Skip to content

Học dưới góc nhìn của khoa Thần kinh

Tháng Mười Hai 3, 2017

A propos de la neuroscience de la cognition

Bài này, đã gửi về Dân trí – Thật ra đây là  cập nhật nội dung của một bài viết cách ậy ba năm – khoa học tiến bộ như thế đấy:

https://huynhmai.org/2014/11/14/hoc-duoi-goc-nhin-mot-bac-si-than-kinh/

.

 Khoa thần kinh của sự học giúp ta hiểu được những vai trò và biến đổi của não bộ khi ta học. Bài này chỉ nhập môn. Bài tiếp theo sẽ bàn về thành công hay thất bại của một số phương thức sư phạm, về nhu cầu học của trẻ và về cái hại của stress trong sự học. Tất cả đều dựa trên các phản ứng quan sát được của não bộ người đi học

Phương pháp của khoa này tựu chung là đi từ kiến trúc của não bộ, những vùng riêng biệt và từ đó quan sát cách sinh hoạt của các cấu trúc đó trong lúc trẻ học. Chuyên viên thần kinh của sự học dùng máy quét cộng hưởng từ sinh hoạt (IRMf – scanner par résonnance magnétique nucléaire de fonctionnement), máy đo đồ thị sinh hoạt của não (EEG – électroencéphalographie), máy đo cử động của mắt (eye tracking). Họ lập ra một loại bản đồ của não bộ – brain maping – cho thấy những hình ảnh của não bộ, những thay đổi linh động các vùng của não cộng với di chuyển của mắt, … trong lúc trẻ tập đọc, làm toán hay lúc học để thuộc lòng.

Những kết quả thu nhặt được tới giờ cho thấy là hai điều quan trọng trước tiên: trẻ “học” rất sớm và “học” lúc ngủ,

Não bộ của trẻ làm việc rất sớm, ngay từ lúc mới chào đời, những thu thập này được tích trử có ngăn nắp trong các vùng khác nhau của não bộ tùy theo bản chất của sự vật – cho trí nhớ về màu sắc, trí nhớ về âm thanh ngôn ngữ hay về toán chẳng hạn.

Ta cũng tưởng là các sinh hoạt não bộ của trẻ sẽ ngưng lại, bị gián đoạn trong lúc chúng ngủ. Thật sự thì não của trẻ hoạt động với một cường độ lớn trong lúc ngủ mơ, như thể chúng quay cuộn phim những gì chúng vừa sống ban ngày theo một vận tốc nhanh gấp bội – Nhờ thế mà chúng nhớ.

Từ lúc nảo trẻ học được? Từ lúc mới chào đời hay là ngay cả khi còn trong bụng mẹ?

Những nghiên cứu cho thấy, từ những năm 1980, rằng trẻ trong bụng mẹ, trong ba tháng cuối của thai trình, có thể nhớ những mùi vị qua mùi vị của nưỡc ối – thí dụ khi bà mẹ dùng những gia vị như cà ri, một gia vị có khả năng vượt qua hàng rào của nhau thai.

Bào thai còn có khả năng nhớ những âm thanh như giọng nói của mẹ, một số bản nhạc.

Trẻ vừa chào đời vài giờ đã ghi nhận được các chìa khóa của ngôn ngữ khi được đặt trong môi trường có các âm thanh. Khả năng tiếng mẹ được activated – mở – từ lúc đó và các nhà khoa học quan sát được sự phát triển của vùng não phía trái, tức là vùng của ngôn ngữ.

Tất cả những khám phá này đặt lại vấn đề “năng khiếu trời cho”.

Tương tự như thế, khả năng hấp thụ các khái niệm về số, về toán cũng bắt đầu phát triển nơi các trẻ sơ sinh mới ra đời từ vài giờ.

Tức là nếu môi trường cho những stimuli – kích thích – đúng và liên tục thì trẻ sẽ phát triển khả năng về ngôn ngữ, khả năng về toán… Thật ra nơi trẻ, đó là những phát triển dây chuyền trong đó có, ồ ạt chen nhau, những khả năng lúc chào đời và những tiếp thu đầu đời.

Hiện các chuyên viên về khoa thần kinh của việc học đã minh chứng rằng trong não của các nhà toán học vĩ đại thì vùng mà họ dùng thường xuyên trong công tác nằm đè lên vùng chuyên cho đếm và số mà họ đã vốn có khl còn bé – Nói cách khác, những tiếp thu đầu đời là khởi điểm của những bộ óc lớn về Toán sau đó!

Khái niệm về sự mềm dẽo, uốn nắn được của não bộ

Khái niệm này hiện được thừa nhận rộng rãi. Đó là khả năng của não bộ cấu trúc lại tùy theo kinh nghiệm sống của cá nhân.

Thế sự học có làm não bộ khác đi?

Câu trả lời là tùy theo cách nhìn vấn đề.

Trên bình diện vĩ mô, ta thấy là các dây thần kinh của bất cứ cá nhân nào đều có những liên kết giữa các bó kết nối – grands faisceaux de connexions – giống nhau. Cấu trúc đó đi từ tiến hóa của loài người từ nhiều ngàn năm trước – và giống nhau – dù là họ không cùng văn hóa hay nghề nghiệp.

Những tiến bộ về toán và tin học chưa được “ghi” vào cấu trúc vĩ mô não của nhân loại,

Nếu nhìn gần hơn, trên vi mô, ở đây ta lấy đơn vị là milimètre, não bộ của các cá nhân đều khác nhau và lịch sử quá trình học hỏi của cá nhân được “dịch” ra, trong não, bởi lực và vận tốc mà các kết nối sẽ diễn ra. Một người biết chữ chẳng hạn thì cách tiếp nối giữa các sợi trục thần kinh cho ngôn từ và thần kinh thị giác mạnh hơn và nhanh hơn. Những vùng này cũng phát triển hơn so với não một người không biết chữ.

Cũng trên vi mô, hiện ai cũng biết rằng kinh nghiệm học hỏi làm thay đổi một cách cơ bản những liên kết giữa các các tế bào thần kinh. Tức là “chuyện” của hàng triệu dây liên hoàn, tạo ra hay làm thay đổi hàng tĩ tĩ (một số với 18 số 0) các phân tử tiếp nhận trong não.

Tựu chung, có những biến chuyển làm não bộ phải tái cấu trúc và thay đổi các mạch não làm cho não của ta có diện mạo khác. Sự học tạo ra những biến chuyển đó.

Trong thí dụ của việc học đọc. Những nhà nghiên cứu đã quét não của một bé mẫu giáo rồi sau đó làm scan lại lần nữa khi bé vào lớp 1. Kết quả cho thấy rằng vùng nhận diện chữ viết, lúc bé ở lớp 1, làm việc tốt hơn vùng nhận diện hình ảnh. Trước đó thì ngược lại.

Không được học,  ở tuổi trưởng thành, người mù chữ tiếp thu ngôn ngữ nói – ngôn ngữ nói không cần biết chữ – chậm hơn và trí nhớ về ngôn ngữ của họ cũng kém hơn là người biết đọc. Não của họ không được cấu trúc để giỏi khả năng tiếp thu và lưu giữ ngôn ngữ.

Học và những thay đổi dài hạn của não?

Hiện các nghiên cứu đã chứng minh rằng những người lúc trẻ học nhiều hơn thì giữ được minh mẫn trí óc lâu hơn khi già. Ít bị hay bị trể hơn các chứng bệnh như Alzheimer. Hay bệnh mất trí nhớ của người cao tuổi.

Sự học bảo vệ não bằng một loại … kho tồn trử trí nhớ để dành. Kho mà lớn thì dùng được lâu hơn.

Sự bảo vệ này hiển nhiên nhất đối với những người đã nói hai ngôn ngữ sớm. Những người này, khi chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia, đã rèn hệ thống thích ứng của cả bộ thần kinh của họ.

Những người đã chuyên làm một việc tĩ mĩ như thợ kim hoàn, nghệ sĩ điêu khắc, hay những nhạc sĩ cũng bảo vệ não của họ như thế. 

Học suốt đời cũng là một cách giúp vệ não duy trì khả năng trí tuệ.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

Đã đóng bình luận.