Skip to content

Khi các nhà giáo đi nghỉ hưu

Tháng Chín 24, 2015

Que font les enseignants une fois retraités ? Ou l’histoire de Ferdinand, Jacques et Marianne.

.

Năm học mới bên này đã bắt đầu từ hai tuần. Năm học cũ chấm dứt. Đó cũng là lúc một số nhà giáo, tuổi đời từ 65-67, đi về nghỉ hưu: Ferdinand, Jacques và Marianne là ba người tôi quen trong số các giáo sư ở Đại học Liège về hưu năm nay.

.

Ferdinand hành nghề bác sĩ và dạy ở Đại học Y khoa Liège.

Kín đáo, ông từ chối các tiệc tùng lễ lộc mà các nơi đề nghị để mừng ngày ông đi nghỉ hưu. Đối với ông đó là kiểu  … văn điếu đám ma cho người còn sống.

Ông muốn rời việc làm “nhẹ nhàng trên đầu ngón chân” – sur la pointe des pieds – như thành ngữ Pháp nói, không trống không kèn, như ông vẫn hành xử suốt đời làm việc của ông.

Khiêm tốn, ông phải khiêm tốn thôi vì khi xưa, các con của ông thường vẫn trêu – một cách để vượt qua mặc cảm Oedipe đấy mà:

Cha ơi cha biết làm gì? Cha không biết đàn, cha không biết hát. Đến luộc quả trứng cha cũng phải nhờ mẹ. Suốt đời con ở nhà cha chỉ nấu cơm có vài lần, những lúc mẹ không có thì giờ làm sẳn các món ăn và đông lạnh trước khi đi vắng.

Ferdinand có vợ và ba con. Gia đình ấm cúng. Hai vợ chồng lấy nhau từ hơn bốn mươi năm. Các con của ông đều đã tự lập từ lâu, hai cháu nhỏ tiếp tục nghề giáo như cha, một đứa ở Anh và đứa kia ở Canada. Anh con trai cả của Ferdinand là đứa duy nhất ở Bỉ và thỉnh thoảng đưa hai con của anh về thăm ông bà nội – mang đến cho Ferdinand vài niềm vui trong lúc tuổi già.

Anh con cả này vẫn kể là Ferdinand rất yêu các cháu. Thậm chí có hôm cả đại gia đình đang dùng bữa, cháu bé, lúc đó chỉ hơn hai tuổi, chơi dưới gầm bàn, gọi “ông nội, xuống “nhà” đua xe với con”. Thế là “ông nội” rời bỏ thế giới của người lớn, cùng chui xuống gầm bàn và … “Vrùm Vrùm” miệng bắt chước tiếng động cơ để vào cuộc với cháu.

Vợ của Ferdinand thì quán xuyến lo trong lo ngoài cho cả gia đình vì chồng bà đi sớm về muộn, không thể nào tổ chức để có thể đón các con, hồi chúng còn nhỏ, lúc tan trường hay đưa chúng đi học bơi, học nhạc, …Ông lại còn phải đi dự các hội nghị quốc tế, đi đông đi tây khi ai đó mời dạy hay tổ chức seminar.

Thế nhưng ông lúc nào cũng hiện diện để tiếp sức với bà trong đối thoại cùng các con. Những lúc gia đình sum vầy là những lúc sống với nhau theo đúng nghĩa chứ không phải bận tâm lo cơm nước, giặt giủ hay quét dọn nhà cửa.

Chưa hết, Ferdinand cũng dựa trên vợ cho việc …quản lý: mãi tới lúc phải làm giấy tờ về hưu, Ferdinand mới biết mức lương ông lảnh từ mấy chục năm nay. Nếu không, chuyện quản lý tài chính, ông giao hết cho bà nội tướng. Các việc như dùng banking online để trả các hóa đơn, điền giấy khai thuế, đi vay hay trả tiền để mua nhà, … ông hoàn toàn chỉ … nhìn từ xa.

Bác sĩ, nhưng Ferdinand vẫn từ chối mở phòng mạch tư. Ông thường nói với sinh viên rằng “tôi muốn khám mỗi bệnh nhân tùy trường hợp – có khi chỉ cần mươi phút, có khi cần đến cả giờ – cuối tháng, nhà thương trả lương khoán chứ tôi hoàn toàn không có liên hệ tiền bạc với người bệnh”. Học trò của ông, tới bây giờ, vẫn nhắc lại câu này khi nói về ông.

Còn nữa. Hiện thời sự ở trời Âu nóng lên với vấn đề người tị nạn. Cách đây hơn hai năm, Ferdinand đã, với sự góp sức của vợ ông, “huy động cả trời đất” (remuer ciel et terre) để đón một gia đình người Syria thoát chiến tranh sang Bỉ – Gia đình đó vốn là gia đình của một bác sĩ nội trú, hồi trước, được đào tạo tại Liège – .

Khi Ferdinand còn là sinh viên, ông đi biểu tình chống chiến tranh ở Việt Nam. Bây giờ, lúc về hưu, ông chống chiến tranh ở Syria…Chính trị và Triết lý là hai lĩnh vực mà Ferdinand rất yêu thích. Có lẻ ông sẽ dùng thời gian rảnh rổi khi nghỉ hưu để đào sâu những câu hỏi của hai ngành này.

.

Jacques là một bạn thân của tôi lại ở gần nhà. Chúng tôi thường gặp nhau ở …siêu thị, lúc đi chợ.

Trong bài này

https://huynhmai.org/2014/05/31/cham-pha-vai-nhan-vat-xung-quanh-toi/

tôi có miêu tả Jacques, một giáo sư bên Khoa học ứng dụng, như một điển hình của giới thượng lưu. Mà đúng vậy, giáo sư Đại học, lương gấp đôi mức lợi tức của 50% dân tình và gấp bốn mức nghèo, Jacques thuộc giai cấp giàu, Lại được trọng vọng, địa vị xã hội cao, đúng theo định nghĩa của xã hội học.

Điều mà tôi định nói ở đây là sau một đời làm giáo sư, Jacques có hơn 200 công trình nghiên cứu đã đăng báo, chỉ số H của anh ấy ở vào khoảng 60 (chỉ số cở này là thuộc hạng “xuất chúng”, nhưng anh vẫn giản dị như một người thường dân!) và anh có hai bằng sáng chế – brevet hay patent – được bảo vệ cho hai phát minh của anh.

Độc thân, anh vừa làm khoa học vừa lo tất cả chuyên nhà  (đi chợ, cơm nước,cắt cỏ, làm vườn, …). Ngoài ra, Jacques cũng thường dự các hội hè đình đám để gặp gỡ bạn bè, xã stress và kết nối liên hệ xã hội.

Nghỉ hưu, Jacques đã tính trước từ lâu và sắp sẳn lịch, mỗi năm hai kỳ, đi châu Phi, cùng với Hội Kỹ sư không biên giới để dạy học hay mang chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển.

Thời gian còn lại ở Bỉ thì Jacques tiếp tục làm việc giúp, không công, các spin off hay start up, các xí nghiệp mà Đại học … ươm mầm và nâng đỡ để mang vào ứng dụng các phát minh của Đại học.

.

Nghỉ hưu chỉ là một mấu thời gian. Jacques cũng như nhiều giáo sư Đại học khác tiếp tục sinh hoạt. Lương hưu, khoảng trên dưới 60% lương trung bình của cuối đời đi làm, lại đóng thuế ít hơn nên còn lại trong túi mỗi tháng tầm 4000€, Jacques không phải bận tâm về điều kiện sống. Anh ấy lại nói “tôi chưa bao giờ thấy một quan tài kéo theo két sắt” – ngầm ý rằng làm giàu thêm vô ích, lúc chết đi cũng không mang theo được gì.

A, cũng trong bài vừa dẫn ở trên, tôi có nói rằng Jacques sẽ “để những gì anh đã dành dụm được suốt đời, sau này, cho một tổ chức khoa học chuyên khuyến khích các kỹ sư trẻ trong việc tìm tòi nghiên cứu”.

.

Nói chuyện … hậu sự dẫn tôi đến chị Marianne.

Marianne là một nhà Toán học. Ở Đại học có rất ít giáo sư nữ. Ở ngành Toán còn ít phụ nữ hơn nữa. Marianne là giáo sư nữ duy nhất ở phân khoa của chị trong rất nhiều năm. Hiện người kế nghiệp chị cũng là một nam giáo sư nữa mà.

Theo khoa học và làm phụ nữ là hai “nghề” khó thực hiện cùng một lúc.

Nhưng ở đây tôi không bàn về nữ quyền. Chỉ muốn kể chuyện của Marianne: sau ba mươi năm làm Toán, nghỉ hưu, Marianne đổi nghề hoàn toàn: từ một năm nay, chị theo các lớp học buổi tối về cách chăm sóc các bệnh nhân ở cuối đời. Chính tôi gặp chị và quen với chị ở những lớp đó.

Tâm lý của những người ở cuối đường hầm, những nhu cầu của họ, làm sao giúp họ giữ giá trị sống ở thời điểm đó, … là những vấn đề Marianne đi tìm hiểu ở lớp huấn luyện này.

Tôi đã gợi ý chị Marianne đọc “Une mort très douce – Một cái chết nhẹ nhàng”, sách của Simone de Beauvoir. Chị ấy cũng ở vào độ tuổi của tôi, cũng đã đọc Simone de Beauvoir lúc trẻ, … “Đồng thanh tương ứng”, hai chúng tôi thân nhau rất nhanh.

Sau khi về hưu, Marianne vào đầu quân, làm thiện nguyện,  cho một Trung tâm chăm sóc người bệnh, thường là bị ung thư hết trị được, sắp qua đời (Centre de soins palliatifs). Chị sẽ hai ngày mỗi tuần, mang đến cho những người sắp lìa dương thế một hổ trợ tinh thần, vài săn sóc cần thiết, …Có khi chỉ cần ngồi cạnh họ hay đọc sách cho họ nghe, … để họ sống đẹp nhất có thể và ra đi trong yên ổn.

Những Trung tâm này có y bác sĩ và cán sự xã hội, nhưng sự góp sức của những người không chuyên môn lúc nào cũng cần thiết, như một giá trị gia tăng hay thêm vào cho những người ở cuối đường đời.

.

Kết luận của tôi về các giáo sư về hưu?

Họ tiếp tục sống một cuộc sống có ý nghĩa.

Ngoài những nhân vật tôi mô tả ở đây, đại đa số các giáo sư về hưu vẫn tiếp tục sinh hoạt khoa học hay sinh  hoạt xã hội, ít nhất là trong vài năm, lúc họ còn khoẻ. Để tiếp tục có ích cho cộng đồng và cũng để duy trì khả năng trí tuệ của mình.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

Đã đóng bình luận.