Skip to content

Lại bàn về «sống thử»

Tháng Mười Hai 21, 2014

Encore quelques propos sur la cohabitation sans mariage

.

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng đã có cuộc hội đàm với sinh viên và giới trẻ về sống thử

http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/211882/tranh-cai-gay-gat-giua-gs-lan-dung-va-cac-ban-tre-ve-song-thu.html

Tựu chung, qua bài báo này ta thấy một số ý sau đây của gs:

. Sống thử được so sánh ngang hàng như sự nguy hiểm của việc hút thuốc lá, tai nạn giao thông

. Một hậu quả có thể là phải nạo phá thai, và nguy cơ dẫn đến vô sinh sau này

. Tỷ lệ ly hôn vì mâu thuẫn lối sống là 27,7% mà nguyên nhân do sống thử gây nên

. Đối với người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, ta đều coi trọng trinh tiết và khắt khe với sống thử

. ..

Cuối cùng, kết luận của gs Dũng là

« Sống thử giống như cây đinh đóng vào tấm ván, khi dứt ra cả hai đều hỏng. Cho nên, muốn hạnh phúc thì nói KHÔNG  với sống thử ».

.

Dĩ nhiên, gs Nguyễn Lân Dũng có quyền đưa ý kiến của ông, quan niệm riêng của ông. Ông cũng là hiện thân của một nhà giáo bảo vệ đạo đức truyền thống.

Nhưng người khác cũng có quyền không đồng ý với ông.

Dưới đây xin được trình bày một số vấn đề tổng quát, đi từ những kiến thức dựa trên những biến đổi từ ba phần tư thế kỷ – tuổi của gs Lân Dũng – , những ảnh hưởng của bối cảnh thông tin toàn cầu và tiếp biến văn hóa.

.

Trước nhất, vấn đề ngôn từ

«Sống thử» là tiếng để chỉ tình trạng sống chung như vợ chồng của một cặp đôi không hay chưa cưới hỏi.

Nhóm chữ «sống chung không cưới hỏi» hay «sống chung không hôn nhân» thể hiện đúng hơn hiện trạng.

Cũng nên chủ ý rằng cách đây nửa thế kỷ, ở trời Tây chữ «sống thử» (mariage à l’essai) cũng đã được dùng, đồng thời với những chữ khác như sống chung trước đám cưới (cohabitation prénuptiale) và hơn nữa sống chung của hai người trẻ (cohabitation juvénile).

Chữ trẻ lúc đó được dùng vì « sống thử » thường là cách hành động của sinh viên xa nhà vì những lý do khác nhau, để lấp đầy sự thiếu thốn gia đình, để tiết kiệm tiền nhà tiền sinh hoạt phí và nói cho cùng để tiết kiệm thì giờ nữa – vì trong thời dụng biểu dày đặc của học hành, hẹn hò tốn nhiều thời gian lắm để gặp nhau để viết thư cho nhau.

Bên ta hiện cũng vậy, sống thử thường là sống thử của sinh viên.

Thành phần xã hội thứ nhì cũng đi vào sống thử là các người nổi tiếng.

Nhưng cũng phải kể thêm một số công nhân trong các khu công nghệ.

Thật ra, người viết bài này chưa có dịp đọc các nghiên cứu về hiện trạng sống thử ở xã hội Việt Nam. Ba thành phần vừa kể trên sinh viên, công nhân và người nổi tiếng được biết bởi các phóng sự hay các bài báo trên mạng.

Sau thời gian sống thử, có thể cặp đôi

. đi tới hôn nhân và cuộc sống thử có một kết cuộc có hậu

. chia tay nhau, “tình nghĩa đôi ta có thế thôi”

Ở châu Âu, kết cuộc còn có thể là

. tiếp tục sống chung, sinh con đẻ cái nhưng từ chối kết hôn

.

Không có con thường là đặc điểm của cặp đôi sống chung mà chưa đám cưới – vì hoàn cảnh còn tạm thời- . Hơn nữa, vị trí xã hội của họ chưa ổn định. Họ sống chung trước đám cưới, không những được thỏa mãn yốu tố tình cảm mà còn có thể cùng nhau nâng đở để gầy dựng tương lai chung.

Vấn đề “sống thử” tôi đã phân tích ở đây:

https://huynhmai.org/2014/01/09/song-thu-thu-nhin-dien-tien-o-troi-au/

.

Đối với một nhà xã hội học, đám cưới là gì ?

Là hình thức nhìn nhận pháp lý (giấy kết hôn),  xã hội (tiệc tùng và nhận được quà và lời chúc Phúc của bà con họ hàng bạn bè) tâm linh (trước bàn thờ ông bà hay trước vị giám mục. Những người có tôn giáo cần sự chứng giám của đấng tối cao theo đạo của họ của một cuộc sống vợ chồng).

Ba nhìn nhận này chứng minh sự long trọng của liên hệ vợ chồng – một liên hệ mang nhiều tính xã hội hơn là tính riêng tư cá nhân của hai người trong cuộc.

Ngoài ra, cặp đôi, dưới góc nhìn xã hội học, không cần phải có đám cưới mới thành vợ chồng.

Xin giải thích

Cuộc sống vợ chồng hiện hữu khi hai cá nhân quyết định điều đó. Họ sống chung, họ thiết lập với nhau những liên hệ vừa tình cảm vừa kinh tế tài chính vừa xã hội tâm lý dĩ nhiên rồi. Những liên hệ sinh lý nữa. Họ sinh con đẻ cái và lập nên một gia đình mới, đúng nghĩa của nó.

Đó là chuyện của hai cá nhân. Như thế thì một cách cực đoan, không cần pháp lý, không cần xã hội, không cần tôn giáo: hai người quyết định nên vợ nên chồng là đủ.

Dĩ nhiên, cặp đôi phải đủ phán xét và hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của mình – tiếng Pháp nói họ là những người trưởng thành và đủ miễn nhiễm – adultes et vaccinés –

Khởi thủy, nhất là trong các xã hội truyền thống, hôn nhân là một định chế xã hội. Hôn nhân của hai người trẻ có liên hệ đến cả dòng họ – có người nối dỏi tông đường, giải quyết các vấn đề kinh tế tài chính của việc sản xuất (vấn đề thách cưới hay vấn đề của hồi môn và xa hơn nữa vấn đề thừa kế). Chính vì thế mà đám cưới cần phải long trọng – contrat solennel – để nhấn mạnh tầm quan trọng của hôn nhân, để cả xã hội biết và nhìn nhận cặp đôi mới. Tiệc ăn uống là dịp để … đôi trẻ ra mắt hai họ và bạn bè, đánh dấu rằng từ đây cô X thành dâu con của nhà Y.

Luật hôn nhân ở đó để chính thức hóa và để tổ chức quyền lợi và bổn phận, vị trí xã hội mới của các đương sự.

Bài này bàn về hình thức đám cưới:

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/dam-cuoi-duoi-goc-nhin-xa-hoi-hoc-766102.htm

.

Hiện ở châu Âu, không kể hiện tượng sống tạm thời để tìm hiểu trước khi cưới, trên một trăm cặp đôi những người đã quyết định sống chung vĩnh viễn có gần phân nửa không thấy cần thiết phải làm đám cưới.

Tại sao ?

Tại vì chuyện sống chung như vợ chồng đã thành chuyện riêng tư của hai cá nhân, họ không cần xã hội hay tôn giáo … chứng giám. Nhất là từ 1982 ở Bỉ, con sinh ra bởi hai cha mẹ có giá thú hay không đều có những quyền ngang nhau – từ quyền được nuôi dưỡng tới quyền được thừa kế khi cha mẹ khuất bóng -.

.

Trở lại ý kiến của gs Nguyễn Lân Dũng,

. Nguy hiểm của thuốc lá hay tai nạn giao thông, … đã có những nghiên cứu và thống kê cho thấy. So sánh nguy hiểm của “sống thử” với hậu quả của thuốc lá, uống rượu hay tai nạn giao thông có lẻ chỉ là một kiểu … nói chơi.

. Còn vấn đề hiểu biết về sinh sản, ngừa thai thì không phải chỉ những cặp sống thử mới cần có mà phải làm sao mang kiến thức giới tính đến cho tất cả mọi người, kể cả những người có kết hôn … dưới mặt trời và  có bà con chứng giám, để họ chủ động trong việc tổ chức hay kế hoạch hóa gia đình họ.

(còn tiếp – phần kế sẽ bàn về ảnh hưởng của các văn hóa và sự tiếp biến văn hóa)

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.