Skip to content

Dân trí, Văn hóa, và Hội nhập toàn cầu

Tháng Sáu 11, 2017

Le niveau culturel du peuple, la culture et la mondialisation

.

Trích một bài cũ, đã đăng ở đây, và đã đăng trên VHNA, nhiều năm rồi:

https://huynhmai.org/2013/11/21/hoi-nhap-toan-cau-va-ban-sac-dan-toc/

Một số quan quyền hiện đang nói hay nghĩ rằng “dân trí ta thấp” nên không thể trưng cầu ý kiến dân.

Cách nói hay suy nghĩ ấy không thể nào chấp nhận được.

Là người đi dạy tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình “khai trí” cho học trò mà châm ngôn của tôi vẫn là “chia sẻ một số hiểu biết của mình với lớp trẻ”. Tôi cũng không bao giờ chấp nhận để các đồng nghiệp phát biểu trong các hội đồng giáo sư, rằng “trò X thông minh hay trò Y ngu” vì theo nguyên tắc trò nào cũng thông minh, có thể giáo viên không biết khuyến khích sự phát triển trí tuệ của một số trò.

Nói rằng “dân trí mình thấp” là một cách chứng tỏ cá nhân người phát ngôn không hiểu “dân trí” là gì.

Thật ra dân trí ta không thấp. Ngay đến một nông dân chỉ biết “bán lưng cho nắng bán mặt cho trời” hay một nghệ nhân suốt ngày bên công việc làm bằng tay chân, cũng có những “hiểu biết” về khí tượng, về mùa màng, về đất, về người, về một số kỹ thuật, … mà các “trí thức, GSTS hay quan quyền” mù tịt! Chỉ có cái là ta quen đề cao hiễu biết từ chương và khinh khi hiểu biết cụ thể.

Còn cách sống ở đời thì chưa chắc giai cấp thống trị sống “tử tế” hơn các giai cấp khác.

Như thế để gián tiếp thấy sự cần thiết của khái niệm bình đẳng. Bình đẳng giữa …”quan và dân”, giữa … “dân trí cao và dân trí thấp”.

Phần bài dưới đây nói về văn hóa và cái quan trọng của văn hóa quốc gia trong bối cảnh toàn cầu, ta cần phải biết “chủ thể” của ta để sống cùng với người khác, kính trọng người khác như ta được kính trọng,  chứ không phải để xếp hạng cao thấp.

xxx

Vì hội nhập mà không còn bản sắc thì không khác chi “bán linh hồn cho quỉ sứ”. Đó là một cách nói. Ta không bán linh hồn cho ai hết nhưng không còn bản sắc thì hội nhập có khả năng là một hội nhập phiến diện, một kiểu quạ mặc áo đủ màu, hết đen nhưng chưa hót được như chim vẹt.

Rời thí dụ về Việt Nam, một cách khái quát, hội nhập văn hóa có thể theo hai hình thức

. hoặc là sự thống trị của mẫu văn hóa được xem như văn hóa mạnh (văn minh Âu, Mỹ, Hàn)

. hoặc là sự kết hợp của hai văn hóa – văn hóa cổ truyền của xứ sở và văn hóa toàn cầu qua các phương tiện thông tin.

.

VHNABà muốn nói là hiện ta bị thống trị văn hóa ?

NHM: Tôi chưa đi đến kết luận đó. Tôi muốn nhấn mạnh rằng mỗi văn hóa là một kho tàng vô giá về kinh nghiệm sống, về cái khôn ngoan của dân tình, về đạo đức, về cách làm người sống trong xã hội. Kho tàng đó là tổng thể những cách xữ sự, sinh hoạt, … thích hợp nhất cho mỗi xã hội, hợp thời hợp cảnh, đồng thời giúp cho xã hội ấy sinh hoạt nhịp nhàng để mà trường tồn.

Thử tưởng tượng vì một lý do nào đó, ta liệng đi cái kho tàng vô giá đó thì xã hội sẽ ra sao ?

Không đến nổi liệng đi, nhưng “xáo trộn” vì nhập vào đó những yếu tố bên ngoài thì nhiều khi cũng đủ làm lung lay cả nền văn hóa.

Theo quá trình toàn cầu hóa, như ta vừa nói trên, sự áp đặt có chứ. Nước giàu áp đặt “bắt” ta mua sản phẩm của họ, áp đặt bắt ta sản xuất dưới thương hiệu của họ, áp đặt ta theo văn hóa họ (The Voice, American Idols, … không là những áp đặt văn hóa thì là gì ? Những tiêu chỉ về sắc đẹp phụ nữ nữa : các cô phải chân dài, da trắng, mũi cao ! Đó là những tiêu chỉ bắt chước phụ nữ Âu Mỹ).

.

VHNA: Tôi có thể giúp bà chỉ dẫn ra rất nhiều hiện tượng khác tương tự. Ví dụ như bây giờ tivi Việt nam mà cứ tưởng là các kênh phim giải trí của Hàn Quốc hay Trung Quốc chẳng hạn. Rồi không hiểu từ đâu, khoảng 10 năm nay lại rộ lên việc giới trẻ đua nhau tôn sùng thần tượng này, thần tượng nọ. Phần lớn là thần tượng ngoại mới đáng lo hơn. Nhưng thưa bà, vấn đề là tại sao họ áp đặt được và tại sao ta bằng lòng chịu áp đặt ?

NHM: Họ áp đặt được, cái chính, là vì họ có phương tiện để áp đặt. Tiền và truyền thông. Nhưng bên cạnh đó, có thể vì văn hóa ta trong bối cảnh nào đó, bị lung lay, có kẻ hở, nên văn hóa khác xâm nhập dễ dàng. Cũng có thể vì một số người có quyền quyết định chấp nhận sẳn sàng làm công cụ cho sự áp đặt hay thống trị đó. Thật tình mà nói, có lẻ tất cả các lý do đó đã góp sức lại và mang áp đặt văn hóa nước ngoài vào Việt nam.

Dân tình theo vì dân tình dễ bị ru ngủ. Dân tình theo vì các phương tiện truyền thông có vạn năng và giỏi làm dân tình mê muội.

Câu trả lời của tôi có thể quá ngắn gọn nhưng cụ thể, muốn áp đặt qua các kênh tivi rất dễ. Chẳng hạn chỉ cần phá giá các soap movies – những phim tình cảm ướt át (từ hiện tại là tiểu thuyết hay phim “ngôn tình”)– Trung quốc hay Hàn – trong giai đoạn đầu. Sau đó, khi khán giả đã nghiện rồi thì tha hồ cho tăng giá. Hay họ lót đường cho những người có trách nhiệm chương trình. Cộng vào đó, các nhà tài trợ nữa, họ tài trợ để tiếp thị hàng của họ. Mà một trong những “mánh” của quảng cáo là khai thác những bản năng sơ khai nhất của con người nên họ sẳn sàng tài trợ và tài trợ nhiều cho những chương trình …hạ cấp . Rốt cuộc, thay vì …nâng cao dân trí, các kênh truyền hình, trong chừng mực nào đó, thành một dụng cụ làm …ngu dân.

Ở Bỉ, cho tới những năm 1990, các kênh truyền hình của quốc gia không được quyền có quảng cáo, trực tiếp hay gián tiếp. Gần đây, quảng cáo được phép nhưng tỉ lệ thời gian phát sóng của quảng cáo, kể cả quảng cáo qua hình thức tài trợ, không được quá 1/20 thời lượng. Dùng tiền thuế dân đóng thì phải phục vụ dân chớ không phục vụ cho kinh doanh thương mại. Bên cạnh đó, có những kênh tivi tư nhân, họ tự bươn chải lo ngân sách và tự do tìm quảng cáo nhưng họ không dùng tiền của dân.

Vấn đề thần tượng và “khùng” vì thần tượng từ giữa thế kỷ trước tới nay, xã hội nào cũng có. Cái khác là ở mức độ.

Nhìn giới trẻ ở Việt nam si mê các thần tượng Hàn quốc chẳng hạn tôi không khỏi nghĩ tới các hiện tượng tương tự ở châu Âu hồi khoảng thập niên 1960. Có thể vì các em ấy đã không được xã hội hóa một cách tròn vẹn để tự tin nơi giá trị và bản sắc của mình. Đồng thời các em bị áp đảo bởi báo chí truyền thông về các mẫu thần tượng. Làm sao nói với các em rằng các thần tượng ấy là những người được hệ thống truyền thông tô vẽ để kinh doanh bằng cách bóc lột sự cả tin hay thiếu cẩn mật của các em ?

Muốn điều đó, có nhiều cách lắm:

. cho môn xã hội học vào chương trình trung học phổ thông và cơ sở để cho các em đủ hành trang để có khả năng phân tích các hiện tượng vây quanh các em.

. tranh thủ để những người quản lý các phương tiện truyền thông có tâm hơn

. vận động để cha mẹ gia đình các em giúp các em tự tin ở giá trị bản thân

. đặt mục tiêu “khai phóng” cho chủ đích giáo dục cấp cơ sở

.

Đồng thời ta cần rất nhiều phản biện trong xã hội để cho dân tình có lựa chọn trong thông tin. Để dân tình suy nghĩ trước khi quyết định theo đường hướng này hay đường hướng khác.

VHNALàm sao để có thể “kết hợp văn hóa”, từ mà bà vừa kể trên ?

NHM: Các văn hóa khác nhau có những bản sắc khác nhau vì nhiều lý do, vừa lịch sử, địa lý, cấu thành nhân chủng, …nhưng không văn hóa nào hoàn toàn độc lập với các văn hóa khác vì chúng ta cùng sống trên một địa cầu, chúng ta gặp nhau, trao đổi ảnh hưởng với nhau. Không phải đợi tới toàn cầu hóa của thế kỷ thứ XX mà từ ngàn xưa, ông cha ta đã sống chung hòa bình với những văn hóa khác nhau (văn hóa của vùng miền trong một quốc gia, văn hóa thành thị hay văn hóa nông thôn, văn hóa của những giai cấp khác nhau trong cùng một xã hội, văn hóa của người cao tuổi hay văn hóa của thanh niên, … xa hơn nữa là sự tiếp cận văn hóa qua trung gian của những lái buôn),

Kết hợp văn hóa là “biết người và biết ta”. Co giản áp dụng cả hai văn hóa.

Phải nói là bất cứ văn hóa nào cũng có cùng một chủ đích : cách làm tốt nhất để sống trong môi trường – môi trường vật chất và môi trường xã hội. Phương thức có thể khác nhau nhưng cốt cách giống nhau. Thế nên kết hợp văn hóa không là một vấn đề khó.

Hình thức đám cưới chẳng hạn. Bên ta, hai vợ chồng trẻ lạy bàn thờ tổ tiên trong khi bên Tây, họ ra nhà thờ để được thừa nhận. Cả hai hình thức đều nhấn mạnh một điều : đám cưới giữa hai người trẻ là một chuyện trọng đại cần sự chứng giám của người sống và của những quyền lực vô hình.

Kết hợp văn hóa cũng là cách tốt nhất để vừa hội nhập vừa giữ bản sắc.

Một thí dụ: trong những năm 1980, ở Bỉ, người ta quan niệm rằng muốn cho con cái những người ngoại quốc định cư ở Bỉ thành công tốt hơn ở trường, cha mẹ chúng nên nói tiếng Pháp ở nhà để trẻ không bị khó khăn về ngôn ngữ.. Rốt cuộc, trẻ không nói được tiếng mẹ mà tiếng Pháp cũng “chơi vơi” vì cha mẹ chúng không giỏi tiếng Pháp làm sao “dạy” chúng tiếng Pháp được? Từ những năm 2000, chúng tôi nhấn mạnh là phải để trẻ người nhập cư nói tiếng mẹ giỏi – làm chủ được tiếng mẹ chúng sẽ phát triển được cấu trúc não bộ để sẳn sàng tiếp thu một ngôn ngữ thứ hai, tiếng của nước nơi chúng định cư.

Qua kinh nghiệm ở Bỉ, hàng rào ngôn ngữ không quan trọng bằng khả năng quán triệt ngôn ngữ và ở trường tiểu học, chúng tôi tổ chức những lớp dạy thêm tiếng Ả rập cho học trò chẳng hạn.

.

VHNA:Tôi có thể hiểu khái niệm kết hợp của bà như cách nói trong nước lâu nay là “tiếp thu có chọn”, hoặc cao hơn là “tiếp biến văn hóa”… Bị áp đặt văn hóa thì sao ? Bà có quan sát các hiện tượng này trên thế giới? Bản chất và biểu hiện của tình trạng này?

NHMTiếp biến văn hóa rất hay. Tức là biến chuyển nhờ những yếu tố bên ngoài mà ta tiếp cận nhưng cái cốt lõi văn hóa vẫn là văn hóa của ta.

Một thí dụ rất bếp núc nhưng rất sáng tỏ : trong nghệ thuật đặt bàn ăn ở trời Âu, cao sang là dùng ly bằng pha lê, dao nĩa bằng bạc. Nhưng gần đây, các món Á lan tràn sang Âu Mỹ, Christofle, một nhà sản xuất dao nĩa, đã sản xuất đũa bằng bạc với kiểu – design – châu Âu. Tức là dân quí tộc, dân thanh cao tao nhã, cũng tiếp khách ăn cơm với đũa nhưng đũa Christofle.

Ngược lại, bị áp đặt lâu ngày có thể đi đến biến mất.

Thí dụ điển hình nhất là các thổ ngữ hay tiếng địa phương. Ở miền nam nước Bỉ, tiếng Wallon, còn nói cách đây 50 năm, gần như hoàn toàn biến mất. Tức là mất luôn cả kho tàng văn chương, kịch và tuồng bằng tiếng Wallon ! Tất cả chỉ vì tiếng Pháp, từ vài thế kỷ nay, được xem là tiếng nói của văn minh, của hiện đại. Ở Pháp cũng có những hoàn cảnh tương tự: Thanh niên ở nước này không còn biết các ngôn ngữ của vùng miền.

.

VHNAVà ở Việt nam, bà thấy biểu hiện này không?

NHM: Hiện có lẽ chưa có nghiên cứu về tình hình văn hóa Việt Nam trước hiện tượng toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, như một số người khác đã lên tiếng, tôi lo ngại cho những mai một, nhất là cho kho tàng văn hóa dân gian.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.