Bỏ qua nội dung

Thông minh cảm xúc và chỉ số EQ

Tháng Mười Hai 1, 2014

L’intelligence émotionnelle et le Quotient Emotionnel

.

Bài này đã đăng trên Dân Trí ngày 10 và 11.06.2011

https://dantri.com.vn/ban-doc/tim-hieu-ve-thong-minh-cam-xuc-1308006256.htm

https://dantri.com.vn/ban-doc/chi-so-thong-minh-cam-xuc-eq-emotional-quotient-1308009497.htm

 

Ngày Thanh Minh, trước mộ Đạm Tiên, Thúy Kiều than :

thấy người nằm đó, biết sau thế nào”.

Cô đã ý thức được số hồng nhan bạc phận. Cô nhìn người mà lo sợ cho mình. Phân tích tâm trạng Kiều dưới lăng kính tâm lý học hiện đại, ta có thể nói rằng Thúy Kiều là người giàu thông minh cảm xúc. Cách xữ sự của cô, với Kim Trọng, sau mười lăm năm lưu lạc, cũng là một cách thông minh.

Gần ta hơn và trong xã hội hiện nay, vài khi ta cũng gặp những cá nhân “vốn dư nước mắt khóc người không quen”, khả năng mà tiếng Pháp gọi là “empathie” – khả năng đặt mình vào vị trí của người khác – , cảm xúc như họ, đau đớn như họ, thông cảm họ, … Có những nghề rất cần khả năng này, bác sĩ, cứu thương là hai nghề điển hình chẳng hạn, mà các nghiệp vụ khác như cán sự xã hội, người đi dạy, người quản lý nhân sự, thẩm phán xử án, …cũng cần cái vốn cảm xúc, thương mình và thương người, ngoài những khả năng thuần chuyên môn.

Định nghĩa thông minh cảm xúc

Thông minh tức là tìm ra được giải pháp thích hợp, tốt nhất, cho mỗi tình huống.

Thông minh cảm xúc có thể hiểu như một tổng thể gồm nhiều khả năng giúp ta ý thức được những cảm xúc của chính mình, quan sát và thấu hiểu cảm xúc của người khác hầu có thể xử sự một cách mềm dẻo và thích hợp tùy theo mỗi hoàn cảnh, tình thế.

Thiếu thông minh cảm xúc ta có thể cư xử cứng nhắc chỉ thuần theo lý trí.

Thông minh cảm xúc giúp ta sống tốt hơn với những vui buồn giận thương ghét của mình và của người đối diện, để hài hòa hơn với chính mình và trong đối xử với người khác. Người giàu thông minh cảm xúc biết kết hợp những dữ kiện trí tụê với những rung động cấu thành bởi các hình ảnh, tiếng động, …để tiếp nhận và giải quyết vấn đề một cách toàn diện, dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Sống một cách … thông minh chứ không phải sống như thú vật hay cây cỏ. Mà cũng không khô hạn như một người máy – robot – hoàn toàn thiếu vắng tình cảm.

Trong não, thông minh trí tụê được điều khiển bởi phần vỏ não còn thông minh cảm xúc nằm ở phần giữa não.

Người thông minh cả hai là người có một bộ não phát triển cả hai vùng với nhiều sợi liên bào nối hai vùng với nhau.

.

Những “cha đẻ“ của khái niệm thông minh cảm xúc ?

1983, khởi thủy, phải kể Howard Gardner, tâm lý gia người Mỹ, ông bắt đầu chú ý đến những người “giỏi” mà chỉ số IQ (Intelligence Quotient) tầm thường và đưa ra lý thuyết theo đó bên cạnh thông minh trí tuệ còn có những hình thức thông minh khác : về ngôn ngữ, về toán và lý luận, về định hướng không gian, về âm nhạc, về thao tác cử động, ý thức về bản thân (hiểu chính mình) và thông minh xã hội (hiểu người khác).

Hai “loại” thông minh sau cùng này, khả năng hiểu chính mình giúp ta có thể hành động tốt hơn, chọn lựa những giải pháp thích hợp hơn. Còn thông minh xã hội, hiểu người đối diện, giúp ta sống tốt hơn với những phản ứng hợp thời hợp cảnh, hợp lòng người.

Đó là hai khả năng nhân bản, tế nhị, không phải ai cũng có.

Sau này, cũng chính Gardner đề nghị thêm thông minh về môi trường và khả năng triết lý, tự đặt câu hỏi về số phận con người và về các giá trị đạo đức.

Thông minh của con người, theo Gardner, như thế thành một tổng thể, thông minh toàn diện, vừa là cụ thể, lý luận, đo được bằng IQ, vừa tâm lý và triết học.

1990, Peter Salovey và John Mayer, hai giáo sư tâm lý học người Mỹ, cùng nghiên cứu một loại khả năng nằm giửa trí tuệ và cảm xúc : có những cá nhân có khả năng thành lập liên hệ giửa cảm xúc và sự hiểu biết để thích ứng trong hành động. Salovey và Mayer là hai người đầu tiên dùng từ “thông minh cảm xúc”

1995, Daniel Goleman, tâm lý gia và nhà báo, người Mỹ, với cuốn sách «Thông minh cảm xúc», không đưa ra lý thuyết mới nhưng nhấn mạnh vai trò của cảm xúc trong việc làm. Ông đã không ngần ngại khẳng định vai trò của thông minh cảm xúc như yếu tố cấu thành của thành công trong giao tiếp và thành công trong nghề nghiệp, đường đời.

Ông dựa trên các công trình của Salovey và Mayer để đưa ra bốn điều chính :

1+2 : khả năng hiểu và điều khiển những cảm xúc của mình để hành động

3+4 : khả năng hiểu các cảm xúc của người đối diện để phản ứng tốt và điều khiển các quan hệ xã hội

“Quan niệm”, những khẳng định và sự lạc quan của Goleman được báo chí rầm rộ ủng hộ. Phải nói là vấn đề này, thông minh cảm xúc, mở cửa cho một thị trường đầy lợi nhuận : thị trường đào tạo kỹ năng cảm xúc để thành công. Những khẳng định của Goleman lại rất là thích hợp với cảm tính và thị hiếu của dân tình.

.

Chỉ số thông minh cảm xúc (EQ-Emotional Quotient)

.

Trắc nghiệm Bar-On EQ-i được soạn bởi nhà tâm lý học người Mỹ Reuven Bar-On (1997, 2002) là trắc nghiệm được dùng nhiều nhất hiện nay .

Trắc nghiệm này gồm 133 câu khẳng định trên đó “thí sinh” phải trả lời theo một thang từ 1 đến 5 (từ hoàn toàn đồng ý đến hoàn toàn không đồng ý).

Các câu này “nhắm” năm khía cạnh khác nhau của “thí sinh” :

liên hệ với chính mình,

liên hệ với người khác,

khả năng hòa mình tùy theo hoàn cảnh,

khả năng quản lý stress

các tâm trạng thường ngày.

Bar-On EQ-i “cho điểm” bằng cách so sánh những câu trả lời với những dữ kiện đã tích lủy được, với những kết quả “trung bình” của những người đã thử trắc nghiệm trong quá khứ, để định ra chỉ số thông minh cảm xúc của cá nhân làm trắc nghiệm.

Cách “cho điểm” và ấn định chỉ số thông minh cảm xúc này hiện chưa được giới khoa học kiểm nhận (valider) Một trong những lý do là vì bộ nhớ của Bar-On EQ-i chỉ có kết quả của những người đã làm trắc nghiệm chứ không phải kết quả của thành phần mẫu có tính đại diện của dân chúng (échantillon représentative de la population). Như vậy chỉ số thông minh cảm xúc có thể không trung thực.

.

Những bộ phận tuyển dụng nhân viên của các tập đoàn kinh tế và đầu tư quốc tế hiện là những khách hàng trung thành của trắc nghiệm chỉ số cảm xúc. Ngoài ra, các trắc nghiệm này không hay chưa được áp dụng ở các nơi khác vì chưa có bằng chứng rõ ràng.

Dĩ nhiên, khi tuyển dụng một giám đốc nhân sự, một người phát ngôn cho cơ quan, một người đàm phán, … tôi sẽ chọn những ứng viên có nhiều khả năng cảm xúc và những khả năng cao.

Nhưng khả năng cảm xúc cũng như những khả năng khác không thể áp dụng vào giáo dục hay vào đào tạo nhân sự như là những “công thức vạn năng” kiểu các nhà quảng cáo trình bày trên truyền hình hay báo chí mà phải thận trọng nghiên cứu đối tượng, chủ đích, hoàn cảnh, phương tiện, … trước khi đưa vào thực hiện.

.

Thông minh cảm xúc, ứng dụng ở nhà và ở trường ?

.

Ở Bỉ, trắc nghiệm chỉ số cảm xúc và ứng dụng thông minh cảm xúc hiện chưa được thực hiện trực tiếp trong giáo dục. Thế nhưng, một cách gián tiếp, tôn trọng quyền của người đi học, dùng phương pháp sư phạm lấy người đi học làm trung tâm, hay phương pháp hòa giải trong những vụ bạo lực ở trường, … là những ứng dụng trong đó trường học phải chú trọng đến thông minh cảm xúc của học trò.

Trong giáo dục, chúng tôi tôn trọng cách học của học sinh, sinh viên mình và chúng tôi tôn trọng những cảm xúc của các em trong quá trình học hỏi. Đối thoại và dạy theo nhu cầu của các em, gây hăng say hứng thú, … là những cách “lợi dụng” thông minh cảm xúc của các em để cùng học và cùng dạy tốt hơn.

.

Ở Mỹ, có vài tác giả (Richardson & Evans, 1997, Coover & Murphy, 2000) trình những trường thí điểm ứng dụng thông minh cảm xúc để dạy các em, vốn thuộc nhiều chủng tộc và tầng lớp xã hội khác nhau, liên hệ với nhau tốt hơn, đoàn kết với nhau hơn để thành công hơn trong quá trình học hỏi.

.

Gia đình là môi trường quan trọng để phát triển thông minh cảm xúc vì lý thuyết mà nói, trẻ bắt đầu tạo cấu thành cá thể rất sớm, tự định nghĩa mình và học cách sống với xã hội là nhờ gia đình trước nhất. Nếu trẻ được ở trong một gia đình yên ổn, được tôn trọng, được nghe và thông cảm, được giải thích, có cha mẹ cho những mẫu xử sự đàng hoàng với nhau, … trẻ sẽ ít khóc hơn, có khả năng diễn tả cảm xúc của mình sớm hơn, ít bị stress hơn, dễ hòa hợp ở trường học sau đó hơn và ngắn gọn : có thông minh cảm xúc lớn hơn.

.

Một thí dụ cổ điển : một em bé sống trong một gia đình như vừa kể trên, ngày đầu tiên đi học sẽ không bám vào áo mẹ, không khóc lóc mà trái lại, em sẽ tự tin rời cha mẹ đi chơi với những trẻ khác hay đi nắm tay cô giáo mới vì em có định nghĩa cá nhân rất rõ ràng, kiểm soát được cảm xúc mình, có khả năng hiểu tình thế và hiểu nhanh được môi trường mới “biết người biết ta” nói theo kiểu Việt Nam hay compétence intrapersonnelle và compétence interpersonnelle (khả năng tự biết và khả năng biết người), nói theo Goleman, tác giả mà ta đã nói tới ở trên.

.

Tạm kết luận ?

Liên hệ giửa chỉ số thông minh và chỉ số cảm xúc – IQ và EQ ?

.

Khái niệm thông minh cảm xúc xuất hiện khoảng thập kỷ 1990, tức là còn rất mới mẻ, khi ta bắt đầu thấy rằng một số người có IQ cao, thông minh trí tuệ xem là giỏi, nhưng không thành công trong đời. Trái lại, có người khác, IQ thường thôi nhưng lại gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp.

Mặt khác, những phê bình tiêu cực về những giới hạn của các trắc nghiệm IQ làm cho mọi người đi tìm giải thích khác về khả năng của con người.

Và giả thuyết đầu tiên nổi lên : thông minh cảm xúc ?

Hiện thời, chưa có nghiên cứu cho biết có liên hệ (hể IQ cao thì EQ cũng cao) hay loại trừ (cao cái này thì thấp cái kia) giửa hai loại thông minh này.

Ở đây, tôi không trở lại những nhận xét về giá trị tương đối của chỉ số IQ. Dù tương đối, IQ đo khả năng trí tụê tức là khả năng về ngôn ngữ, về lý luận, về phân tích vấn đề, …để tìm ra giải pháp. Các trắc nghiệm IQ đã mang lại, từ một thế kỷ nay, những chứng cứ khoa học kiểm nhận giá trị cũng như những giới hạn của chúng.

Thế nên, hiện thời ta chỉ có thể nói, dựa trên những khái niệm của Gardner, là con người có nhiều loại thông minh chứ không chỉ có khả năng trí tuệ.

Tình cảm cá nhân, những xúc động, sự kiên nhẩn, tự tin, hăng say, hứng thú, thương người, cũng như chán nản, giận dữ, … là những cấu thành của cá thể.

Khả năng ý thức được cảm xúc của người đối diện, thông cảm người đối diện, … giúp ta giải quyết những vấn đề tốt hơn.

Tất cả đúng là một hổn hợp thông minh đa diện, vừa trí tụê vừa cảm xúc

Nhưng chúng ta phải chờ bằng chứng khoa học trước khi khẳng định rằng thông minh cảm xúc là chìa khóa của thành công.

Trong lúc chờ đợi, có lẻ ta nên giúp hay “dạy” các bậc làm cha mẹ lưu ý tới tầm quan trọng của liên hệ với con cái chứ không nên cậy học đường làm tốt hơn thông minh cảm xúc của con mình .

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

Đã đóng bình luận.

%d bloggers like this: