Skip to content

Xã hội học về giáo dục ?

Tháng Mười Một 6, 2014

La sociologie de l’éducation. Un parcours

.

Cơ duyên nào khiến tôi đi vào ngành này ?

Nếu Renée Fox là động cơ chính khiến tôi đi vào y xã hội học, theo xã hội học về giáo dục là một quá trình dài với vài chuyện croustillantes – có thể dịch ra là giòn ngon

1. Trước nhất là bằng sư phạm để đi dạy. Thời điểm là năm 1974, tôi bắt đầu làm quen với Skinner, khám phá chuyện Skinner dạy những con chim bồ câu để chúng từ từ mỗ đúng vào các ô có ngũ cốc là một chuyện rất là sư phạm và cũng rất là vui. A hóa ra ta chưa xa Pavlov nhưng bắt đầu có hệ thống tuần tự của dạy học theo quá trình – enseignement programmé – nhất là lúc mà ta bắt đầu có sự trợ lực của tin học.

Gilbert De Lanshere đã giúp tôi yêu phương pháp sư phạm và tôi khám phá ra rằng, ta có thể giúp tất cả mọi trò tiếp cận kiến thức. Bồ câu ta còn dạy được huống hồ là với trẻ. Skinner dạy tôi biết thế nào là cách dạy mà không cần phạt.

.

2. Sau đó một năm, tôi vào làm việc với Paul Minon, và, theo thầy, tôi bắt đầu tiếp cận với đề tài về sự bất bình đẳng ở trường học.

Lúc đó là lúc Pierre Bourdieu và Jean-Claude Passeron vừa xuất bản hai quyển « Les héritiers » và « La reproduction ». Ở Liège, khiêm tốn hơn, Paul Minon nghiên cứu tỉ lệ ngồi lại lớp của các em ở trường tiểu học tùy theo nghề nghiệp của cha mẹ chúng. Kết quả không cần phải vẽ ra cũng rành rành : trẻ ở giai cấp khiêm tốn ngồi lại lớp gấp năm lần trẻ con nhà được ưu đãi.

.

3. Paul Minon cũng nghiên cứu các chính sách có thể để giúp trẻ không được ưu đãi. Từ lớp dạy thêm, học bổng, cho điểm ưu tiên, … Giải pháp nào cũng không thỏa đáng, dưới mắt ông. Rốt cuộc ba giải pháp ông đề nghị làm nhiều người ngạc nhiên:

. phổ cập và nâng cao giá trị đào tạo của trường mầm non

. mở lớp « dạy » cha mẹ học trò.

. mang văn hóa của tầng lớp « bị trị » vào trường…

Từ thuở đó, tôi thành người đi vào chuyên đề  “trường mầm non và vai trò của trường mầm non trong việc chống bất bình đẳng”. Tôi cũng chú ý đến trẻ từ 3-6 tuổi – mặc dù lúc ấy riêng bản thân  tôi chưa có con.

.

4. Cũng vào thời ấy, André Massart, một giáo sư khác ở cùng Viện Xã hội học ở ĐH Liège, giao tôi nghiên cứu về những liên hệ giữa các hiệu trưởng trường trung học và Bộ Giáo dục – khúc recherche exploratoire – tìm kiếm khai phá ở giai đoạn I – của nghiên cứu.

André có một tin tưỡng vô điều kiện ở khả năng của tôi, dù lúc đó tôi còn rất trẻ. Anh ấy biết tôi qua một chuỗi làm việc cùng nhau ở Ligneuville, qua những sinh hoạt đào tạo thường xuyên cho công chức hạng I, tức là cở hàng giám đốc sở (ở đó, tôi đóng vai trò người quan sát các sinh hoạt đào tạo và trợ lực cùng André để phân tích cách các thành viên trong nhóm tiếp cận kiến thức mới).

Cho nghiên cứu về những liên hệ giữa các hiệu trưởng trường trung học và Bộ Giáo dục, anh ấy «thả tôi ra giữa đồng hoang» với một câu hỏi duy nhất: “chị xem thử họ liên hệ với Bộ như thế nào” – một câu hỏi mở, để khám phá một chủ đề, để sau đó suy nghĩ về những giả thuyết có thể rồi mới «nặn» ra một hay nhiều dụng cụ khảo sát thực địa. Tôi đã đi gặp ba mươi hiệu trưởng các trường trung học, đủ các loại (trung học phổ thông, trung học kỷ thuật, trung học nghề); ở đủ môi trường (trong các thành phố lớn, nhỏ, ở đồng quê…).

.

5. Thế là một cách thực tiển, tôi đã đột nhập vào thế giới hành chính của tổ chức giáo dục. Dạy học không chỉ có thầy và trò – mà còn có cả hệ thống Bộ, Nha, Trường, … với những luật vừa giáo dục, dĩ nhiên rồi, mà còn là chính trị, tài chính, … với những giằng co, tranh chấp và những giải pháp có khi phải là những giải phải pháp «thương lượng».

Báo cáo các phỏng vấn mở – protocole des entretiens libres – đã buộc tôi viết ra gần 200 trang. André đọc xong, bảo rằng có «ôm hôn chị cũng không nói hết cái phấn khởi của tôi… ».

Tôi bắt đầu đi vào thực địa các trường học như thế.

.

6. Sau này, từ 1989- 1999, với trách nhiệm ở khoa đào tạo giáo viên, tôi có dịp tiếp cận tầng lớp diễn viên này trong các trường học, tại sao họ muốn đi dạy, họ được đào tạo thế nào, họ hành nghề ra sao, …Những lớp bổ túc và cập nhật phương pháp giáo dục, mà tôi tổ chức cho giáo viên, là những dịp tiếp xúc với hàng nghìn đồng nghiệp ở khắp nơi trở về Đại học để cập nhật phương pháp sư phạm, để gặp đồng nghiệp trẻ sắp ra trường hay chỉ để gặp gỡ nhau giữa bạn bè cũ.

.

7. Làm việc với Ủy ban sửa đổi chương trình đào tạo giáo viên ở Đại học – Comité de Réforme de l’Agrégation à l’Université – bắt tôi phải suy nghĩ góp ý từ lý thuyết đến thực hành để sau này cái bằng thực hành sư phạm cần hai năm học chứ không phải một năm như trước.

Một thí dụ của tôi, mà tới bây giờ, hai mươi năm sau, khi tình cờ gặp lại nhau, các thành viên trong Ủy ban này vẫn còn nhắc lại – vì tôi có thói quen hay nói bóng bẩy – “Để săn sóc một con chim hoàng anh chỉ nặng 30-50 gram, một bác sĩ thú y phải học 5 năm trong khi để dạy trẻ ta chỉ cần 90 giờ về phương pháp sư phạm,  chương trình lúc đó,  thì có cái gì không ổn”.

.

8. Trong khoảng thời điểm này, tôi có dịp tiếp xúc với Philippe Perrenoud, Philippe Meirieu, Marcel Crahay, Antoine Roosen và Jean Therer, những « ténors » hay « gạo cội » của giáo dục châu Âu thời đó và đi vào sân chơi người lớn …

.

Những dòng này không có chủ đích nói về cái tôi đáng ghét. Chúng chỉ minh họa một đoạn đường đi của một người nghiên cứu về giáo dục – một đoạn đường hòa hợp lý thuyết và thực địa –  tức là … làm nghề xã hội học một cách toàn diện.

Nguyễn Huỳnh Mai

Viết thêm:

Còn những chủ đề của xã hội học về giáo dục (như tồ chức hệ thống giáo dục, các diễn viên của trường học, các chương trình và phương pháp giáo dục, những “ổn” và “bất ổn” của thế giới của trường học, … ) tức là những đề tài mà xã hội học đã nghiên cứu trong phạm vi của giáo dục thì xin hẹn từ từ tôi sẽ viết tiếp.

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.