ, thường đi thư viện, viện bảo tàng tìm tòi tài liệu, thích đọc sách, thận trọng phán xét, biết suy luận và so sánh, …

Phải nói thêm là đại đa số sinh viên học Cao đẳng và Đại học ở Bỉ không đưa mục đích kiếm sống (mục đích thực tiển) như lý do chính hay lý do đầu tiên để chọn ngành học.

Từ Sử học tới các khoa học xã hội và nhân văn ?

Nếu dựa trên số đơn vị dạy học và nghiên cứu (Unité d’enseignement et de recherches), Đại học Liège có trên dưới 60 ngành tụ họp trong 9 phân khoa, 1 viện và 1 trường. Tổng số sinh viên tùy năm, khoảng 18.000 – 20.000. Ngành Sử, kể cả khảo cổ học, chỉ có gần 200 sinh viên, 1% tổng số sinh viên của Đại học. Nhưng xin đừng vội kết luận là khoa học xã hội ở Bỉ cũng ít người học. Trang nhà của các Đại học giới thiệu rất rỏ ràng số sinh viên của các phân khoa và chuyên ngành.

Một cách tổng quát xin đưa dưới đây vài con số tại Đại học Liège, năm rồi :

Về khoa học xã hội và nhân văn :

. Văn khoa và triết 14% tổng số sinh viên

. Quản trị xí nghiệp, kinh tế 15%

. Luật và chính trị 12%

. Tâm lý và giáo dục 9%

. Xã hội và nhân chủng học 4%

Các con số này cho thấy là có sự gần như thăng bằng (hiện là 54% và 46% sinh viên) giửa một bên là khoa học xã hội và bên kia, khoa học thực nghiệm, Y khoa, Thú Y và Kỹ sư.

Theo các nghiên cứu, sinh viên thành công dễ dàng hơn trong quá trình học khi chọn ngành mình yêu thích và tùy hợp với khả năng. Lúc ra trường, ngoài những nghề tự do (như bác sĩ mở phòng mạch, luật gia mở phòng tư vấn, …), sự khó khăn tìm việc không tùy thuộc ngành xã hội hay ngành khoa học tự nhiên mà tùy thuộc nhiều lý do tâm lý (cá tính, nhân cách chẳng hạn) và xã hội (gia đình, giai cấp, vòng quen biết liên hệ, …).

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

Đã đóng bình luận.