Skip to content

Đổi mới giáo dục phổ thông – cần đi chậm mà vững

Tháng Năm 27, 2017

La réforme de l’enseignement  général – des précautions au préalable

Bài này đã đăng trên VHNA, ấn bản số 341, phát hành tuần này, 25.05.2017

.

Chuyện đổi mới giáo dục đã được bàn đến từ nhiều năm nay.

Hiện dự án đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông đã “lên khuôn”: ta đã có người chủ nhiệm dự án, gs Nguyễn Minh Thuyết, ta đã dựng các Ủy ban đổi mới giáo dục với 25-27 thành viên, ta đã có ngân sách, lên đến gần 80 triệu đô la Mỹ và theo khung thời gian thì chương trình mới sẽ được áp dụng từ đầu niên học 2018 – 2019 cho lớp 1.

Thế nhưng hiện nhiều người vẫn còn băn khoăn, trong đó có tác giả bài này.

Ta có đủ dữ kiện chưa để quyết định?

Triết lý giáo dục của ta cuối cùng sẽ là triết lý gì?

Ta sẽ đổi mới những gì? Sẽ theo quá trình nào?

Bộ phận đào tạo giáo viên đã sẳn sàng chưa?

Giáo viên hiện nay đã có đủ khả năng chưa?

Tích hợp, phân hóa, dạy 8 năng lực cơ bản, 3 phẩm chất, trải nghiệm sáng tạo, … là ngữ vựng của chương trình mới nhưng giáo viên đã/sẽ được đào tạo/tái đào tạo ra sao?

Toàn bộ xã hội sẽ đồng hành với những đổi thay của dự án đổi mới giáo dục hay không?

.

1. Đi từ tình trạng hiện thời

Tình trạng hiện thời như thế nào? Đó là một câu hỏi lớn. Ai cũng bảo là hiện giáo dục ta xuống cấp, ta cần đổi mới toàn diện nhưng có lẻ ta chưa nghiên cứu để có đủ dữ kiện.

Thiếu dữ kiện: bao nhiêu học sinh, phân chia theo giới tính, vùng miền thành thị thôn quê vùng cao vùng xa như thế nào, thành phần xã hội của cha mẹ các em. Lại tối quan trọng: các em chờ đợi gì? Sở thích, sở trường sở đoản của các em. Cái luật căn bản vẫn là “Không thể dạy bất cứ cái gì và bất cứ thế nào cho bất cứ ai”. Các em bị quá tải nhưng quá tải tinh thần (vì phương pháp nhồi nhét chẳng hạn) hay quá tải vật chất (vì chương trình nặng) hay quá tải vì cả hai?

Dạy, nhưng ai là người đứng trên bục giảng hiện thời. Cũng những câu hỏi tương tự như những câu hỏi vừa nêu trên cho học sinh. Phải biết thêm họ đã được đào tạo như thế nào. Đừng chờ đợi là sau một đêm, các giáo viên sẽ thấu triệt hết triết lý mới của giáo dục cùng với phương pháp sư phạm và chương trình mới. Thay đổi rất khó khăn. Nhất là thay đổi những thói quen đã ăn rễ lâu năm.

Tới bây giờ,hiện trạng giáo dục như thế nào: điểm son cần giữ lại, điểm yếu kém cần thay đổi. Đổi mới giáo dục không có nghĩa là xây dựng từ số không mà phải đi từ tình trạng hiện thời, với những diễn viên hiện tại, … Tức là phải biết một cách hoàn chỉnh về hiện trạng để từ hiện trạng mà đi tiếp.


2. Nước ta đang chờ đợi gì ở giáo dục.

Dạy cho trẻ phát triển và làm người trong xã hội hay dạy cho trẻ …yêu nước – như đâu đó ta đã bàn đến. Hay dạy để trẻ có công ăn việc làm sau này và tệ hơn nữa, câu hỏi mà phần đông các gia đình chờ đợi là dạy cho trẻ có … địa vị trong xã hội – đúng ra chờ đợi… nguyên văn là”học ngành gì để dễ có địa vị trong xã hội”. Tức là nói một cách nôm na: học để làm quan.

Những chờ đợi ở giáo dục là những chờ đợi của cả xã hội.

a. Có một đội ngũ “chuyên” rất cần cho phát triển quốc gia, có một lớp trẻ biết sống tử tế cũng rất cần cho an bình xã hội – đó là trên vĩ mô.

b. Trên vi mô, nhiều gia đình xem việc học như một phương tiện để đổi đời, thoát nghèo, có địa vị xã hội, như vừa kể trên… nên cha mẹ “đầu tư” vào việc học của con.

c. Có ai chạy theo “học để hiểu biết”, “học để hạnh phúc”, “đến trường để vui với thầy và với bạn” ?

.

Có lẻ phải xem xét cho rõ tất cả những chờ đợi của xã hội để đi tới một đổi mới toàn diện giáo dục. Nếu cần thì cũng phải dự trù trong lần đổi mới này phần… giáo dục học trò về chủ đích của giáo dục và giáo dục cha mẹ chúng vì sửa đổi là sửa đổi cho dài lâu chứ không phải sửa đổi cho vài năm!

.

3. Các nhà giáo và bác học trong nước cũng đã nhiều lần bàn về triết lý giáo dục. Một vấn đề có vẻ cao siêu nhưng thật ra tối quan trọng.

Với kinh nghiệm trên thực tiển, tác giả bài này chỉ hi vọng là trường học giúp học trò phát triển, biết mình là ai, định nghĩa chỗ đứng của mình trong xã hội để làm người có tri thức, có khả năng bươn chải trong bất cứ môi trường nào và bất cứ hoàn cảnh nào và để sống hạnh phúc.

Trò không cần những khẩu hiệu như dạy lấy trò làm trung tâm – đó là điều hiển nhiên rồi. Trò cũng không cần một “giáo dục khai phóng” – đó chỉ là cách dán nhãn: với những tri thức mà trò tiếp thu được trong suốt quá trình học, trò thành người có hiểu biết và hết lệ thuộc, không lệ thuộc cái ngu dốt, không lệ thuộc thầy hay bất cứ ai. Không cần được …khai phóng, trò học để biết trở thành – savoir devenir – và từ đó, sẽ tự tin đi trên hai chân mình với cái đầu biết suy nghĩ.

Ba thí dụ cụ thể dưới đây “vẽ” cho ta thấy sự khả thi và kết quả giáo dục ở Bỉ. Những thí dụ này có thể giúp ta lạc quan hơn về viễn ảnh của những đổi mới giáo dục mà ta đang hướng tới:

. từ gần cả thế kỷ nay, chương trình ở Bỉ chỉ là chương trình khung, không có sách giáo khoa bắt buộc, giáo viên tự do tùy theo học trò, tùy theo dự án giáo dục của trường, tùy thời điểm, … chọn đề tài với sự đồng thuận của cả lớp rồi khai thác đề tài một cách tổng hợp để đi từ cụ thể đến khái niệm. Rốt cuộc những lý thuyết về sử, địa, toán, môi trường nhân văn, môi trường vật lý hay triết đều được “lồng” trong bối cảnh cụ thể như thế và học trò tiếp cận tri thức trừu tượng một cách nhẹ nhàng.

. hiện đại đa số sinh viên ở Bỉ khi ra trường thì đi xin việc trên toàn cầu. Có em đi làm ở Bỉ, tất nhiên rồi, nhưng cũng không ít em nhận việc ở Anh, ở Đức, ở Canada hay ở Ba lan, ở Mỹ. Chúng thành công dân toàn cầu, không cần nhờ “bệ đở” của cha mẹ để có tiền hay có địa vị. Chúng hạnh phúc với cái tự lập của mình.

. Bác sĩ và y tá sau đào tạo có thể đối mặt với bệnh lý với tất cả cái thiện nghệ của họ, có kỹ thuật và có triết lý, trong việc săn sóc bệnh tình của bệnh nhân hay giúp cho họ sống tốt nhất những ngày cuối đời của họ. Trăm người bệnh là trăm trường hợp khác nhau và họ chuyên nghiệp với đầy tình người.

Khi được hỏi, họ trả lời là họ rất hạnh phúc trong công việc hàng ngày, dù công việc này nặng nề với áp lực tâm lý cao.

Nhưng trong dấu ngoặc, phải nói thêm rằng hệ thống giáo dục của Bỉ không lý tưởng nhất thế giới. Hệ thống giáo dục phổ thông của Hà Lan được xếp đầu bảng, Bỉ hạng nhì, theo báo cáo INNOCENTI 2013.

.

4. Cụ thể cách học thế nào ?

Học để làm quan để thoát nghèo để đổi đời thì rõ ràng là dùng sự học như một phương tiện vật chất để đạt tới những sở hữu vật chất khác. Tất cả những giá trị vô hình và trừu tượng khác đều bị bỏ quên. Học để làm người thông thái, học để hạnh phúc, học để sống tốt, học để thuận hòa với môi trường, môi trường xã hội cũng như môi trường thiên nhiên.

Vì được xem như một phương tiện cụ thể, sự học được định nghĩa qua một “chứng cớ” rất cụ thể: cái bằng cấp. Thế là học thành học để lấy bằng.

Thật vậy, người ngoài nhìn vào thì giáo dục ta dạy để trẻ đi thi. Chính vì thế chương trình và sách giáo khoa quan trọng. Phải theo chương trình, cụ thể là theo sách giáo khoa để có khả năng làm bài thi. Chuyện giáo dục năm nào cũng có vấn đề mẫu câu hỏi để chuẩn bị cho học trò. Học để thi. Thầy cô luyện thi, dạy những “mánh khóe” để trò được điểm tốt và thi đổ.

Trong cái lô gích – hợp lý – hiện thời, đổi mới giáo dục thành đổi mới chương trình, sách giáo khoa và đổi mới cách thi.

Thể thức thi cử đúng ra là nằm trong phương pháp sư phạm. Ta đang lo thi trắc nghiệm cho kỳ tốt nghiệp THPT năm nay mà trước đó chưa cải tổ cách dạy – Điều đó đã và đang làm cho cả giáo viên và học sinh …chơi vơi.

Ngày nào mà ta còn chỉ lo cho chương trình và sách giáo khoa như kể trên thì ngày đó ta khó có một nền giáo dục …khai phóng, tiến bộ, theo kịp trào lưu quốc tế.

.

Học” bằng “hành” – đi từ thực tiển. Học cái gì cần cho trò – thế giới ở chung quanh chúng. Học giải mã môi trường và làm chủ môi trường – tức là đi từ những nhu cầu của trò, dạy cho trò những gì có ý nghĩa với chúng với sự dấn thân tích cực của trò, … là những sợi chỉ đỏ cho cách học và dạy. Chứ còn chi tiết học và dạy thế nào là chương trình của cả ba hay năm năm đào tạo sư phạm.

Như vậy thì chương trình có khác nhau, cách cấu trúc trước sau của thứ tự các bài học có khác nhau, nhưng khi về đến đích, lúc cuối học trình thì tất cả trẻ đều có chung hành trang – với điều kiện là nội dung của hành trang này được dự trù từ lúc khởi thủy, như một cái gì cần để cho trẻ có tri thức, cho chúng phát triển tối đa những khả năng của chúng và để cho chúng sống tốt trong xã hội.

Sẽ có những …”so le” hay dị biệt giữa trẻ này hay trẻ khác. Nhưng đó là những khác biệt chấp nhận được vì mỗi một trong chúng ta là những cá thể duy nhất. Có người giỏi văn chương, có người giỏi toán, có người giỏi máy móc hay giỏi làm thơ. Nhưng tất cả đều giỏi!

.

5. Phải theo kịp trào lưu quốc tế ?

Thế giới đang toàn cầu hóa như vũ bảo dù ta có muốn hay không. Giới trẻ trong nước còn “tiến bộ” hơn giới trẻ ở những nước Âu Tây nhiều với Facebook, Smartphone, Ipad, Twitter, …Cái khổ là thanh niên Việt Nam “bị” toàn cầu hóa mà … thiếu chuẩn bị nên có lẻ ta đang phải đối mặt với nhiều cái bất bình thường mà các nhà xã hội học gọi là déviance, bạo lực xâm phạm trên mạng, thực dụng, và đỉnh cao của các bất bình thường đó là đạo đức suy đồi.

Mà tại sao giới trẻ ta thiếu chuẩn bị? Một trong những lý do là vì trường học theo những chủ đích, chương trình và phương pháp sư phạm lỗi thời… Máy tính bảng, điện thoại thông minh tràn ngập thị trường trong khi chưa có bài học nào phân tích hiện tượng ấy để ít nhất là trang bị các thanh thiếu niên một hành trang tối thiểu “biết sự kiện, biết ta” để lạm dụng thành ngữ “biết người biết ta”. Rồi từ đó, vì thiếu kỹ năng, học trò bị huyễn hoặc bởi quảng cáo tiếp thị, bởi trào lưu mà không biết cẫn mật hay không có những nguyên tắc hành xử tối thiểu.

Theo trào lưu quốc tế cũng là chú ý đến các thành quả của tâm lý thần kinh học về sự học để áp dụng vào các đổi mới

Từ ba mươi năm nay, thần kinh học về sự học, nhất là với Stanilas Dehaene, để chỉ nói về một tác giả sử dụng tiếng Pháp, cho ta thấy sinh hoạt của não bộ trong quá trình tiếp thu, cho môn Toán hay môn Văn, cho phương pháp này hay phương pháp khác, …Thu nhập các thành quả này để áp dụng vào phương pháp sư phạm là một cách tiếp cận và cập nhật phương pháp sư phạm cho kỳ đổi mới này.

Chúng ta đã băn khoăn về chấm điểm xếp hạng. PISA, Đại học đầu bảng, Olympiades này nọ, trường chuyên lớp chọn. Tất cả những thức đó đều cần nhưng cần hơn là một cơ sở vững chắc, một trường học có chất lượng chứ không cần một trường học đứng hạng cao – dù rằng chất lượng kéo theo hạng cao – nhưng cần chất lượng trước đã, được xếp hạng cao hay không đến sẽ tính sau.

Học trò nước ta thu được nhiều thành quả cao trong các kỳ Olympiade không có nghĩa là ta hoàn toàn giỏi. Vì các kỳ thi ấy chỉ “khảo sát” một trong những khía cạnh của học tập – khía cạnh tiếp thu khoa học – Học trò ta tiếp thu giỏi nhưng không giỏi biến các tiếp thu ấy thành kỹ năng sống và sáng tạo. Ta không thể dựa trên các thành quả ấy để tự hào về nền giáo dục nước nhà.

Theo kịp trào lưu thế giới còn có nghĩa là đào tạo giới trẻ thế nào để chúng sống được với thế giới mở của toàn cầu, chúng “cạnh tranh” được với người đồng trang lứa, vâng, thế giới dần đi tới chuyện phá bỏ các biên giới địa lý, và để chúng sống hạnh phúc.

Cũng xin đừng nói hiện du học sinh của ta hòa hợp được với môi trường học của nước ngoài – chưa có nghiên cứu nào cho phép ta khẳng định điều đó, ta chưa biết bao nhiêu phần trăm du học sinh thành công, bao nhiêu phần trăm thất bại.

.

6. Nghiên cứu để đi tới những kết luận khả thi là việc cần làm. Ta không có chiếc đũa thần để sau một đêm có thể thay đổi toàn bộ một hệ thống giáo dục đã ăn sâu cắm rễ từ nhiều năm nay. Ta cũng không thể bảo rằng lần này đã vay được ngân quĩ gần 80 triệu đô la – cứ như có tiền thì sẽ xong việc!

Nhiều người e rằng quyết định là đầu niên học 2018-2019 sẽ bắt đầu chương trình đổi mới cho lớp 1 là quá vội. Sau khi có chương trình xong ta còn phải khảo sát ứng dụng trên một mẫu có tính đại diện, rút kinh nghiệm tiêu cực tích cực, hoàn chĩnh lại xong rồi mới áp dụng đại trà được. Tất cả những công đoạn này cần thời gian.

Có lẻ cần chủ ý trước tiên tới cải tổ giáo dục mẫu giáo vì ở đây dễ hành động nhất, cấp mẫu giáo lại sẽ là cơ sở để thay đổi các cấp học sinh lớn hơn.

Tiếp đến là lo đào tạo một lớp giáo viên up to date, lại đầy nhiệt huyết – ở đây có thể dùng … tiền để lôi cuốn và giữ gìn nhiệt huyết của những ứng viên giáo viên mà ta sẽ chọn, chọn một cách khoa học và chọn tầng lớp ưu tú – Nhưng tiền đó đúng ra là chế độ đãi ngộ xứng đáng –

Rồi từ từ ta mới đổi chương trình, đổi sách giáo khoa sau khi có kết quả các nghiên cứu hoàn chỉnh về các diễn viên, những cái “được và không được” của chương trình hay phương pháp sư phạm hiện thời.

Đồng thời cũng cần tuyên truyền và giáo dục các tầng lớp xã hội nhất là phụ huynh học sinh về chủ đích của sự học. Để cả xã hội cùng đồng thuận về vấn đề “học để làm gì” trước khi lo đến chương trình, sách giáo khoa hay phương pháp sư phạm.

Tức là muốn cải tổ cũng sẽ cần thời gian. Chậm nhưng chắc. Với hi vọng là tất cả những diễn viên trong môi trường giáo dục đều cảm thấy hạnh phúc trên đường đi.

.

Nguyễn Huỳnh Mai

.

Để đi xa hơn, vài tài liệu có thể đọc được trên mạng:

Tổng quát về đổi mới cải tổ giáo dục

https://huynhmai.org/2016/09/25/nhan-mua-khai-truong-vai-de-nghi-cu-the-ve-giao-duc/

Bài này Tạp Chí Văn Hóa Nghệ An, phiên bản in, đã cho lên trang – số 325, phát hành ngày 25.09.2016.

https://huynhmai.org/2016/10/12/lang-thang-trong-giao-duc-sau-khai-truong-2016/

http://hocthenao.vn/2015/09/07/vai-buoc-lang-thang-trong-giao-duc-nguyen-huynh-mai/

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/ve-van-de-cai-to-toan-dien-he-thong-giao-duc-o-viet-nam-1351556195.htm


Vấn đề triết lý giáo dục

https://www.vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/khach-moi-cua-tap-chi45/ban-tron-ve-triet-ly-giao-duc

http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/giao-duc-khong-triet-ly-3583452.html

Về giáo dục so sánh (hay đối chiếu) và kinh nghiệm nước ngoài

https://hocthenao.vn/2013/07/29/tre-co-the-hoc-gi-o-truong-mam-non-nguyen-huynh-mai/

https://hocthenao.vn/2013/06/10/chuong-trinh-bac-pho-thong-o-bi-nguyen-huynh-mai/

Về những vấn đề cơ bản của giáo dục

https://hocthenao.vn/2016/01/25/stanilas-dehaene-nao-bo-va-day-toan-cho-tre-o-tieu-hoc-nguyen-huynh-mai/

https://hocthenao.vn/2014/11/18/hoc-duoi-goc-nhin-cua-khoa-than-kinh-nguyen-huynh-mai/

http://dantri.com.vn/dien-dan/nghi-ve-day-triet-cho-tre-20170208215341001.htm

http://dantri.com.vn/ban-doc/10-quyen-khong-xoa-bo-duoc-cua-nguoi-di-hoc-1300020787.htm

https://huynhmai.org/2016/07/29/tro-can-hanh-phuc-o-truong/

Bài này, VHNA đã đăng trong số 322, phát hành ngày 10.08.2016.

Nhìn xa hơn, bài này cho thấy những năng lực ta cần hướng tới cho mọi thanh niên khi rời trường học:

https://huynhmai.org/2017/02/25/ky-nang-tong-quat-cua-mot-sinh-vien-o-chau-au/

 

Advertisements

From → Giáo dục

Đã đóng bình luận.