Skip to content

Chuyện của ba Tiến sĩ đi từ Đại học Liège

Tháng Chín 8, 2017

Comment certains docteurs peuvent se débrouiller dans la vie. Trois récits de diplômés de l’Université de Liège.

.

Về phương pháp, ba chuyện này được thu thập với phương pháp phỏng vấn chuyện đời – collecte des récits de vie – với một câu hỏi duy nhất: Ôg/bà sống như sao với cái Tiến sĩ ?.

.

Bà AL là một bác sĩ Tai mũi họng, tốt nghiệp ở Liège – dù đã có thời gian tập sự bốn tháng ở Montpellier và Grenoble bên Pháp – Sau đó bà cũng đã học chuyên khoa và nghiên cứu tiến sĩ ở Liège.

Chỉ trong hai ba dòng tóm tắt hết cuộc đời học hành của bà nhưng đó là một quá trình hơn 12 năm kể từ lúc xong trung học phổ thông. 12 năm với những ngày học tới 16 giờ trên 24 hay có những lúc lo cho bệnh nhân bất kể giờ giấc. Lại còn phải “chăn” đàn chuột bạch ở phòng thí nghiệm cho công trình khảo cứu – bà chuyên về thính giác của chuột.

Giản dị lắm, với một cuộc sống như thế nên tuy bà đã kết hôn từ rất lâu, với một bạn đồng nghiệp,  nhưng tới năm 34 tuổi vẫn chưa dám quyết định có con.

Sau tiến sĩ bà theo chồng sang Cambridge, Anh quốc. Chồng bà có học bổng sau tiến sĩ còn bà chỉ đóng vai …”phụ nữ xuất giá tùng phu”, “anh đi đâu thì em theo đó” – y như mẹ của bà ba bốn mươi năm trước.

Thế nhưng qua đến Cambridge, bà cũng tìm ra một học bổng hậu tiến sĩ ở University College of London, một trong những Đại học trong top 15 của bảng xếp hạng các Đại học toàn cầu.

Tiếp theo, là dù phải mỗi ngày ngồi trên xe lữa và xe điện ngầm gần hai giờ, cho bận đi và bận về, để di chuyển từ Cambridge đến London, bà đã có một thời gian làm việc đầy hứng thú :  sinh hoạt trong một môi trường tích cực, với những khoa học gia và bác sĩ chuyên môn vừa giỏi vừa nhân hậu, bà hoàn thành xong một bài báo đăng trên một tạp chí khoa học có chỉ số ảnh hưởng cao, trong năm ấy.

Chuyện có vẻ như thần tiên, nhưng những tháng đầu bà đã phải làm quen với tiếng Anh, không những tiếng Anh khoa học – chuyện đó không khó lắm, nhưng tiếng Anh của các bệnh nhân để có thể hiểu và đối thoại với họ. Và tiếng Anh của phòng mổ với những chữ tắt, từ lóng, từ bị cắt xén, …

Với bệnh nhân thì phải làm sao hiểu họ – dân ở London là dân thập phương, với giọng Ấn, giọng Mỹ, giọng Đức, … rồi chính bà phải dùng một thứ tiếng Anh đầy thông cảm với những tế nhị của ngôn từ – theo ngữ vựng hiện thời là “làm sao diễn tả được sự thấu cảm”.

Ở phòng mổ thì phải hiểu hết và hiểu nhanh, dùng đúng chữ vì ở đó, không được phép dùng chữ sai hay chần chờ: bệnh nhân trên giường mổ ở đó, chuyện là chuyện sống-chết, bà là bác sĩ phẩu thuật, tay nghề là cần thiết đành rồi nhưng cuộc mổ nào cũng là công việc của một nhóm đi từ y tá, bác sĩ gây mê, … phải biết “ra lệnh” hay “tuân thủ” những việc làm của ê kíp.

Chuyện ở phòng thí nghiệm không giản dị hơn. Bà phải … nhập gia tùy tục với nhóm mới, với những us et coutumes – tập quán – khác với nhóm của bà ở Liège.

Thế là bà đã học ngày học đêm để đạt được trình độ cần thiết cho công việc tiếp đó. Bà mất ba kí lô, mắt quầng đen vì thiếu ngủ,.. nhưng bà ngẩng cao đầu tiếp tục ở nhà thương, song song với việc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm để viết bài báo.

Sau 13 tháng, bà về Bỉ, cũng là theo chồng vì nếu không có bó buộc đó thì Đại học London đã đề nghị bà ở lại, làm giáo sư trợ giảng. Lúc trở về Bỉ, bà được bổ nhiệm giám đốc nghiên cứu. Có lẻ trong lịch sử của Đại học Liège chưa có giám đốc nghiên cứu Y khoa nào trẻ như bà lúc ấy.

Chuyện có hậu: bà quyết định sinh con và cho ra đời một bé gái xinh xắn. Nhưng bé ấy sẽ là đứa con duy nhất vì cụ thể mà nói, hoàn cảnh không cho phép bà sinh và săn sóc nhiều con.

.

Ông L là kỷ sư, tốt nghiệp ở Liège. Trong quá trình học, ông đã ba lần trình toà những nghiên cứu về thông minh nhân tạo để chế … mắt biết nhìn thấy, nhìn đa chiều, gần như mắt người, của các robot.

Ngày ông trình tiểu luận ra trường, có một xí nghiệp mời ông về cộng tác với lương khởi nghiệp trên dưới 6000 euros mỗi tháng. Nhưng ông đã chấp nhận một học bổng Tiến sĩ chưa đầy 2700 euros mỗi tháng, trong bốn năm, với bổn phận trợ giảng 4 giờ mỗi tuần cho giáo sư đở đầu.

Thế là ông được tiếp tục cuộc sống … vô tổ chức, như dân du mục: không gia đình, không nhà cửa – ông vẫn ở cư xá sinh viên – nhưng được làm công việc mà ông thích.

Sau Tiến sĩ, ông nhận một học bổng hậu Tiến sĩ ở Italia, ở đó một năm, vẫn đơn thân độc mã. Ông dành dụm tiền mua  một chếc xe nhỏ để thỉnh thoảng chạy về Bỉ thăm gia đình và bạn bè. Đi xe hơi dễ hơn đi tàu hỏa hay máy bay vì tự do hơn, không phải lệ thuộc giờ giấc – mặc dù đó là một hành trình trên 1200 cây số.

Nghiên cứu hoàn thành Tiến sĩ hay sau Tiến sĩ, nói có vẻ dễ lắm, nhưng điều đó có nghĩa là ông phải từ bỏ những đam mê khác như chơi thể thao mỗi tuần trong một đội vũ cầu hay chơi đàn dương cầm vì không làm sao mang cái đàn piano trên … vai lúc đi ra nước ngoài.

Sau Italia, vẫn sau Tiến sĩ, ông được một đại học ở Canada cấp một tài trợ nghiên cứu hai năm, với khoảng 45-50000 đô la Canada mỗi năm trong khi một người cở trình độ ông ra làm bên kỹ nghệ thì lương ít nhất là gấp đôi.

Nhưng ông bén duyên với Đại học, cả trong nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vì đã gặp bạn đời của ông, một người cùng ngành, cũng là người di dân, đến từ … Italia. Quá khứ của lúc ông ở bên xứ Ý hai năm trước là khởi điểm cho cuộc tình.

Sau hai năm đó, ông trở thành giáo sư trợ giảng ở trường ĐH  này và đã cho ra đời, không những là hai bài báo xuất sắc mà còn là một cậu bé hứa hẹn sẽ giỏi Toán như cha mẹ của cậu – một cậu bé có ba quốc tịch: Bỉ như cha cậu, Ý như mẹ của cậu và Canada vì cậu chào đời ở xứ này. Hiện cậu bắt đầu học nói  hai thứ tiếng, Ý và Anh.

Làm Tiến sĩ ở trời Âu thường là như thế đó. Phải có tài, cần mẫn, yêu nghiên cứu, … mà còn phải chấp nhận xa nhà, hi sinh các sinh hoạt khác, …

Ông MD, là một nhà sinh học. Ông xong Tiến sĩ ở Bỉ, học thêm tin học áp dụng vào khoa học của sự sống. Ông lập gia đình sớm, lúc chưa xong Tiến sĩ và vì sinh kế, ông phải đi làm ở một hảng dược – học bổng Tiến sĩ không đủ để nuôi con – , một xí nghiệp đa quốc gia. Cũng cần nhắc là trong quá trình nghiên cứu cho Tiến sĩ, ông đã có lúc đi học hỏi  dài ngày ở Baltimore và Washington DC ở Mỹ. 

Chuyện đời tưởng an bình như thế. Nhưng vợ ông, cũng Tiến sĩ Sinh học như ông, cũng làm trong một xí nghiệp dược quốc tế – kết hôn với người giống mình, các nhà xã hội học đã nói nhiều về cái luật đó – Vợ ông được gửi sang Mỹ trong ba năm.

Phải làm sao bây giờ, chẳng lẻ đóng vai vợ chồng Ngâu suốt thời gian ấy ? Đã thế, hai ông bà lúc ấy đã có hai cháu bé, lên tám và lên bốn.

Cũng may là hai cháu đã được cha mẹ rèn luyện song ngữ Anh và Pháp từ bé. Thế là ông MD từ chức, mang hai con theo vợ sang Mỹ.

Bà ML đã theo chồng sang Anh. Nam nữ bình quyền, ông MD theo vợ sang Mỹ cũng đâu có gì là bất thường.

Vợ ông, vì được xí nghiệp thuyên chuyển nên xí nghiệp đã lo cho bà giấy phép lưu trú và hành nghề tại Mỹ. Còn ông, ông đã phải hoàn tất mọi thủ tục trong lúc tìm việc làm – Dù là dân Âu châu, có trình độ cao, có vợ đi làm ở Mỹ nhưng ông MD đã mất hơn bốn tháng mới xong mọi giấy tờ và tìm được việc – tức là bốn tháng “sống bám” vào lương vợ.

Nhưng chuyên môn cao và có quá khứ kinh nghiệm nghề nghiệp, ông đã tìm được việc làm gần đúng theo sở thích, và xí nghiệp đã đồng ý đợi đến lúc ông được thẻ lao động.

Mỗi tuần ông đến hảng làm việc hai ngày. Những ngày khác thì làm việc từ nhà – vì từ nhà đến hảng là ba giờ lái xe.  

Ba thí dụ của bài này cho thấy là dù các xã hội Âu Mỹ hiện đang khủng hoảng kinh tế, tỉ lệ thất nghiệp cao, nhưng các Tiến sĩ chưa đến nổi phải ở nhà nấu cơm cho vợ hay chồng.

Dĩ nhiên, với ba thí dụ ta không thể kết luận.

Mặc dù có một số điểm chung cho cả ba trường hợp (đi nhiều quốc gia, công bố quốc tế, đa phần họ tiếp tục nghiên cứu, dạy Đại học và dĩ nhiên, tiếng Anh là ngôn ngữ thường ngày dù Pháp ngữ là tiếng mẹ của họ)

Hơn nữa, cũng cần nhấn mạnh trên một chi tiết : các nhân vật kể trên là những người đã “đấu tranh” để được các thành quả ấy. Chứ ở các nước Âu Mỹ, khó mà cậy trên tiên bạc hay thế lực của cha mẹ. Cũng không có ai …làm cỗ cho họ xơi. Trái lại họ phải lo xin học bổng hay xin việc làm.

Cuối cùng, cả ba Tiến sĩ trên đều là những người rất tự lập.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

Đã đóng bình luận.