Skip to content

Thần kinh học trong giáo dục

Tháng Năm 19, 2016

Neuro-sciences et pédagogie

Bài này viết theo đơn đặt hàng của trang Khoa học, báo Dân Trí và đã gửi về nhà báo Thao Lâm, mừng anh ấy trở lại công tác mặc dù tuổi đã cao.

Nhà báo Thao Lâm có biên tập thêm và cho đăng ở đây:

http://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/than-kinh-hoc-trong-giao-duc-giup-hoan-thien-phuong-phap-su-pham-2016052113020345.htm

.

Mục tiêu chính của Thần kinh học trong giáo dục là để hiểu những phương thức hành động bên trong bộ não của trẻ khi chúng học – như thế hầu hoàn thiện hay cải cách phương pháp sư phạm để trẻ học dễ hơn, nhanh hơn và kết quả tốt hơn.

Thần kinh học trong giáo dục là một khoa học mới, chỉ hiện hữu từ khoảng mười năm nay và hiện phát triển rất nhanh. Bài này nói về sự góp công của giáo sư Olivier Houdé ở Đại Học Sorbonne Paris Cité.

Khoa học này sở dĩ được ra đời phần chính là nhờ sự trợ lực của máy chụp cộng hưởng từ sinh hoạt (Scanner à Résonnance Magnétique Nucléaire fonctionnelle – IRMf) giúp các nhà khoa học quan sát sinh hoạt cùa não bộ trong lúc trẻ học.

Đóng góp của ông Olivier Houdé có thể tóm lượt bằng sự phân biệt hai cách dạy/học sử dụng hai phần não khác nhau:

. Cách đầu tiên là cách gây phản ứng “tự động” – để có phản ứng này, thầy và trò dùng phương pháp lập đi lập lại nhiều lần – như để học thuộc lòng một danh sách nhiều chữ, Ở đây phần não trước trán (préfrontale) hoạt động. Đa phần các phương pháp sư phạm truyền kiến thức theo kiểu này. Não của trò được “huấn luyện” để “tích lũy” kiến thức.

. Thế nhưng, khi trò đứng trước một “nghịch lý”, phải suy nghĩ, phải từ bỏ phản ứng tự động đã được tích lũy trước đó thì trò phải dùng phần não phía sau và phần dưới vỏ não (partie postérieure và sous-corticale).

Đây là cách dạy trò từ bỏ các phản ứng tự động để lý luận, suy nghĩ, cân nhắc và sáng tạo. Tức là những biểu hiện của … thông minh.

Học là cần nằm lòng một số kiến thức cơ sở. Nhưng nếu chỉ có học nằm lòng thôi thì các phần khác của não bộ không phát triển và kiến thức tích lũy thành vô dụng. Học còn là để biết sử dụng những cơ sở đã tích lũy cho nhiều tình huống khác nhau. Tức là phải có khả năng hành xử một cách “tự động” và đồng thời biết từ bỏ những phản ứng tự động đề thích ứng.

Trong quá trình học của học sinh, máy scanner cho thấy là não của trẻ rực sáng đi từ phẩn vỏ não trước trán cho những kiến thức chỉ cần phản ứng tự động – ở đây tác giả những dòng này nhớ tới các kiểu … ê a đọc theo thầy hồi xưa – sau đó khi cần, cho sinh hoạt lý luận hay sáng tạo, là tới phiên phần não phía sau rực sáng. Trẻ đã “đóng cửa” phần não tự động một cách dễ dàng.

Nguyễn Huỳnh Mai

Sách tham khảo:

Houdé O., Apprendre à résister. NXB Le Pommier, 2014.

Advertisements

Đã đóng bình luận.