Skip to content

Đánh giá và xếp hạng Đại học

Tháng Hai 12, 2017

Evaluer et classer les universités – un problème complexe et pas seulement basé sur le taux d’emploi des anciens étudiants

.

Hiện trong nước đang tìm cách đánh giá các Đại học dựa trên số sinh viên ra trường tìm được việc làm. Công việc không phải là vô ích nhưng coi chừng độ thiếu trung thực và cục diện của vấn đề chất lượng đào tạo đại học. Đại học, nói cho cùng, không phải là một cơ quan chỉ có trọng trách “giới thiệu” hay “tìm” việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Cách đây sáu năm, tôi đã bàn về việc đánh giá và xếp hạng các Đại học, một vấn đề có tính tổng thể.

http://dantri.com.vn/dien-dan/cuoc-chay-dua-xep-hang-cac-dai-hoc-1322961283.htm

http://dantri.com.vn/dien-dan/tra-loi-nhung-cau-hoi-cu-the-ve-danh-gia-dai-hoc-1323139304.htm

Những bài này đã chào đời trước khi blog này hiện hữu nên hôm nay xin tải hai bài đó về đây để bạn đọc tham khảo.

Trong bài thứ nhì tôi đã bàn đến các phương thức của OCDE. Sau PISA, OCDE đã cho ra đời AHELO  – Assessment of Higher Education Learning Outcomes – để đánh giá các Đại học. Có thể ta cần tra khảo để thêm kinh nghiệm .

.

Cuộc chạy đua xếp hạng các Đại học

Từ đầu những năm 2000, các Đại học được xếp hạng và cũng từ gần 10 năm nay, nhiều nhà khoa học đã phê bình các xếp hạng này. Thế nhưng trên thị trường, sự cạnh tranh giữa các Đại học vẫn đặt nền tảng trên các xếp hạng như vậy.

Nhiều nước, trong đó có Việt Nam, phấn đấu để ít nhất một trường Đại học của nước mình lọt vào danh sách 200 hay 500 trường đầu bảng.

Dĩ nhiên,ở một Đại học hàng đầu, sinh viên được học hỏi trong một môi trường tốt thật đấy nhưng không vì thế mà tất cả sinh viên ra trường, của tất cả mọi ngành, đều tài giỏi và thành đạt dễ dàng. Học phí cao không có nghĩa là chất lượng tốt tuyệt đối. Lại còn có những trường giỏi tiếp thị  và nhờ chính sách tiếp thị để chiêu sinh.

Một cách cực đoan và để kể một thí dụ mà chính tác giả những dòng này biết rỏ : Đại học Liège (Bỉ) không ở trong bảng 200 Đại học hàng đầu nhưng không vì thế mà một bác sĩ hay một luật gia đào tạo ở Liège bất tài hay lao đao trong cuộc sống !

Thước đo được nhiều người biết là chỉ số công bố khoa học, số bằng sáng chế, số giải Nobel và vài giải quốc tế khoa học khác, tỉ số giảng viên trên số sinh viên, … Những tiêu chí này được áp dụng trong một số bảng xếp hạng các Đại học mà Ranking của Thượng Hải là một thí dụ.

Cách xếp hạng của Đại học Giao Thông Thượng Hải dùng 6 chỉ tiêu, những chỉ tiêu đặt trọng tâm vào nghiên cứu khoa học (số giải Nobel, huy chương Fields mà cựu sinh viên và nhân viên Đại học nhận, số nghiên cứu gia được dẫn chứng nhiều, số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí Nature và Science, tỉ số nhân viên nghiên cứu gia trên số bài khoa học và số giải thưởng, …)

Theo cách xếp hạng này, đại đa số trong 20 trường đầu bảng nằm ở Mỹ, chỉ có Cambridge Oxford và Londre ở  Anh. Đi xuống nữa tới hạng 21, mới thấy tên Đại học Tokyo, đầu tiên của châu  Á trong bảng.

Cách xếp hạng QS Quacquarelli Symonds. Word University Ranking hay Time Higher Education dựa trên tiếng tăm của Đại học (50% số điểm). Những yếu tố khác : số giảng viên quốc tế (5%), số sinh viên quốc tế (5%), tỉ lệ hay số sinh viên trên số giảng viên (20%) và cuối cùng là số lần tham khảo (cho các nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học của mỗi giảng viên (20%). Trong cách xếp hạng này tuổi của Đại học cũng quan trọng : có những Đại học lịch sử (thành lập từ trên hay bằng 100 năm hay hơn nữa, hạng cuối, những Đại học mới được mở dưới 10 năm nay. Theo cách xếp hạng này thì Cambridge, Oxford và Londre đứng trong top 10.

Xếp hạng các Đại học tùy theo độ «hiện diện» trên web (webometric). Cách xếp hạng này được khởi xướng bởi phòng thí nghiệm Tây ban nha Consejo Superior de Investigaciones Científicas (CSIC) đo trên mạng theo 4 tiêu chỉ : sự hiện diện toàn cảnh (50% số điểm) số trang trên internet (20%), số tài liệu dưới dạng pdf, doc, ppt et ps (15%) và số bài đăng trên Google Scholar (15%). Khoảng 8000 Đại học được phân tích và xếp hạng như thế.

Theo cách xếp hạng này thì trong 20 trường đầu bảng, chỉ có Đại học Cambridge của Anh đứng thứ 16 còn ngoài ra chỉ toàn là các Đại học Mỹ.  Đài Loan thứ 24 còn Canada và Nhật bản vào hạng hơn 30.

Một cách cực đoan, xếp hạng như thế là cho hạng cao những Đại học giỏi truyền thông trên mạng !

.

Từ 2009, nhiều bảng xếp hạng khác ra đời : Các Trung tâm lớn ở Paris (theo số cựu sinh viên làm việc cho 500 xí nghiệp lớn nhất thế giới), Moscou (xếp hạng tổng thể),  và Đài Loan (số bài báo từ 11 năm nay) cũng đưa ra nhiều cách xếp hạng khác…

Nhưng tựu trung, phần đông các Đại học Mỹ vẫn đứng đầu theo các bảng xếp hạng này .

.

Xếp hạng và Kiểm định giá trị của các trường Đại học khác nhau.

Trên lý thuyết, tất cả các trường Đại học đều phải dạy tốt, làm tròn bổn phận của mình – một bổn phận cho kết quả tốt – chứ không phải chỉ cung cấp một dịch vụ đào tạo – vì danh tiếng của trường và giá trị của các bằng cấp trường cho tùy thuộc vào giá trị của giáo dục đào tạo trường thực thi.

Đánh giá và tự đánh giá thông thường nằm trong quá trình sinh hoạt bình thường của các Đại học một khi đi vào quy cũ vì những đánh giá thường kỳ cho phép kiểm tra sinh hoạt và cải thiện khi cần.

Giá trị của một Đại học sâu xa hơn thứ bậc mà các cách xếp hạng nói trên đưa ra. Mỗi Đại học cần được đánh giá từ nội tại và từ bên ngoài bởi những cơ quan chuyên môn. Những đánh giá này nghiên cứu tổ chức của Đại học, cơ cấu sinh hoạt, cách quản lý nhân sự và kế toán, sinh viên, cuộc sống của sinh viên trong học trình, kết quả đào tạo, việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, …Tức là không những về số lượng mà về chất lượng nữa.

Những đánh giá chi tiết như trên trung thực hơn, lại có thể giúp cho Đại học nhân định được rỏ ràng những điểm mạnh và yếu hầu làm tốt hơn. Đồng thời,  các cơ quan hay cá nhân tài trợ Đại học nhờ đó biết được sự hữu hiệu hay không hữu hiệu của tiền mà họ bỏ ra.

Đánh giá Đại học nằm trong một quá trình cầu tiến chứ không phải quá trình chế tài – để phạt hay thưởng. Cũng không phải đánh giá các giảng viên. Cần có những phương thức đánh giá một cách khoa học và trong sáng, được công bố đàng hoàng. Chứ  không phải những phương thức quảng cáo hay quảng cáo trá hình (bằng những số liệu tốt nghiệp, những người nổi tiếng vốn là cựu sinh viên của trường, những hình ảnh đẹp đăng trên các tạp chí). Vì những phương thức trá hình này khiến sinh viên và phụ huynh của sinh viên chọn trường như chọn … thức ăn ngoài chợ, thiếu cơ sở thông tin chính xác và toàn diện.

Nền tảng của kiểm định giá trị các Đại học

Trong Tuyên ngôn thế giới về Đại học 1998, UNESCO cũng nhìn nhận rằng nhà nước không thể một mình bảo đảm hết chi phí giáo dục Đại học, phải nhờ đến những hợp tác Công-Tư và cả các trường tư hoàn toàn. Nhưng phải bảo đảm giá trị của các trường.

Việc này chỉ có thể làm tốt được qua hai đường hướng trong cách điều hành :

  1. các trường có trách nhiệm phải làm báo cáo

  2. các trường phải được đánh giá, bởi những đánh giá nội tại và những đánh giá từ bên ngoài

Điều 11 của Tuyên ngôn ấy nhấn mạnh rằng khái niệm về giá trị của giáo dục đại học là một khái niệm có nhiều mặt. Các trường phải biết tự đánh giá và thường xuyên được đánh giá bởi các chuyên viên độc lập, đến từ bên ngoài, nếu có thể được là những chuyên viên quốc tế. Những mẫu để đo giá trị của giáo dục Đại học cần được sớm thống nhất và công bố. Những kiểm định giá trị thường xuyên giúp bản thân trường Đại học có khả năng thực hiện tốt hơn sứ mạng của mình.

Trong tuyên bố 2009, UNESCO nhắc lại : Cần có những thông tin và sự trong sáng về các mục tiêu và kết quả của mỗi trường.


Đánh giá những gì và đánh giá bởi ai ?

1. Vai trò chính của một Đại học là đào tạo khoa học kỹ thuật. hoặc khoa học xã hội, nhân văn. Đánh giá nội dung và phương pháp đào tạo là tối cần thiết. Một nội dung chuyên môn hiện đại, thích hợp với nội dung mới nhất của chuyên môn, thích hợp với nhu cầu và hoàn cảnh xã hội hiện tại và cho tương lai gần, thích hợp với khả năng tiếp thu của sinh viên và được trình bày bằng những phương pháp tốt nhất cho bối cảnh đặc thù của mỗi Đại học.

2. Bên cạnh đó, những phương thức tuyển sinh, tiếp đón hướng dẫn sinh viên mới, những điều kiện vật chất để học và sống của tất cả sinh viên, tỉ lệ đậu rớt, khó khăn và thuận lợi của sinh viên cũng phải được nêu ra, kiểm định hầu tìm phương thức tốt nhất cho sinh viên học thành tài.

3. Đánh giá những khó khăn và thuận lợi của cựu sinh viên trong quá trình khởi nghiệp. Đó là một thước đo rất tốt để biết giá trị xã hội của bằng cấp mà Đại học đào tạo hay “cho ra lò”.

4. Đánh giá những nghiên cứu khoa học của những cá nhân và của toàn trường theo những bậc thang của thế giới (số bài báo trên các tập san khoa học quốc tế, số lần dẫn chứng bởi các khoa học gia khác, số bằng phát minh, …).

Ở Mỹ, Đại học trả lương các nhà khoa học trên cơ sở này.

5. Đánh giá cách tổ chức, cách quản lý và những đường hướng phương thức của toàn Đại học. Ngân quĩ của Đại học có được tiêu xài tốt nhất hay không ? Thông thường, đánh giá này phải nhờ một cơ quan bên ngoài, độc lập với Đại học, được thừa nhận  và có khả năng chuyên môn cao.

Hiện thời, với triết lý tự lập, tự chủ, trách nhiệm và tự do hàn lâm cho các Đại học, chính quyền (bộ Giáo dục, Chính phủ, …) phải phân biệt rỏ ràng ranh giới giữa kiểm định và tài trợ (tài trợ cho Đại học hay không là quyền của quốc gia nhưng kiểm định Đại học phải giao cho cơ quan độc lập, trung thực và có khả năng cần thiết !).

6. Đánh giá tổng thể Đại học trong bối cảnh kinh tế, lịch sử và xã hội : đường hướng và chính sách của Đại học có cần, có ích và có phù hợp với xã hội hay không. Đánh giá ở qui mô cao. Cụ thể, đặt vào trường hợp của kỳ tuyển sinh vừa rồi ở nước ta, đánh giá này có thể giúp ta tránh được cái dở khóc dở cười của những trường phải đóng cửa một số ngành chẳng hạn.

7. Điều cuối cùng : phải công bố tất cả các đánh giá. UNESCO 2008 đã nhắc lại : Cần có những thông tin và sự trong sáng về các mục tiêu và kết quả của mỗi Đại học, giúp sinh viên có thêm cơ sở để chọn trường.

Những cách đánh giá này đã và đang được các cơ quan dưới đây dùng :

Pháp : Cơ quan đánh giá nghiên cứu và giáo dục Đại học (Agence d’Evaluation de la Recherche et de l’Enseignement Supérieur AERES).

Bỉ : Cơ quan đánh giá chất lượng giáo dục Đại học (Agence pour l’Evaluation de la Qualité de l’enseignement Supérieur).

Châu Âu : Hội những Đại học Âu châu (Association Européenne des Universités EUA).

Tổng cộng, những cơ quan này qui tụ hơn 500 nhà nghiên cứu và hơn 6000 chuyên gia.

Kết luận

Trong một xã hội ổn định và trong một nền kinh tế thị trường nề nếp, với những tổ chức phi vụ lợi cung ứng những quĩ khổng lồ cho giáo dục, qui luật cạnh tranh thị trường có thể đủ để chế tài các trường Đại học (trường tốt thì sinh viên giỏi, tốt nghiệp xong dễ kiếm được việc làm và rốt cục trường sẽ tuyển sinh được nhiều hơn, chẳng hạn).

Ta hiện đang cần đi tới sự tự chủ của các Đại học và sự tự do hàn lâm. Thế nên, đánh giá và tự đánh giá các Đại học rất là cần thiết. Tiền đề phải đặt ra ở đây là sự trung thực của đánh giá và đạo đức của Giáo dục Đại học – không vụ lợi- . Đào tạo thế hệ tương lai là đào tạo thế nào cho tốt nhất và phải nằm ngoài kinh tế thị trường hay luật cung cầu.

Nói một cách nôm na : làm sao cho trò và thầy đi học và đi dạy theo đúng nghĩa của nó, chứ không phải đi chợ hay kinh doanh.

Nguyễn Huỳnh Mai

.

Trả lời những câu hỏi cụ thể về đánh giá Đại học

Dân trí Bài viết trước của tác giả đã giới thiệu những cách xếp hạng đại học khác nhau trên thế giới, tuy vậy độc giả còn băn khoăn vì chưa hiểu rõ một số điều trong bài viết. Bài này, tác giả trả lời một số câu hỏi cụ thể về chủ đề này.

Câu hỏi đầu tiên: Vì sao trong bài viết trước, tác giả có thể khẳng định rằng “mặc dù không có tên trong 200 Đại học hàng đầu thế giới, bác sĩ và luật sư đào tạo bởi ĐH Liège (Bỉ) không bất tài và không lao đao trong cuộc sống ?”

Thật vậy, ĐH Liège không đứng hạng cao trong các bảng của Thượng Hải hay của QS. ĐH Leuven hay ĐH Ghent, cũng ở Bỉ, chiếm vị trí top 50 hay top 100 của các bảng trong khi ĐH Liège chỉ vào hạng 247, thậm chí xa hơn nữa tùy theo bảng. Nhưng sinh viên tốt nghiệp từ Liège không kém các trường ĐH kia, cũng  thành công trong nghề nghiệp sau khi ra trường. Trên bình diện quốc tế, có những cựu sinh viên của Liège được thu nhận học tiếp hay giảng dạy ở Stanford, Cambridge, hay London UCL  một cách bình thường. Nhiều giáo sư  của Liège đã và đang được mời thỉnh giảng ở những Đại học “danh giá”.

Đại học Liège chúng tôi nghèo hơn, ngân quĩ cho nghiên cứu ít hơn, “tiếng mẹ” lại là tiếng Pháp chứ không phải tiếng Anh,… nên ít bài báo khoa học hơn.

Xếp hạng các Đại học theo chỉ tiêu bài báo, giải Nobel hay những điều tương tự không hẳn là khách quan và chính xác tuyệt đối. Có những sinh viên khảo cổ ở Đại học New York– thứ 21 trên bảng – sang Liège làm tiếp Thạc sĩ và Tiến sĩ vì danh tiếng của một giáo sư ngành đó ở Liège. Có những cựu sinh viên Liège hiện là nhân viên cao cấp của Mackenzie PR một hãng quốc tế săn nhân tài, hay được hãng ấy tìm kiếm…

Liège có cái khiêm tốn của dân tỉnh nhỏ, dân một Đại học nhỏ, dân một xứ nhỏ (Bỉ chỉ có 10 triệu người !). Nhưng giá trị sống cao, trong đó có giá trị sống của sinh viên nói riêng. Và tình người, trong đó có tình thầy trò, tình đồng nghiệp.

Hoàn thành tốt nhất “sứ mạng” hướng dẫn sinh viên có lẽ là điều tâm niệm của nhiều giáo sư ở Liège. Sau đó, “hạ hồi phân giải”. Lúc mới đầu, không bằng chị bằng em (xếp hạng kém hơn các Đại học khác), Viện trưởng ĐH Liège lúc đó có suy nghĩ là cần “chạy vào đường tranh đua” nhưng  tự do hàn lâm đã là một rào cản hữu hiệu. Mười năm sau, số hạng của Đại học Liège theo ranking có xuống chứ không lên, nhưng uy tín thực tế của ĐH không giảm (số sinh viên tăng, chỉ số bằng lòng của sinh viên và nhân viên cao, ngân quỹ ít thâm hụt hơn,…).
.


Câu hỏi thứ nhì : Tự do hàn lâm và đánh giá Đại học, đánh giá chứ không phải xếp hạng, có … mâu thuẩn không ?

Thế nào là “tự do” ?  Ít nhất, tự do là tự do để làm “điều đúng” chứ không phải tự do để “làm càn”. Dĩ nhiên, đúng hay sai, tốt hay xấu, … khác nhau tùy theo bối cảnh xã hội, lịch sử, … Nhưng tự do hàn lâm cốt là để bảo đảm cho nhà khoa học quyền được dạy, được học, nghiên cứu và xuất bản bài báo,… mà không bị một áp lực xã hội, chính trị nào kiểm duyệt, chèn ép hay chế tài. Sự tự do này tối cần cho nghiên cứu – đi tìm sự thật – dù sự thật có “mếch lòng”. Tự do hàn lâm còn gồm quyền được phê bình chính cơ quan đang trả lương cho mình – Đại học – và quyền được có tiếng nói của mình trong công tác quản lý Đại học.

Đó là một tự do có ý thức và có trách nhiệm. Nếu thử nhìn lại trong quá trình gần ba mươi năm nay, số trường hợp các giáo sư lạm dụng quyền tự do hàn lâm ở các nước Âu châu có thể đếm trên đầu bàn tay.

Kiểm định giá trị của Đại học, trong đó có góp phần của chính mình – tức kiểm định giá trị của bản thân – , hoàn toàn không mâu thuẩn với tự do hàn lâm. Sự kiểm định này, trái lại, được xem như một phản ảnh (feed back) cần thiết để tiếp tục bước tới,  vững chắc hơn. Các giáo sư vẫn có quyền thay đổi hay không cách làm việc của mình, sau đánh giá ấy.

Viện trưởng hiện thời của Đại học Liège vừa bỏ tiền ra nhờ một cơ quan chuyên môn và độc lập làm một “audit” (kiểm toán) toàn diện cho Đại học và từ ba tháng nay, trường Tội phạm học (Ecole de Criminologie) của Đại học  đang dùng các kết quả có liên hệ tới trường của audit này, để tự cải tổ. Đó chỉ là một trong nhiều thí dụ cụ thể.

.

Câu hỏi thứ ba :  Đánh giá, nhưng làm sao đánh giá một tổng thể hết sức phức tạp như một Đại học, với những chuyên ngành khác nhau, với hai mươi ngàn sinh viên, hàng ngàn giáo sư và bao nhiêu nghiên cứu sư khác ? Phải đánh giá chương trình dạy, phương pháp sư phạm, giá trị các văn bằng, sự thích hợp hay không với bối cảnh xã hội, và muôn ngàn điểm khác, …

Thì cứ chia  tổng thể phức tạp ấy thành nhiều cấu thể  mà tự nó, mỗi cấu thể, không phức tạp lắm đâu. Chuyên gia lo kiểm định cũng không “non nớt” đến nỗi đi hỏi “ông hay bà có làm tốt trách nhiệm của mình không ?”. Họ dùng những dụng cụ thích hợp để điều tra, nghiên cứu, cân đo. Trực tiếp hay gián tiếp. Gián tiếp là quan sát sản phẩm đầu ra chẳng hạn (sinh viên ra trường). Gián tiếp là nghiên cứu số nợ của Đại học thay vì khảo sát cách quản lý ngân quĩ. Và còn nhiều phương pháp khác, những phương pháp có kiểm chứng.

Phải nói là mỗi Đại học đều có nhiều bộ phận lo thống kê, lo giúp tân sinh viên, cựu sinh viên, chỉ dẫn ngành học, hướng nghiệp khi ra trường, … Bên cạnh đó lại có những hiệp hội cựu sinh viên các ngành nghề khác nhau, … Tổ chức nào cũng có tài liệu lưu trữ. Đó là những “mỏ vàng” quí giá, nguồn thông tin, để khai thác hầu biết được “sinh lực” của Đại học.

Kiểm định giá trị các chương trình, nội dung và phương pháp sư phạm của các môn học là một trò chơi trẻ con vì tất cả  đều được lên mạng ở trang nhà của hầu hết các Đại học (ở Liège, đó là một bắt buộc).

Cân đo trong kiểm định, thật sự không khó. Hiện OCDE đang thực nghiệm việc đánh giá quốc tế về khả năng của sinh viên ra trường từ các Đại học để từ đó kiểm định giá trị của đào tạo Đại học (chương trình AHELO  – Assessment of Higher Education Learning Outcomes – tương đương với trắc nghiệm PISA mà họ đã áp dụng từ hơn mười năm nay cho học sinh 15 tuổi)

Ở đây xin mở một dấu ngoặc : AHELO đặt trọng tâm lên sự học “làm người” của giáo dục Đại học. Có nghĩa là, đằng sau khả năng kỹ thuật mà đào tạo Đại học đặc thù cho các ngành nghề khác nhau, sinh viên khi ra trường còn được, qua rèn luyện, khả năng phán đoán, suy nghĩ, giải quyết khó khăn, khả năng tiếp xúc và liên hệ bằng giấy tờ, … Một người trí thức toàn diện. Những câu hỏi của AHELO đề cập tới các kỹ năng đó.

Điều này hoàn toàn phù hợp với quan niệm đào tạo Đại học hiện thời mà điển hình nhất là những điều mà UNESCO đã định nghĩa  trong  Tuyên ngôn thế giới 1998 về giáo dục Đại học (đào tạo người có tri thức và người sống trong xã hội).

Thế nhưng AHELO cũng trắc nghiệm về khả năng chuyên môn nữa. Hiện OCDE đang kiểm soát tính khả thi của những dụng cụ trắc nghiệm phi văn hóa và phi ngôn ngữ để có thể áp dụng cho toàn cầu, cho hai ngành kinh tế và kỹ sư.

AHELO, cũng như PISA , bị vài phê bình tiêu cực, nhưng ít nhất hai đánh giá này hiện hữu và có giá trị khách quan.

Tóm lại, kiểm định giá trị Đại học là một vấn đề của chuyên gia chứ không phải bất cứ phàm phu tục tử nào cũng làm được. Nhưng kiểm định giá trị của Đại học là một vấn đề khả thi. Chỉ cần vài “phương tiện” thích hợp và nhân viên có khả năng khai thác các kết quả thu thập được nhờ các phương tiện ấy.
.


Câu hỏi thứ tư : Tại sao phải phiền phức đến thế, việc xếp hạng các Đại học có vẻ đơn giản hơn nhiều?

Vấn đề ở đây xin trở về cội nguồn và mục đích của việc đánh giá Đại học.

Về cội nguồn, điều 11 của Tuyên ngôn UNESCO   1998 nhấn mạnh rằng khái niệm về giá trị của giáo dục đại học là một khái niệm có nhiều mặt. Các xếp hạng Đại học tựu trung chỉ đặt mạnh trên sản phẩm nghiên cứu khoa học (bài báo, chỉ số được chỉ dẫn, giải Nobel, …).

Mục đích của đánh giá là để tiếp tục làm tốt hơn. Giáo dục khác với đánh cờ hay thể thao, giáo dục không cần phải có xếp hạng thứ bậc.

Xin kể một chuyện vui nữa : ở trường  Y khoa Đại học Liège, đại đa số các bác sĩ trẻ viết bài đăng báo khoa học nhiều, chỉ số được chỉ dẫn rất to. Con hơn cha về chỉ số này, trong một gia đình mà cha và con đều là bác sĩ cùng ngành không hiếm, nhưng khi gặp một trường hợp cụ thể phức tạp, ông bác sĩ già, không có hay có ít công trình đăng báo đấy, nhưng ông cứu bệnh nhân hàng ngày ! Thế mới biết lâm sàng trong Y khoa là một khía cạnh mà các ranking thường quên.

Và đó chỉ là một thí dụ nhỏ.

Đánh giá một trường Y khoa phải bao gồm mặt có ích cho cộng đồng  là một điều hiển nhiên, một điều mà đại đa số các xếp hạng Đại học không lưu ý vì khó đong và đếm, vì nó tầm thường và, để dùng một từ hiện nay, vì chuyện đó không “sexy” – Hiện khẩu hiệu trong giới khoa học là “ đăng báo công bố hay tiêu vong” (publish or perish). Áp lực phải đăng báo khoa học làm cho nhiều khi thiên hạ phải giả đối và gian trá. Liège cũng có vài trường hợp gian trá. Những gian trá trong khoa học lại rất khó bị phát hiện vì tính cách chuyên môn rất cao của các công trình nghiên cứu. Ít người có khả năng và phương tiện để kiểm chứng.

Ngắn gọn : xếp hạng dựa trên các công trình khoa học đã được đăng báo có giá trị, nhưng giá trị đó không tuyệt đối và không toàn diện.
.


Câu hỏi cuối cùng : Thế Việt Nam  nên hướng tới đánh giá Đại học hay xếp hạng Đại học?

Đánh giá Đại học là một việc cần làm, cần làm thường xuyên, để hoàn thiện nền Đại học nước nhà. Từ đó mới có hi vọng đạt được những thứ bậc cao trong các xếp hạng Đại học. Trong ngắn hạn, nếu các xếp hạng Đại học tiếp tục dùng những chỉ tiêu hiện nay (số bài báo khoa học, chỉ số dẫn trích, số giải Nobel, … ) có lẽ ta còn phải có thời gian để không “thua em kém chị” trong các thứ bậc.

Vả lại, không phải vì một số trong thiên hạ chạy theo xếp hạng mà ta cũng phải cố len chân vào bằng tất cả mọi giá. Trường học, kể cả trường Đại học, là một môi trường giúp mỗi một trong chúng ta rèn luyện để ra đời sống tốt chứ không phải là nơi thanh lọc hay xếp hạng. Ta cần biết thứ hạng của ta để định hướng, để phấn đấu tiến lên,  nhưng không vì “mục tiêu thứ bậc”.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Giáo dục

Đã đóng bình luận.