Bỏ qua nội dung

Phụ nữ và khoa học

Tháng Hai 19, 2018

Les femmes et les sciences – en souvenir des âpres discussions avec ma fille, à l’époque où elle devait suivre son époux à Cambridge et où elle a réussi à entrer, avec force et courage, dans la cour des grands à UCL – University College of London – comme chercheur-clinicien.

.

Bài  này đã đăng ở đây  (30.10.2012) :
http://dantri.com.vn/c25/s809-657322/phu-nu-va-khoa-hoc.htm

.

Trong bài báo “Phụ nữ Việt Nam – Niềm tự hào của dân tộc”, TS Nguyễn danh Bình – báo Giáo dục và Thời Đại điện tử, 3/3/2012 có đưa vài con số thống kê đáng chú ý

. 61% lao động ngành y tế là nữ;

· Nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII chiếm 24%;

· Nữ công chức trong cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên chiếm 31%;

· Trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo, phụ nữ chiếm 74% trong tổng số 1,044,035 nhà giáo trực tiếp đứng lớp;

· Phụ nữ chiếm gần 40% số người có trình độ thạc sĩ, 21% số người có học vị tiến sĩ, 14% số giáo sư và 38% số phó giáo sư.

.

Chỉ qua vài con số kể trên, ta thấy tỉ lệ phu nữ tham gia vào sản xuất không kém gì nam giới nhưng tỉ lệ này sụt ngay trong lỉnh vực chính trị, khoa bảng và đại học ở cấp cao.

Tình trạng bất cân đối giới tính trong lao động cao cấp và khoa học ở Âu Mỹ cũng thế.

.

Bốn trường hợp cụ thể: chuyện phụ nữ và khoa học ở trời Âu…

Bà A., rất sớm, là một giảng sư Đại học trẻ, đầy hứa hẹn. Thế nhưng, vào năm 35 tuổi, sau khi cho đứa con thứ nhì chào đời thì bà lẳng lặng không xin bổ nhiệm giáo sư, chỉ giữ lại một số sinh hoạt có giới hạn để có thể đồng thời nuôi dạy con – chồng bà cùng nghề – nếu hai vợ chồng đều lo cho “sự nghiệp khoa học” thì ai sẽ chăm sóc trẻ ở nhà? 30 năm sau, bà hảnh diện với những đứa con được giáo dục thành người và vui sống với hạnh phúc của chúng. Hai trong ba đứa con của bà cũng theo nghiệp khoa học như cha mẹ.

Bà B., một bác sĩ chuyên khoa, Tiến sĩ khoa học, quyết định không có con để có thể tiếp tục nghiên cứu, dù đã lập gia đình với một đồng nghiệp từ gần 10 năm rồi. Hiện bà sinh hoạt ở một Đại học xếp hạng thứ 7 trên thế giới. Mỗi ngày, bà tận tình lo cho các bệnh nhân, đi sớm về trể với công việc trong phòng thí nghiệm… Bà còn nay đây mai đó để trình bày các công trình của mình tại các hội nghị quốc tế.

Bà C., một giáo sư Luật xã hội có tiếng tăm toàn cầu. Chồng bà đã không chấp nhận một người vợ chỉ biết có khoa học. Kết cục, li dị, không có con, bà sống cuối đời trong cô đơn. Nấn ná tới hơn 65 tuổi mới thực sự rời Đại học để nghỉ hưu, hôm đó, ở bữa tiệc đưa tiễn, bà tuyên bố trong nước mắt: “Dù rất hạnh phúc vì đã mang lại vài tiến bộ cho ngành Luật xã hội nhưng nếu có thể làm lại cuộc đời, tôi sẽ có những chọn lựa khác”.

Thế nhưng không có nghĩa là tất cả phụ nữ đều phải chọn lựa giữa gia đình và sự nghiệp khoa học. Ta có thể kể thí dụ của bà Marie Curie, hai giải Nobel về Vật lý và Hóa học (1903, 1911), một khoa học gia đã làm được “hai đảm đang”: cùng vẹn toàn việc nghiên cứu và việc nuôi dạy hai con gái trong đó có bà Irène Joliot-Curie, cũng giải Nobel về Hóa học (1935).

.

Tình trạng chung: phụ nữ và khoa học?

25% giáo sư Đại học ở Mỹ là phụ nữ và đó là một tỉ lệ cao vì ở châu Âu, con số này ở khoảng 15%.

44 phụ nữ được giải Nobel trong số 853 người hay cơ quan được giải này tới năm 2012. Hiện không một phụ nữ nào có Huy chương Fields.

Không nói đến các giải thưởng khoa học, ngay tới trong các Đại học và Viện nghiên cứu, bất bình đẳng giới trước khoa học vẫn to lớn. Tới ngày hôm nay, phụ nữ vẫn chỉ giữ một vị trí nhỏ hẹp trong sản xuất tri thức.

Về số liệu, số nữ sinh viên Đại học không kém các bạn đồng song nam giới (trừ ngành kỹ sư, các cô chỉ chiếm khoản 10-15%). Nhưng tới hàng nghiên cứu sư và giáo sư, sự khác biệt thành to lớn: ở Bỉ, không hiếm trường hợp vắng bóng hoàn toàn giáo sư nữ giới ở phân khoa kỹ sư hay y khoa (tùy thời điểm, mặc dù trong quá khứ đã có trường hợp viện trưởng của Đại học lớn nhất Bỉ là một phụ nữ).

.

Nhìn chung và trên bình diện số lượng, theo các nghiên cứu của OCDE, năm 2005, trên số giáo sư thực thụ ở Đại học được bổ nhiệm, 15% là phụ nữ (ở Bỉ, Hà Lan Đức và Áo chỉ khoảng 9%, – lại quanh quẩn trong các khoa học xã hội, những ngành truyền thống được xem là thích hợp cho phụ nữ -).

.

Tổ chức WIST (Women in Science and Technology) mang đề tài vai trò của phụ nữ trong khoa học ra nghiên cứu và đã đưa ra những dữ kiện sau đây :

– Trong các viện nghiên cứu, ở Pháp chẳng hạn, tỉ lệ nhân viên nữ ở hàng kỹ thuật viên chiếm hơn 70% nhưng khi đến hàng nghiên cứu sư, chỉ còn 20%, lên đến giám đốc nghiên cứu thì số phụ nữ không hơn 10%.

– Tính chung trong châu Âu, tỉ lệ phụ nữ trong khoa học cũng tương đương thế.

– Cộng hết các bằng sáng chế từ 10 năm nay, phụ nữ chỉ chiếm khoảng 7% trong số các tác giả của các bằng.

– Đứng đầu bảng bình đẳng giới trong khoa học là Phần Lan (23,5% giám đốc nghiên cứu hay giáo sư là phụ nữ – Phần Lan và Thụy Điển là hai nước đầu tiên có luật cho phép người cha nghỉ phép, có lương, để ở nhà nuôi con trong khi người mẹ đi làm , từ những năm cuối thập niên 1970) nhưng cũng chưa cao bằng tỉ lệ này ở Mỹ (25%).

(Để không ngộ nhận trong các tỉ lệ, xin nhắc lại là phụ nữ chiếm hơn 50% dân số vì lý do chính là hiện các bà sống lâu hơn các ông. Nếu bình đẳng trong khoa học thì các tỉ lệ phụ nữ kể trong bài phải ở khoảng 50%).

.

Một cách khái quát hơn, UNESCO, năm 2005, tóm lượt tình trạng của phụ nữ trong lĩnh vực khoa học như sau:

ít phụ nữ tham gia vào các nghề này

khi muốn tham gia, họ gặp nhiều khó khăn

họ vắng bóng ở những vị trí quyết định hay chức vụ có trách nhiệm cao

UNESCO tổng kết là chưa có một nước nào trên thế giới mà nam và nữ tham gia vào khoa học một cách bình đẳng. Mặc dù là mỗi năm, cơ quan quốc tế này đưa ra giải UNESCO-L’OREAL để vinh danh những nữ khoa học gia xuất sắc. Ở Pháp, từ 2001, giải Irène Joliot-Curie cũng theo đuổi mục đích này.

.

Vài phân tích lý giải

Về trí tuệ, không thể khẳng định là phụ nữ kém hơn nam giới. Tức là trên bình diện sinh học, khả năng tiềm ẩn không có giới tính: hầu như tất cả mọi trẻ đều có khả năng thành thiên tài âm nhạc hay giải Nobel. Nhưng được vậy hay không, một phần lớn là do môi trường quyết định.

Ai cũng biết rằng sự phát triển của não, ít nhất là một phần, bị ảnh hưởng bởi khung cảnh và điều kiện sống (kích thích của môi trường giúp cấu tạo các dây liên hoàn giửa các tế bào thần kinh). Trong các gia đình, trong xã hội, thường có sự đối xử khác biệt đối với bé gái và bé trai (cách cho ăn mặc, chọn đồ chơi, dạy dỗ…). Từ đó các cháu phát triển khác nhau, có khác biệt về sự tin cậy trên khả năng mình, và cuối cùng các cháu cố gắng trả lời sự chờ đợi của những người chung quanh, chọn ngành học và chọn nghề… theo các khuôn mẫu xã hội.

Khi xã hội vẫn còn nghĩ rằng phụ nữ phải đẹp, phải quyến rũ nam giới, phải dịu dàng còn đàn ông phải đầy nghị lực và có khả năng quản trị, điều khiển… thì phụ nữ trong xã hội ấy khó mà bình đẳng với nam giới!

.

Sự “tự đào thải” của phụ nữ. Sau trung học chẳng hạn, khi được hỏi về dự định tương lai, nữ sinh chỉ có khuynh hướng “khiêm tốn” hơn các bạn đồng song, thích chọn các ngành khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục hay y tế (những nghề theo mẫu dành cho phụ nữ của xã hội vì các nghề này có liên quan đến việc đẻ con và nuôi dạy trẻ – việc phân công từ thời tiền sử). Nhưng tựu trung các cách biệt giữa nam và nữ chưa sâu đậm.

Thế nhưng ở khoảng 30-40 tuổi, ở thời điểm “kết hôn và sinh con đẻ cái”, ở lúc có thể lên hàng nghiên cứu sư và giám đốc nghiên cứu nếu theo nghiệp khoa học, số phụ nữ chỉ còn đếm trên đầu ngón tay ở các Đại học và Viện: các bà đã tự rút lui từ hồi nào, không ứng cử vào những chức vị đòi hỏi nhiều trách nhiệm, không trình những dự án nghiên cứu lớn… Thông thường là để có thể cùng lúc đảm trách những vai trò truyền thống (làm vợ và làm mẹ).

.

Sự tự đào thải của phụ nữ, thật ra, là một giải pháp sáng suốt: nếu không, làm sao vừa đảm đang chuyện nhà (mà các xã hội học gia đã tính là chiếm khoảng 40 giờ mỗi tuần, tương đương với một công việc toàn thời gian ngoài xã hội, tức là nếu “hai đảm đang” thì phải làm việc trung bình 80 giờ mỗi tuần hay 11 giờ 30 mỗi ngày) vừa lo chuyện nghiên cứu? Hơn nữa, dạy học và nghiên cứu khoa học thông thường đòi hỏi nhiều thì giờ và tâm trí hơn các công việc khác.

.

Ngoài ra nuôi dạy con cái cũng là một “nhu cầu” của một số phụ nữ: chẳng nhẽ sinh con ra xong lại giao cho người giúp việc chăm lo? Họ có đủ khả năng không? Họ có làm tốt không? Một bà mẹ trí thức thường âu lo đặt các câu hỏi như thế.

.

Phụ nữ, vì lý do này, tự hạn chế tham vọng khoa học kỹ thuật, ít tiếp tục con đường tìm tòi. Nếu có tiếp tục, ít đi ra nước ngoài hơn, ít có những dự án quốc tế hay những chương trình có tầm cỡ to, đòi hỏi nhiều năm nghiên cứu…

.

Thành kiến xã hội. Ngay tới cuối thế kỷ thứ 20, một số cha mẹ còn quan niệm rằng sự học hành cho con trai quan trọng hơn cho con gái. Quan niệm này, tới thế hệ sau, được con cái tiếp nối, ít nhất là trong tiềm thức. Trong các tranh cử bổ nhiệm ở Đại học, trong các quyết định tài trợ công trình nghiên cứu…, thông thường gần như có một luật không thành văn là các ông thắng thế hơn. Không ai nói rõ ràng nhưng, nếu một bà không được bổ nhiệm thì không hề gì, bà ấy sẽ được… chồng bà nuôi.

Tệ hơn nữa, nhiều người vẫn nghĩ là phụ nữ có bản năng làm mẹ, bản năng này mạnh hơn khả năng yêu khoa học nên họ ngần ngại khi giao trọng trách nghiên cứu to cho một phụ nữ trẻ. Muốn được bổ nhiệm, một phụ nữ thường phải xuất sắc hơn đồng nghiệp nam giới.

Bản năng là một bẩm sinh, ta có vài bản năng sinh tồn, nhưng cái gọi là bản năng làm mẹ thật ra là một bản tính được xã hội giáo dục tức là tiếp thu chứ không phải bẩm sinh. Nếu phụ nữ thích và hạnh phúc với vai trò làm vợ và làm mẹ là do trách nhiệm của xã hội đã dạy họ như thế. Muốn thay đổi “thực trạng này”, xã hội phải dạy trẻ cách khác.

Trên thực tế, nhiều phụ nữ có khả năng tổ chức để làm tròn nhiều việc, nhưng xã hội có cho cơ hội để họ minh chứng điều đó hay không là một chuyện khác.

Sự bất bình đẳng thể hiện qua nhiều chi tiết, rất nhỏ, nhưng có ảnh hưởng. Việc một phụ nữ làm khoa học có gia đình, mang tên chồng trong các công trình đăng báo. khi li dị, và tái hôn, thế nào bà cũng có một vài khó khăn trong cách tính số bài đăng báo theo tên tác giả. Một điều mà các ông hoàn toàn không phải bận tâm (từ vài năm nay, các bà giữ tên thời còn độc thân, cho các bài báo, một phần vì trào lưu bình đẳng, một phần để tránh khó khăn này).

.

Khái niệm “trần bằng thủy tinh” (le plafond de verre hay glass ceiling)

Khái niệm này xuất hiện ở Mỹ vào cuối những năm 1970 để chỉ những chướng ngại vật khiến cho phụ nữ khó có thể giữ những chức vụ lãnh đạo. Cách ví von này rất đúng: cứ thể như có một cái trần vô hình ngăn cản phụ nữ tiến thân trong nghề nghiệp. Khái niệm này bao gồm hết các yếu tố vừa tâm lý xã hội vừa thực tiễn mà ta nêu trên.

Phụ nữ càng ngày càng học cao hơn, nhiều khi giỏi chuyên môn hơn nam giới trong một số lĩnh vực, nhưng vẫn là thiểu số ở các địa vị quan trọng.

Phụ nữ thực ra là nạn nhân của tình thế này. Nhưng họ được xã hội hóa một cách sâu đậm đến nỗi họ chấp nhận hoàn cảnh, thích ứng với hoàn cảnh và hoàn toàn không biết rằng mình là nạn nhân! Những phong trào giải phóng phụ nữ và đòi bình đẳng – đông đảo và mạnh ở thập niên1960/1970 – hầu như thành… quên lãng.

Trần bằng thủy tinh không những chỉ có ở bình diện khoa học. Ngay trong những nghề nghiệp khác, trong kỹ nghệ, trong thương mại, ngân hàng,… phụ nữ ở trời Âu, nói riêng và ở mọi nơi, nói chung, cũng thiệt thòi hơn nam giới. Họ chỉ chiếm thiểu số ở các địa vị lãnh đạo, họ có lương kém hơn, họ ít được thăng tiến nghề nghiệp hơn, họ dễ bị thất nghiệp hơn…

.

Kết luận về viễn ảnh tương lai

Trừ một vài trường hợp hiếm hoi của vài phụ nữ thành công tốt, tới bây giờ, ở tất cả mọi nơi trên thế giới, phụ nữ chưa thật sự bình đẳng với nam giới, nhất là trên phương diện khoa học kĩ thuật cao.

Muốn bình đẳng giới trong khoa học phải bắt đầu từ thay đổi sâu xa quan niệm xã hội về nam nữ, phải giáo dục trẻ, trai hay gái, như nhau. Phải cho trẻ những mẫu và hình ảnh cha mẹ bình đẳng (nếu không, dạy một đằng mà làm gương một nẽo thì trẻ ấn tượng và hấp thụ những cái “gương” nhiều hơn – Không cho vào đầu trẻ những hình ảnh kiểu “mẹ làm bếp trong khi cha ngồi đọc báo” chẳng hạn).

Xã hội phải bỏ thành kiến theo đó nữ nhi tay yếu chân mềm, chỉ giàu bản năng làm mẹ, sẳn sàng hi sinh mọi việc để mang thai, sinh và nuôi con. Cũng phải khuyến khích phụ nữ nắm vận mệnh mình trong tay, không sống “bám vào chồng” hay chỉ “hạnh phúc cho và vì người khác”.

Cũng phải bỏ các thành kiến xã hội về vai trò của phụ nữ. Các bậc “nam nhi chi chí” phải lăn mình vào bếp, làm việc nhà và lo cho các con, sánh vai với vợ trong các trách nhiệm “tề gia nội trợ”. Các ông không thể mang thai, đẻ con và cho con bú. Nhưng ngoài ba chuyện đó, họ có cùng trách nhiệm trong gia đình: nấu cơm, lau dọn nhà cửa, giặt giũ hay nuôi dạy con… không phải chỉ là chuyện của đàn bà.

Những biện pháp luật định khuyến khích nâng đỡ phụ nữ chỉ có vài hiệu lực giới hạn. Cấu trúc, nề nếp, sinh hoạt và bậc thang giá trị xã hội có thay đổi một cách sâu xa thì địa vị của phụ nữ mới bình đẳng hơn.

Một thí dụ: Luật bầu cử ở Bỉ, từ gần 20 năm nay, bắt buộc trong mỗi danh sách ứng cử, số ứng viên nam nữ phải ngang nhau. Thế nhưng số nữ dân biểu và nghị sĩ được bầu xong tại Quốc hội Bỉ hiện vẫn chỉ trên dưới 30% tổng số. Vì cử tri vẫn bỏ phiếu cho nam giới nhiều hơn, họ chưa hoàn toàn tín nhiệm phụ nữ.

.

Thay đổi văn hóa cần thời gian. Ý thức bất bình đẳng giới ra đời từ thế kỷ thứ 18, với Mary Wollstonecraft, mạnh mẽ nhất là từ khoảng 1950-1970 với Betty Friedan và Simone de Beauvoir, từ lúc mà đại đa số phụ nữ làm chủ được những phương pháp ngừa thai. Nhưng mãi tới bây giờ tình trạng vẫn chưa hoàn toàn bình đẳng.

.

Ở Việt Nam, trong hai cuộc chiến, giải phóng đất nước đi đôi với giải phóng phụ nữ. Phụ nữ trong chiến tranh đã được truy phong. Một số phự nữ đã giữ vai trò lãnh đạo cao mà điển hình nhất là bà Thiếu tướng Nguyễn Thị Định và bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình. Có lẽ ta phải cố gắng tiếp nối truyền thống này, nhất tâm chống lại các phong trào thi sắc đẹp chẳng hạn vì các phong trào này, ngay cả ở các trường và Đại học, nở rộ từ những năm gần đây, là một hình thức “vật thể hóa” (chosification) phụ nữ, xem phụ nữ như một món đồ chơi giới tính, bỏ quên mất các đức tính và khả năng về trí tụê của phụ nữ.

Nguyễn Huỳnh Mai

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.