Skip to content

Từ nghề dạy học ở nước ngoài, nghĩ về nền giáo dục nước nhà

Tháng Tám 18, 2017

Mon expérience d’enseignant – A propos de la passion professionnelle, de la méthode pédagogique et de la réflexivité dans l’exercice de la profession. 

Hôm nay nhân bối cảnh thời sự đầy chuyện về người đi dạy, xin chép lại đây hai bài này đã đăng trên Dân Trí đầu năm 2012 (tôi chỉ sợ một ngày nào đó máy chủ của Dân Trí hết khả năng tồn trử và … tôi mất bài cũ) – thế có nghĩa là tôi vẫn cố gắng lên tiếng, dù chỉ là một tiếng nói đơn lẻ :

http://dantri.com.vn/dien-dan/tu-nghe-day-hoc-o-nuoc-ngoai-nghi-ve-nen-giao-duc-nuoc-nha-1328603044.htm

http://dantri.com.vn/dien-dan/tu-nghe-day-hoc-o-nuoc-ngoai-nghi-ve-nen-giao-duc-nuoc-nha-1328722425.htm

.

Tôi đi dạy học từ năm 27 tuổi ở nước ngoài, nhưng khi đó vào đời tôi đã đủ chín chắn để chọn lựa hướng đi cho mình và từ đó đến nay tôi đã không hối tiếc.

.

Một đam mê, đam mê ngành tôi dạy, đam mê truyền kiến thức và đam mê trẻ để đi với trẻ từ lúc chúng chưa biết tới chỗ hiểu biết, từ người ngoại đạo vào “đạo”… xã hội học và từ người thường  –  “phàm phu tục tử” – thành ngườ có tri thức, biết mổ xẻ vấn đề, biết lý luận chuyên nghiệp và biết suy nghĩ, dựa trên các kiến thức vừa tiếp thu.

Đam mê là một phương tiện để vượt khó khăn : đi dạy là một công việc nặng nhọc, phải giải quyết thường nhật nhiều vấn đề, phải truyền hứng thú, … Không yêu thích môn mình dạy làm sao bảo học trò yêu thích được ?

Đam mê để tạo hạnh phúc cho mình và cho học trò mình (cùng chung sức làm một việc). Không phải chỉ trong tình yêu nam nữ mới cần đam mê, tình thầy trò cũng cần đam mê. Phải yêu các em mới có thể tận tình với các em, để hiểu các em, các nhu cầu của các em, mới có thể chấp nhận những “sai lầm” mà các em vướng trên quãng đường khó nhọc của việc tìm kiếm “chân lý khoa học”, …

Đam mê là ngọn đèn soi đường – tôi không dám dùng hai chữ “đuốc thiêng”

Có những em, trước khi đến lớp tôi chỉ biết mang máng về giai cấp hay về khái niệm quyền lực, chẳng hạn, nhưng sau khóa 30 giờ trở thành người say mê môn này và tìm tòi học thêm.

Tính như các kỹ sư theo kiểu so sánh đầu vào (in put) và đầu ra (out put), chúng tôi đã thành công vì out put khác hơn và lớn hơn in put .

Cùng đi với trẻ một quảng đời là một việc vô cùng thú vị và rất phấn khởi cho cả người đi dạy lẫn người đi học. Nhiều năm sau đó, mỗi khi gặp lại nhau, học trò cũ và thầy, chúng tôi vẫn nhắc lại những giai thoại thú vị.

Nhưng đam mê không phải là một nguyên liệu thần diệu giúp thành công. Đó chỉ là một giá  trị thêm vào. Không phải học trò nào cũng cảm nhận được hết, nhất là trong một xã hội mà nghề giáo cũng là một nghề của cách tổ chức phân công trong xã hội. Một nghề thầm lặng, đôi khi có phần bạc bẽo nữa.

Thế nhưng hạnh phúc của tôi không có số. Không dựa trên số học trò, số thiếp hay lời chúc tôi nhận được mỗi đầu năm, số học trò thi đậu, … mà những chi tiết nhỏ nhiều khi vô hình và khó đong đếm như ánh mắt bừng sáng của các em khi khám phá ra một điều mới,  sự tín cậy của các em khi các em bày tỏ những ý kiến và nhận xét cá nhân, những khó khăn trong môn học hay, thỉnh thoảng, những điều các em tâm sự cùng tôi về cuộc sống.

Các “nhân chứng” của tôi là một số bạn bè của các con tôi (có bữa, các cháu hí hửng nói “con biết mẹ dạy bài gì chiều nay và mẹ dạy thế nào !”), là những cộng sự viên của bạn bè tôi (“cảm ơn chị, học trò cũ của chị rất giỏi”), là ông thị trưởng thành phố tôi ở (một hôm, giữa hội trường, ông này chạy xuống chào tôi và tự giới thiệu với mọi người rằng ngày xưa ông ấy học với tôi), …

Một số học trò tôi đã chọn xã hội học về giáo dục như môn chuyên khoa, có em hoàn thành xong Tiến sĩ và hiện dạy Đại học hay Cao đẳng ở Bỉ, ở Pháp, …Đó cũng là những hạnh phúc cho tôi.

.

Sống với học trò

Chủ đích của tôi là giúp các em “đọc” các hiện tượng xã hội, hiểu chúng, giải nghĩa chúng hầu xử sự một cách thích ứng. Để làm người đầy tính nhân bản, tự do. Làm những công dân tử tế.

Tôi đã cố gắng quan sát các khả năng của học trò và đẩy những khả năng ấy phát triển tốt nhất. Như mài ngọc, cho ngọc tỏa sáng.

Tôi đã mang đến cho học trò của tôi  những gì tôi biết trong đại dương xã hội học. Tôi đã phải tìm tòi học thêm để đối thoại với các em về những hiểu biết cập nhật nhất,  như mời các em cùng dự vào bàn tiệc.

Những người dự tiệc thay đổi luôn, có người sợ béo, có người sợ đường,… Tiệc phải tùy theo người ăn: tôi chưa bao giờ cho những bài theo một khuôn mẫu nhất định.

Muốn như thế, tôi đã phải dùng hết nghị lực của mình, mỗi ngày soạn bài, thường xuyên cập nhật, tìm đủ mọi cách để minh họa, bảo đảm sao cho dễ tiếp thu nhất cho các em.  

Những bài học dễ hiểu nhưng đầy khái niệm lý thuyết để học trò tiến bộ trong quá trình học hỏi. Từ từ, học trò tôi khám phá ra rằng các lý thuyết xã hội học tưởng đâu khô khan khó nuốt trôi sao mà gần gũi và dễ nhớ… Durkheim, Bourdieu, Parsons, Warner, Weber, … trở thành quen thuộc,  quen thuộc đến nổi các lý thuyết ấy trở thành các chìa khóa giải mã cho các hiện tượng xã hội chứ không chỉ là lý thuyết ròng.

Tôi cũng tự đặt câu hỏi và tự đặt lại vấn đề thường xuyên. Còn đúng không? có tốt đủ không? …

Những khảo cứu của tôi giúp tôi cập nhật hoá hiểu biết của mình và là nguồn thí dụ cụ thể cho các bài giảng khi lên lớp.

Không thống trị cũng không ngang hàng nhưng dân chủ và đối thoại

Với quan niệm người đi dạy là một người dẫn đường, người hướng dẫn, có vài hiểu biết, không nề hà đưa những thí dụ cụ thể có liên quan đến kinh nghiệm bản thân ra để chia sẻ. Bài học thành sống động và gần gõi với học trò.

Thông thường, chỗ đứng của người thầy trong liên hệ với trò là chỗ đứng của “quyền lực”: thầy là người lớn tuổi hơn, học nhiều hơn, điều hành cả lớp, được cả xã hội giao cho trọng trách truyền kiến thức, dạy dỗ trò, thầy lại là người cho điểm xếp hạng, có quyền thưởng phạt. Trong liên hệ thầy – trò, thầy là “kẻ thống trị” còn trò là “người bị trị”, nếu nói một cách nặng nề. Thật sự,  trong nghiên cứu xã hội học, chúng tôi vẫn dùng các từ này để miêu tả những liên hệ “cổ điển” giữa thầy và trò.

Suốt đời tôi đã chống đối sự thống trị này, hay ít nhất là chống sự bất bình đẳng trong liên hệ thầy-  trò. Tôi đã làm đủ mọi cách để bình đẳng hơn với học trò.

Dạy đi từ nhu cầu và cái lô-gích của học trò là điều tâm niệm thứ nhất của tôi. Cấu trúc của môn học có thể đảo ngược hoàn toàn. Nhập môn hay giới thiệu về xã hội học có thể để ở cuối chương trình sau khi các em đã đi qua hết nội dung và những thành quả chính của môn này chẳng hạn ! Khai thác một sự kiện thời sự để phân tích, đi từ cụ thể rồi qui nạp sang lý thuyết sẽ dễ hiểu cho các em hơn.

.

Không thi cử là một trong những giải pháp để giảm bớt vai trò quyền lực của người thầy: trong quan niệm của riêng tôi, học trò có quyền tự đánh giá.

Tôi đã làm đủ cách để tránh cho học trò thi cử. Thậm chí cho câu hỏi trước khi thi (nếu trường bắt buộc tổ chức kiểm tra chung), cho thi với tài liệu, cho làm tiểu luận thay bài thi, … Thế nhưng sinh viên tôi vẫn học và vẫn giỏi (điểm của môn tôi, lúc so sánh với các môn khác ở Hội đồng khảo thí cuối năm hoàn toàn “hợp lý” – nghĩa là các em có điểm cao cho môn tôi cũng có điểm cao ở các môn khác, và ngược lại). Như có một sự thông đồng ngầm bí mật giữa thầy trò. Cái kiểu “kháng chiến” bí mật ấy mà.

Tôi cũng nhiều lần bày tỏ với học trò tôi rằng thầy có một phần trách nhiệm trong sự thất bại của trò : thày đã dạy tồi, hay dạy không đúng cách, hay đã không biết khuyến khích và gây đam mê cho trò, …

Học trò tôi … «học thêm ngoài giờ» với tôi rất nhiều : các em biết là lúc nào tôi cũng trả lời thư điện tử của các em, các em có thể điện thoại cho tôi trong khoảng thời gian mà tôi dành cho việc đó, các em có thể xin hẹn gặp tôi để nhờ hướng dẫn và các em có thể xem bài thi hay bài làm của mình sau khi tôi chấm điểm.

.

Phương pháp sư phạm, vốn liếng tâm lý học và khả năng nhìn lại mình

Khi một nhà giáo trẻ tìm cách bào chữa sự yếu kém của một bài giảng bằng cách nói lúc có kinh nghiệm em sẽ dạy tốt hơn, tôi thường nhỏ nhẹ hỏi

Em quan niệm thế nào về chỗ đứng của em,

Em biết gì về đề tài bài hôm nay,

Học trò của em là những ai, đặc thù thế nào, đã có vốn gì về vấn đề ấy,

Chủ đích nhắm tới của em là gì và

Em liệu sẽ dùng những phương tiện nào để thực hiện chủ đích …

Trả lời xong các câu hỏi ấy là kể như đã soạn bài xong và đã đi ba phần tư quãng đường hoàn thành tốt bài giảng!

Phần tư còn lại không kém quan trọng vì đó là phần trình bày kết quả cuối cùng của bài. Nhưng phải nói là với những phương tiện tra cứu hiện đại, với những phần mềm của máy vi tính giúp hoàn chỉnh cả nội dung lẫn hình thức… hoàn thành một bài giảng tốt không khó.

Thiển nghĩ hành trang tối thiểu của bất cứ một nhà giáo nào cũng là lòng yêu nghề và yêu trẻ, vốn cơ sở về phương pháp sư phạm, về tâm lý giới trẻ, có khả năng về khoa học chuyên ngành và sau cùng, có khả năng phân tích kết quả cũa mình sau mỗi bài giảng.

 Kinh nghiệm không hẳn là mẹ cũa thành công. Trong khi đó, một quan niệm đứng đắn về giáo dục và sư phạm giúp thành công dễ dàng.

Thỉnh thoảng cũng khó vì có lúc tôi không khỏe, con cái và chuyện gia đình nhiều, có những thời điểm việc nghiên cứu lấn sân, … tôi không đủ đầu tư cho việc dạy. Quản lý một giảng đường có khi đến 200  sinh viên (tôi thoải mái nhất trong các lớp có từ 8 đến 70 sinh viên) đòi hỏi một khả năng lôi cuốn và hùng biện cao, phải khoẻ, phải quyến rũ. Đúng đấy vì người đi dạy làm sao cạnh tranh được với những phương tiện truyền thông hiện đại (tôi không đẹp bằng các cô xướng ngôn viên, tôi không có những phương tiện nghe nhìn của các đài truyền hình hay những kỷ thuật của giới điện ảnh, … )?

Học trò cũng có năm giỏi năm dở, cũng như rượu vang, năm đầy năm thất.


Nhiều khi đọc phải những bài làm rất tệ của học trò, tôi cũng bứt tóc tự hỏi không biết mình đã dạy thế nào mà sinh viên ra nông nỗi …  Nhưng tựu chung, cho tới ngày về hưu, tôi chưa bao giờ chán nghề đi dạy, lại … truyền được lửa cho hai trong số ba đứa con của tôi.

Chuyện lương bổng ?

Trước khi quyết định đi vào nghề giáo, tôi  biết là lương không cao (khoảng phân nửa lương so với các tư chức đồng hàng – lương tháng giáo viên trung học, ở Bỉ, sau khi trừ thuế và các bảo hiểm, khoảng 2000 euros, lương giáo sư Đại học, chỉ hơn 3000 euros, từ từ tăng thêm với thâm niên, tới cuối đời tổng cộng thêm khoảng 50% số lương trên). Tôi lại chọn đi dạy nửa thời gian trong nhiều năm. Nhưng ông bà ta vẫn nói “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, chúng tôi ít đi nghỉ hè hay du lịch, không nhờ người giúp việc nhà, không mặc áo quần hàng hiệu, không mua xe sang, …

Một cuộc sống thanh đạm nhưng không phải lo mưu sinh, chúng tôi mua nhà trả góp trong 20 năm, chúng tôi đã đủ phương tiện nuôi dạy các con của chúng tôi thành người.

Trong xã hội Bỉ, trên một thang xếp hạng gồm 100 nghề, giáo viên trung học cơ sở hạng 17,  còn giáo sư Đại học ở  top 10  những người “danh giá” nhất, thuộc hàng “thân hào nhân sĩ” trong xã hội !”

.

Nghĩ tới đồng nghiệp ở Việt Nam ?

Chuyện của tôi chỉ có thể hiểu trên mặt vi mô. Các nhà giáo ở Việt Nam, vạn người, vạn hoàn cảnh khác nhau. Từ xa nhìn về, chỉ biết một số việc  qua báo chí,  nên xin mạo muội bày tỏ vài nhận xét :

1. Trường học có còn là nhờ hai diễn viên chính: học trò và giáo viên.

Học trò là tương lai của đất nước, nếu không lo cho chúng thì chẳng khác nào từ chối theo đường tiến triển của nhân loại. Mà tất cả học trò đều có quyền đi học, lớn hay bé, ở thành thị hay ở vùng cao … Phải làm sao có đủ trường cho các em, phải làm sao để học phí không là một yếu tố gây bất bình đẳng là những điều tối thiểu !

Không có giáo viên thì ai dạy học trò ? Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy. Một giáo viên mầm non ngoài biên chế với lương tháng 800.000 đồng là một điều cười ra nước mắt . Tôi không so sánh …trái táo với trái lê (comparer les pommes et les poires – thành ngữ Pháp), nhưng nếu ta có khả năng xuất ra 650 tỉ cho Viện Toán học thì thế nào cũng còn vài trăm tỉ cho giáo dục cơ sở !

Ngoài chuyện tiền bạc, cũng xin nêu lên chuyện chất lượng đào tạo.Xin đừng đi chậm con tàu trên phương diện phương pháp và tâm lý giáo dục,  xin đặt trọng tâm cho việc đào tạo giáo viên, đừng nghĩ rằng dạy học là một “bản năng”, ai dạy cũng được và cũng đừng nói như ai đó “có dốt, với vài cố gắng cũng thi được vào sư phạm” (thứ nhất vì không có trò dốt, khi có dịp tôi sẽ giải thích điều này,  thứ nhì, muốn có thầy tốt thì phải tuyển từ thành phần tinh hoa của sinh viên  …).

2. Giáo dục là ưu tiên thứ nhất nhưng nói nhiều thứ từ nhiều năm nay, chưa có thành tựu nào cụ thể. Tại sao ngay tại các hội thảo, giới thẩm quyền không đưa ra những phương sách cụ thể với lịch trìnháp dụng  và chỉ định cơ quan  kiểm soát tiến triển ?

3. Cũng xin gợi ý cải tổ từ gốc, từ mầm non, chứ không từ Đại học. Phổ cập hóa giáo dục mầm non cho các bé 5 tuổi là một công việc rất tốt, đã thành tựu tại một số tỉnh thành, phải ghi công, phải tiếp tục. Cải tổ phương pháp giáo dục, cải tổ chương trình học,  áp dụng những thành quả mới nhất về tâm lý trẻ và tâm lý giáo dục để đạt hiệu quả cao. Xin bỏ những thi đua cho thành tích gây áp lực vô ích cho cả thầy và trò. Xin đặt tín nhiệm và trách nhiệm cho người thầy để thầy tổ chức việc học cho trẻ, tùy theo đặc thù của chúng. Ta có quyền quản lý tập trung nhiều chuyện, nhưng phương pháp giáo dục thì không tập trung được.

4. Giáo dục không thể là một ngành của kinh tế thị trường, không thể dùng trẻ như một công cụ đầu tư. Để kinh tế thị trường thống trị giáo dục là đào sâu bất bình đẳng xã hội. Chẳng những thế, phải làm sao loại trừ bỏ hết tất cả mọi hình thức tham nhũng hối lộ ở trường (trả tiền để xin việc, mua bán bằng cấp, mua điểm thi, phong bì , …). Giữ môi trường giáo dục trong sạch  là một cách hữu hiệu góp phần vào sự trong sạch hóa cả xã hội.

5. Xã hội cũng phải chung tay lo cho giáo dục trẻ:  gia đình, các tổ chức đoàn thể chính trị, các cơ quan công quyền, báo chí truyền thông… Rất nhiều kỹ năng trẻ học được từ gia đình và xã hội. Xã hội mà đảo điên thì bảo trẻ trung thực sao được? Nhiệm vụ chính của trường học vẫn là truyền kiến thức. Trường học cũng là một môi trường sống, phải cho trẻ sống vui sống tốt – nhưng không phải vì thế mà thêm vào chương trình những môn học mới, gây quá tải và áp lực cho trẻ mà hiệu quả không bao nhiêu.

Trong dấu ngoặc, bạo lực ở học đường phần chính là được “du nhập” từ xã hội vào trường học. Muốn ngừa bạo lực ở trường, có lẽ phải tìm ra căn nguyên xa hơn …

.

Làm sao để 10, 20, 30 năm sau, các thế hệ đang đi dạy và đi học hiện nay có thể nói “tôi đã rất hạnh phúc ở trường” .

 Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Giáo dục

Đã đóng bình luận.