Skip to content

Hiện tượng “yêu mình quá độ” (narcissisme)

Tháng Ba 10, 2016

Trước khi vào đề, xin báo là trang wikipedia tiếng Việt về “yêu mình thái quá”

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A2n_c%C3%A1ch_y%C3%AAu_m%C3%ACnh_th%C3%A1i_qu%C3%A1

dựa trên DSM-IV TR xuất bản năm 2000, không còn cập nhật.

Phiên bản DSM-V, (xuất bản năm 2013) có một số thay đổi, loại bỏ khẳng định về “bệnh lý” và nhấn mạnh trên khía cạnh “đặc điểm nhân cách” của hiện tượng.

Nếu cần thì trang này, tiếng Anh, phân biệt impairments và pathological personality

https://en.wikipedia.org/wiki/Narcissistic_personality_disorder

.

DSM là chữ tắt của “Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders” – Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về các bệnh tâm thần – DSM được xem như sách gối đầu giường của các bác sĩ thần kinh. Hiện cẩm nang này đã ra đời phiên bản thứ năm (DSM-V).

Bài này có tham vọng bàn về hiện tượng yêu mình quá độ trên tổng thể, vừa tâm lý, vừa xã hội, không dựa trên wikipedia mà dùng trực tiếp vài tài liệu, những sách kinh điển hay những nghiên cứu gần đây nhất, tin cậy được .

Dẫn nhập từ những thí dụ và quan sát cụ thể

Trong Opera “Faust” có bài Air des bijoux (Nhạc các món trang sức), nhân vật Marguerite hát «Ah! je ris de me voir si belle en ce miroir» (A, tôi cười vì nhìn thấy mình rất xinh đẹp trong gương). Cô Marguerite có thể không là người tự yêu mình, nhưng cô hạnh phúc với sắc đẹp của mình.

Trên đường đời, ta thường gặp một số người tự cao tự đại. Họ nghĩ rẳng họ giàu hơn thiên hạ, đẹp hơn mọi người hay có quyền cao thế mạnh. Những người này “tự mãn” hay “yêu mỉnh quá độ”. Trong nhóm chữ “yêu mình quá độ” gồm có, ít nhất, sự thoả mãn với mình, nhu cầu được thiên hạ tôn sùng và cuối cùng sự vô cảm với tha nhân.

Một người đẹp, như Miss X hay Y , thường không biết kín đáo e lệ, cần có nhiều fans và hoàn toàn không thiết tha tới số phận của các người tôn sùng mình.

Yêu mình quá độ khác với tự tin.

Tự tin rất cần thiết. Tự tin để sống ổn với mình và thuận hòa với người khác. Nhưng yêu mình quá độ không còn là một tính tốt. Trái lại nó làm cho liên hệ xã hội thành khó khăn. Có khi còn là một bệnh tâm thần, phải nhờ bác sĩ can thiệp chữa trị.

Xin nhắc lại, định nghĩa của “bệnh” là khi chính đương sự thấy không ổn, khổ sở và đi tìm bác sí giúp đở. Còn nếu cá nhân không than vản thì đó là tình trạng được xem như bình thường – dù cho cái thương mình quá độ của ai đó là một “bình thường làm người xung quanh khó chịu”.

Nét đầu tiên của người yêu mình quá độ là tự cho mình một giá trị cao, lúc nào cũng tìm cách bắt xã hội nhìn nhận giá trị của mình, tìm cách được… sùng bái. Đôi khi họ cứ xem mình như một thánh thần, hơn tất cả mọi người.

Phải được ưu tiên và muốn cái gì là phải có cái đó.

Một số nghệ sĩ như thế.

Một số người có quyền lực cũng như vậy,

Họ không biết thương cảm, chỉ nghĩ tới cá nhân mình.

Trong giao tiếp, rẫt khó tiếp cận những người yêu mình quá độ vì họ hành xữ trong xã hội mà cứ như là đi … trên mây và xem những ngưởi khác là …côn trùng hay rơm rác, không đáng kể đối với họ.

Họ ích kỷ, không có khả năng yêu ai khác ngoài chính bản thân. Họ lôi hết các vấn đề về “cái tôi” của họ. Tự xem mình như trung tâm của vũ trụ.

Có những … “dân tộc” yêu mình quá độ. Thí dụ về trường hợp người Mỹ chẳng hạn. Đất rộng người thưa, dồn dân thổ cư vào những chỗ hang cùng góc hẹp rồi chiếm đất “mới” và làm giàu. Thêm vào, nhờ những cuộc di dân ồ ạt sau đó, nước Mỹ phát triển nhanh cả về kinh tế và về khoa học, Mỹ thành đại cường quốc và không còn phải sợ ai hết. Mỹ lại đã có công giúp chấm dứt Thế chiến thứ II. Đơn vị tiền tệ của Mỹ, đồng đô la, được dùng trong hầu hết các giao dịch thương mại thế giới, … Nước Mỹ thành vĩ đại dưới mắt người Mỹ. Một trong những biểu hiệu của cái tự tôn Mỹ là họ không …cần biết ngoại ngữ

đúng ra là rẫt ĩt người Mỹ cố gắng dùng tiếng Pháp hay tiếng Tây ban Nha để tiếp cận sâu về các văn hóa xưa. “Văn hóa yêu mình quá độ” ở Mỹ sẽ được đề cập sau, với tác giả Christopher Lasch.

Trường hợp Việt Nam và … mặc cảm tự tôn?

Hãy thôi say sưa tự ca ngợi mình” – Bài này của tác giả Phan Hồng Giang có thể làm ta suy nghĩ:

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/287117/hay-thoi-say-sua-tu-ca-ngoi-minh.html

Tự hào về quá khứ không có gì bất bình thường nhưng thương mình quá độ có thể là một cái phanh cho tiến bộ.

.

Yêu mình quá độ” hay “yêu mình thái quá” – Vấn đề ngôn từ

Thái quá” hay “quá độ” đều mang khuyết điểm là ẫn ý hiện tượng như tiêu cực, cần loại bỏ. Thật sự yêu mình quá độ có thể không hoàn toàn tiêu cực. Người yêu mình quá độ có thể sống hạnh phúc kiểu như thế, Tác giả bài này chuộng “quá độ” hơn “thái quá” vì “quá độ” thuần tiếng Việt lại hàm ý nghĩa cân đo được, đúng theo trào lưu tâm lý học hiện thời. Nhưng xin để các nhà ngôn ngữ học trong nước quyết định. – hiện trong khuôn khổ của bài này, xin tạm dùng chữ “quá độ”.

Theo chữ Pháp hay Anh, tên Narcisse (trong từ narcissisme) đi từ truyện thần thoại Hy lạp. Narcisse là con trai của một nữ thần và một vị thần của sông ngòi. Đẹp trai, ai tới gần Narcisse đều yêu chàng nhưng anh chỉ biết yêu bóng mình mà anh thấy trên mặt nước. Đồng thời anh thờ ơ khinh miệt tất cả những người khác. Cuối cùng thì anh chết đưối vì muốn hôn bóng mình dưới nước. Tên anh được đặt cho một loài hoa mọc lên gần đấy. Hoa Thủy Tiên.

Bài học của câu chuyện thần thoại này?

Người yêu mình quá độ không có khả năng yêu người khác nhưng có khả năng lôi kéo quyến rũ tha nhân. Thế nên người yêu mình quá độ thường gây khổ sở cho người khác.

Có khi người yêu mình quá độ ý thức được sự bất lực hay sự vô cảm của mình. Lúc đó thì chính bản thân người yêu mình quá độ sẽ khổ sở và có thể đi đến trầm cảm hay tự tử. Narcisse trong chuyện thần thoại Hy lạp chết thế đó.

Tranh (chi tiết, của Roger Raveel,1993) - chụp lại bởi M. Poirrier

Nhìn mình trong gương? Tranh (chi tiết, của Roger Raveel,1993) – chụp lại bởi M. Poirrier

.

Tự tin, tự ti và yêu mình quá độ

Một người … bình thường có đủ tự tin để sống, để đối diện với những khó khăn trên đường đời, như khi bị thất bại trong công việc, khi mang tang, khi phải xa bạn tình… họ có khả năng vượt khó. Cũng cái tự tin đó giúp họ giao tiếp, sống với người khác, vừa hiểu người đối diện vừa tự trọng để bảo vệ cá thể của mình.

Một người mang mặc cảm tự ti thì mọi chuyện không được như thế. Nhút nhát, xấu hổ, sẳn sàng để tha nhân đạp trên chân mình…

Một người yêu mình quá độ lọt vào trường hợp trái ngược (1)

. tự cho mình có giá trị cao hơn tất cả mọi người khác

. tự xem mình như “đối tượng cần được yêu thương, đáng được tôn thờ”

. không có khả năng chấp nhận phê bình

. sẽ chạy trốn, từ bỏ liên hệ xã hội khi bị phê bình

. không có khả năng yêu người khác.

Hứa sẽ yêu để được yêu, song khi được cho phần mình xong thì quên bổn phận đáp lễ.

. không có khả năng nhận thấy họ làm khổ người xung quanh,

. không bao giờ có mặc cảm tội lỗi

. …

Từ đâu ta thành yêu mình quá độ?

Không có một nguyên nhân duy nhất. Mỗi trường hợp hầu như có một hay nhiều nguyên nhân đặc thù (2).

Xã hội học giải thích hiện tượng như kết quả của hệ thống những liên hệ xã hội. Con người vốn được định nghĩa như là một sản phẫm của hoàn cảnh – cái kiểu “thời thế tạo anh hùng” –

Người yêu mình quá độ có thể là do ảnh hưởng của giáo dục gia đình.

Một cha hay mẹ có lúc nào cũng đặt con trên bệ cao kiểu mà người nói tiếng Pháp gọi là enfant-roi xem con như vua như chúa nhưng lại có lúc ruồng bỏ hay bắt trẻ phải thực hiện những dự án không tưởng,… Trước những hoàn cảnh đó, trẻ có thể bị bất ổn, bị thương tổn, … nên cháu phải tìm một lối thoát. Lối thoát có thể là tự vệ, thương mình quá độ để tự có cảm tưởng bình an, để giảm thương tổn.

Đôi khi cha mẹ lại dùng con như một phương tiện để khẳng định hay làm tăng giá trị của bản thân thì tới lượt trẻ, đứa con cũng sẽ yêu mình quá độ, thực hiện theo “mẩu” của cha mẹ.

Có những trường hợp trẻ có cảm tưởng rằng cha mẹ cháu không để ý đến cháu. Yêu mình quá độ có thể là phản ứng của cháu trong trường hợp đó vì cháu có nhu cầu … được hiện hữu trong mắt của cha mẹ.

Nơi người trưởng thành, yêu mình quá độ có thể là một tư cách riêng, cũng có thể là một cách chiến đấu để có một chỗ đứng dưới mặt trời, hay là phản ứng chống lại một mặc cảm tự ti nào đó.

Có một điều chắc chắn: yêu mình quá độ không đi từ di truyền hay sinh học – không vì gien hay một bất bình thường của não bộ – mà đi từ hoàn cảnh xã hội.

Nhà phân tâm học Sigmund Freud giải thích hiện tượng một cách khác (3).

Theo Freud, trong quá trình cấu tạo bản thể, giai đoạn tự khám phá những khoái cảm tình dục, lúc trẻ chưa có đối tượng nào khác ngoài chính bản thân mình. Đó là lúc yêu mình sơ khởi (narcissisme primaire).

Tiếp sau đó, trẻ mới khám phá ra người khác – mà người gần nhất, là gia đình, những người săn sóc bé. Đó là quá trình “từ mình ra người khác, yêu mình và yêu người khác vì người khác tạo cho mình những khoái cảm”… Kế đến, người khác có thể là một đối tượng yêu thương. Quá trình này cần sự … trưởng thành của trẻ, với khả năng biết cân đo, thiết lập và lựa chọn những cân bằng cần thiết.

Một số trẻ không đạt được tiến triển ấy và một lúc nào đó ở vào tình trạng xung đột giữa muốn yêu mình và muốn yêu người khác. Sự lựa chọn giữa hai giải pháp rất khó khăn cho các cháu ấy. Rốt cuộc cái “muốn yêu mình” ở lại và chúng trở thành một “bản thể yêu mình quá độ” cho đến lúc trưởng thành.

Có lúc Freud đã dùng bản ngã yêu mình quá độ để giải thích hiện tượng đồng tính luyến ái – yêu người giống mình, cùng giới tính với mình – nhưng đó là một chuyện khác.

.

Cũng trong đường hướng tâm thần học, Erich Fromm ( trong L’Art d’aimer) quan niệm phải yêu mình trước mới có thể yêu người khác. Còn nhà tu Michel Quoist (trong hai quyển Aimer và Donner) quan niệm rằng yêu người khác phải nhất thiết bao gồm khái niệm “chia sẻ hay cho đi” tức là quên mình – Đây cũng là những vấn đề khác – dù có liên hệ với khái niệm yêu mình quá độ. Vì nếu nói như Paul Denis, “người yêu mình quá độ vừa là chủ thể vừa là đối tượng của tình yêu đó” (4).

Một đứa trẻ, khi chơi, tự cho mình một vai trò quan trọng như thần thánh, như superman, như anh hùng, … là tự nhiên, chấp nhận được. Đó là do trí tưởng tượng phong phú của bé. Nhưng một người lớn tiếp tục nghĩ rằng mình hơn thiên hạ, phải đi trên thảm đỏ, … là một người lớn chưa hay không …trưởng thành.

Y khoa về tâm thần, kể từ khoảng thập niên 1980 xếp hạng và mô tả bệnh yêu mình quá độ một cách rõ ràng với danh sách các tiêu chỉ bệnh lý. Về lâm sàng, đó là những người tự tin ở giá trị mình một cách thái quá, không chú ý đễn người khác, cái gì thuộc về mình cũng vĩ đại, không biết thương người, thích thống trị. Dịch tể học góp sức vào và cho thấy những nhóm có nhiều rũi ro mắc bệnh này (những ngành nghề như giới lảnh đạo chính trị hay lảnh đạo kinh tế chẳng hạn).

Nhà tâm lý và tâm thần học Theodore Millon phân biệt (5)

Theodore Millon (1928 – 2014) là một trong những tác giả của DSM-IV (Cẩm nang xếp loại các bệnh tâm thần – ấn bản lần thứ tư, đã nói ở đầu bài).

. người yêu mình quá độ thích thống trị và khai thác tha nhân, lúc nào cũng huênh hoang khoe tài khoe của. Trong các ảnh nhóm thì chen vào đứng ở vị trí trung tâm. Sẳn sàng xóa tên người khác trong báo cáo để thay vào bằng tên của mình

. người yêu mình quá độ chuyên quyến rũ thiên hạ, triệt hạ thiên hạ bằng những đòn “duyên dáng ngọt ngào” Mẫu Cleopatra có thể thuộc vào hạng yêu mình quá độ này. Các nghệ sĩ thường thuộc mẫu quyến rũ thiên hạ, thích được vây quanh bởi đám đông fans.

. người yêu mình quá độ bất mãn, trách thiên hạ không biết giá trị của mình – đây là hình thức điền hình của những kè sĩ thời xưa, bên ta, không tham chính nhưng lớn tiếng bảo rằng thời thế không biết dùng mình.

. người yêu mình quá độ một cách kẻ cả và độc tài. Lịch sử thế giới có đầy những nguyên thủ quốc gia thuộc mẫu người này.

. người yêu mình quá độ thái quá trong mọi trường hợp.

Dĩ nhiên, cách xếp loại này giúp ta hiểu hơn các “hạng” người tự cao tự mãn. Tựu chung, đó chỉ là những biến thể của hình thức yêu mình quá độ. Đồng thời, xếp loại này gặp nhiều khó khăn vì đúng ra, yêu mình quá độ gồm nhiều biến thái – có người yêu mình quá độ nằm trong mô tả của gần hết các hình thức trong danh sách này. Cách xếp hạng thành … vô dụng.-

 

Yêu người khác và yêu mình quá độ có thể …sống chung hòa bình hay không?

Thông thường các bác sĩ tâm thần trả lời là không. Yêu người khác là mở rộng vòng tay đón tha nhân và sẳn sàng chấp nhận thay đổi – trong đó có khả năng làm giàu cho bản thể cá nhân hoặc, trái lại, hy sinh bản thể cho tha nhân. Người yêu mình quá độ không chấp nhận sự xâm lấn nào từ bên ngoài mà xem đó như một đe dọa cho chính bản thân. Người yêu mình quá độ xem bạn đời như một kẻ ngoại lai, hay tệ hơn, một cạnh tranh, một đối thủ có hại.

Sau này, Alberto Eiguer khai triển khái niệm và mô tả người vừa yêu mình quá độ vừa gian dối (Le Pervers narcissique) như một kẻ hoang tưởng tự mãn lúc nào cũng tìm cách quyến rũ người đối diện, để cuối cùng triệt hạ người tình ấy đề thỏa lòng cho vị trí quyền lực của bản thân (6).

Bệnh yêu mình quá độ ?

Người yêu mình quá độ, khi đến bác sĩ, thường than rằng họ không thể nào hòa hợp với môi trường xung quanh vì họ thông minh hơn những người bên cạnh, họ làm việc giỏi hơn, và ngắn gọn họ nghĩ rằng “người khôn ở với người ngu (thật là) bực mình” – họ thành cô đơn và họ trách hay đổ tội cho cả xã hội (7).

Ở đây, yêu mình quá độ thành một bệnh tâm thần và cần được chữa trị.

Cũng xin nhắc lại lần nữa rằng người yêu mình quá độ chỉ thành bệnh nhân khi chính họ tự thấy không ổn, tự thấy khổ sở, họ “than” và tự họ thấy cần gặp bác sĩ để được giúp đở – chứ không ai bắt buộc họ đi gặp chuyên viên tâm thần hay vào … nhà thương điên.

Nhiều phương thức trị liệu thuộc phân tâm học (psychanalyse), tâm lý hành động (thérapie comportementale) và trị liệu nhóm (socio thérapie) – có thể rất hữu hiệu cho bệnh yêu mình quá độ.

.

Sống và chết với yêu mình quá độ?

Thành công thật – trong thực tế người yêu mình quá độ thành công nhiều hơn người khác – nhưng họ thường lâm vào tâm trạng khủng hoảng khoảng 50-60 tuổi, lúc bắt đầu mắc phải những bệnh mãn tính, lúc mất xuân thì, bắt đầu già yếu với viễn ảnh của cái chết ở cuối đường (8) . Như một cô đào hay một lực sĩ lúc đứng tuổi – bài thơ Hổ nhớ rừng của Thế Lữ có thể là một minh họa, diễn tả những tiếc nuối của một mẫu người yêu mình quá độ khi về già hay khi thất thế.

Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu

Ở đây, người yêu mình quá độ cũng cần được giúp đở, vì họ khổ sở.

.

Yêu mình quá độ và xã hội

Như đã trình trước khi vào đề, quyển DSM-V, xuất bản năm 2013, đã đánh dấu một thay đổi lớn trong định nghĩa hiện tượng yêu mình quá độ. DSM-V xem yêu mình quá độ như một đặc điểm của bản thể chứ không là một rối loạn tâm thần.

 

Thật vậy, toàn xã hội chứ không chỉ DSM-V, hiện thời hết xem hiện tượng yêu mình quá độ như một bệnh tâm thần mà chỉ là một đặc điểm của bản thể cá nhân, là một trong những biểu hiệu của lòng tự ái, sự tự nhận định hay tự đánh giá bản thân mình. Các môi trường như gia đình, học đường, công tư sở tôn trọng cá thể của từng người. Người tự tin, biết giá trị của cá nhân hay yêu mình quá độ như vừa nêu ở trên, lại thường thành công hơn, được lương to hơn.

.

Bằng chứng là, gần đây, năm 2015, Dahlia Namian, một giáo sư xã hội học ở Ottawa, còn rất trẻ (bà thuộc thế hệ chào đời vào thập niên 1980) , xem “yêu mình quá độ” như một cách đánh giá giá trị của bản thân, tự cảm thấy mình có tài, thông minh, hay trang nhã hơn người, … là những biểu hiện bình thường. Dĩ nhiên bà cũng đề cập tới biên giới giữa những bình thường và bất bình thường. Nhưng bà định nghĩa những cái bất bình thường của “người tự yêu mình” như sự dễ bị tổn thương (vulnérabilité) của cá nhân ấy (9).

Dưới góc phân tích liên hệ xã hội, yêu mình quá độ bắt nguồn từ môi trường sau đó bị môi trường cô lập vì thành viên yêu mình quá độ không tôn trọng những phương thức sinh hoạt chung của xã hội (10).

.

Văn hóa yêu mình quá độ và Christopher Lasch

Christopher Lasch (1932-1994) là một nhà sử học và phê bình luân lý xã hội quan trọng của nửa sau thế kỷ XX ở Mỹ. Tốt nghiệp Harvard và Columbia, ông đã dạy học ở ĐH Iowa rồi Đại Học Rochester, New York (top 120 các Đại học toàn cầu), nơi ông làm việc suốt hơn hai thập kỷ cuối đời.

Với quyển sách The Culture of Narcissism: American Life in an Age of Diminishing Expectations – Văn hóa yêu mình quá độ. Lối sống Mỹ vào thời xuống dốc của hi vọng – xuất bản năm 1979 (11), Christopher Lasch phân tích xã hội Mỹ.

Ông được xem như cha đẻ của khái niệm “văn hóa yêu mình quá độ”.

Đây là một sách thuộc bình luận về xã hội hơn là một sách xã hội học. Dưới đây chỉ là tản mạn một số ý của Christopher Lasch, các số trang ghi trong bài là dựa trên phiên bản tiếng Pháp..

Ông đổ lỗi cho các bác sĩ tâm thần, trách họ chuyên chế giáo điều còn hơn tôn giáo thời xưa. Ít nhất, tôn giáo đề cao luân lý xã hội. Các nhà tâm thần … chú tâm quá độ đến cá nhân kể cả những cá nhân không tôn trọng các thành viên khác trong xã hội.

Ông nhận xét rằng những đổ vỡ của cấu trúc gia đình làm cho trẻ mất chỗ tựa vì gia đình là kênh truyền đạt văn hóa tốt nhất.

Riêng về vấn đề viết tự truyện, ông bàn, ở trang 46, không hẳn là để đề cao cái tôi đáng ghét vì khi viết ra trên giấy, cái tôi hết là bản thể của người viết mà là một vật thể rồi, người viết “tả” cái vật thể đó. Nhưng ngưởi viết tự truyện ít khi mô tả trung thành và họ “tô hồng” đời họ – tiểu thuyết hóa đời họ – Chính công việc cuối cùng này là biểu hiệu của yêu mình quá độ.

Tiếp theo, Christopher Lasch viết, trang 61, sự phát triển bản thể yêu mình quá độ thường gặp trong một xã hội đã cắt đứt liên hệ với quá khứ, và vì thế, không còn khả năng chuẩn bị tương lai. Các thành viên của những xã hội như thế “thiếu ý thức lịch sử, bị bó rọ trong một hiện tại chật hẹp”.

Xa hơn, trang 157, ông mô tả sự cạnh tranh trong công việc như sự lệ thuộc và việc làm chỉ còn là một phương tiện để kiếm tiền – tiền bạc thành một phương tiện cụ thể mà người yêu mình quá độ dùng để thể hiện mình..

Trăm xôi nhồi vào một rọ, trong hoàn cảnh đó, người Mỹ, khoảng giữa thế kỷ thứ XX, họ yêu mình quá độ cũng là tất nhiên thôi.

Nhưng cái chính, qua sách này, là văn hóa yêu mình quá độ bắt nguồn từ văn hóa của truyền thông, quảng cáo. Những hình ảnh quá đẹp, quá vẹn tròn của quảng cáo truyền thông tiếp thị đối lập hẳn với đời thường. Hoặc trái lại, những “phân nửa sự thật”, những dữ kiện cố tình làm giả, … làm cho người tiếp cận không còn dùng được khả năng phê phán của mình. Các tác giả của những “thông điệp” này tự tung tự tác và …tự yêu mình quá độ.

Tức là theo Christopher Lasch, không chỉ có những cá nhân yêu mình quá độ mà còn có văn hóa yêu mình quá độ, bao gồm cả toàn xã hội, lúc nào cũng chỉ cố ý xuất hiện dưới khía cạnh huy hoàng nhất để bắt buộc mọi người phải tôn sùng.

.

Tạm kết luận

Christopher Lasch đã viết “Văn hóa yêu mình quá độ…” từ gần bốn mươi năm trước nhưng quyển sách vẫn còn tính thời sự. Trên vi mô cũng như trên vĩ mô.

Xã hội Việt Nam, qua báo chí trên mạng mà tác giả bài này tiếp cận được, cũng có nhiều người yêu mình quá độ. Đó là những người nổi tiếng, những người của công chúng – nhưng họ không sống cho công chúng –, những tài tử, hoa hậu, …

Yêu mình quá độ không còn được xem như một “bệnh” nhưng hiện tượng vẫn có thể là một đe dọa cho xã hội, nhất là cho tương lai. Những vấn đề như đám đông không suy nghĩ, như chuộng vật chất, sắc đẹp thời trẻ, …xã hội phải chuẩn bị để đối mặt.

Bất cứ người yêu mình quá độ nào cũng sợ già. Trong tương lai lúc lớn tuổi, các cô hoa hậu, người mẫu và hot boys, hot girls ở Việt Nam chưa biết sẽ ra sao.

Xã hội bị thống lĩnh bởi truyền thông, xem trọng đồng tiền, chức tước, địa vị, quên các mẫu mực đạo đức…

Cuối cùng, để trở về với cụ thể, và để chỉ lấy một việc nhỏ: trào lưu chụp ảnh tự sướng bên ta cũng là một hình thức yêu mình quá độ…

.

Nguyễn Huỳnh Mai

Tài liệu dẫn:

(1) Denis P., Le narcissisme, NXB Presses Universitaires de France, 2012 (coll. Que sais-je?),

(2) Fourcade J.-M., Les personnalités limites. NXB Eyrolles,2013.

(3) Freud S., « Pour introduire le narcissisme » (1914) in Œuvres complètes de Freud: Volume 12, 1913-1914, Presses universitaires de France, 2005.

(4) Denis P., Le narcissisme, NXB Presses Universitaires de France, 2012 (coll. Que sais-je?), tr.11.

(5) Millon Th., Personality Disorders in Modern Life. NXB John Wiley and Sons, 2000.

(6) Eiguer A., Le Pervers narcissique et son Complice, 4e éd., NXB Dunod, 2012.

(7) Sam Vaknin, Malignant Self-Love. Narcissism revisited, Narcissus Publications, 1999.

(8) Fourcade J.-M., Les personnalités limites. NXB Eyrolles, 2013.

(9) Namian D. và Kiroua L., «Narcissisme, estime de soi et société», Sociologie [En ligne], N°3, vol. 6, mis en ligne le 06 novembre 2015, consulté le 16 février 2016.

URL: http://sociologie.revues.org/2687

(10) Namian D. và Kiroua L., Entre grandeur et vulnérabilité du soi : le narcissisme ordinaire au temps du « singularisme » in Doucet M.-Ch et Moureau N. (chủ biên), Penser les liens entre santé mentale et société. Presses Université Québec, 2014.

(11) Lasch Chr., The Culture of Narcissism: American Life in An Age of Diminishing Expectations, NXB Norton, 1979, tái bản lần chót NXB Norton, 1991.

Lasch Chr. (dịch sang tiếng Pháp bởi Landa M.), La culture du narcissisme: la vie américaine à un âge de déclin des espérances. NXB Flammarion (coll, Champs), 2006.

.

Advertisements

Đã đóng bình luận.