Bỏ qua nội dung

“Số phận từ trong nôi” theo Camille Peugny

Tháng Một 16, 2019

Một bài cũ…

Le destin au berceau. Inégalités familiales et reproduction sociale.

Camille Peugny là một nhà xã hội học người Pháp, còn rất trẻ, sinh năm 1981, tức là nhỏ tuổi hơn các con của tôi nhưng đã xuất bản ít nhất là hai quyển sách có giá trị – cả hai đều thuộc lĩnh vực bất bình đẳng xã hội, sở trường của ông ấy.

Peugny C., Le Déclassement. NXB Grasset, 2009.

Peugny C., Le destin au berceau. Inégalités et reproduction sociale. NXB La République des idées-Le Seuil, 2013, 117 trang.

Bài này tóm lượt và bàn về vài kết quả ông viết trong quyển thứ nhì kể trên.

.

Cha nào con nấy hay sự “di truyền” của giai cấp xã hội là lý thuyết kinh điển, tất cả các nhà xã hội học đều biết, theo Pierre Bourdieu, theo Yanick Lemel, theo Claude Thélot… Nhưng gần đây thì sao? Tình thế có thay đổi không? Nhất là từ lúc mà giới trung lưu càng ngày càng đông hơn và 80% dân tình được xếp trong “giai cấp” trung lưu này. Chỉ trừ 10% người nghèo và 10% người giàu.

Có thể nào như thế thì đại đa số sẽ bình đẳng hơn và sự thăng tiến xã hội sẽ tùy theo tài cáng khả năng thực sự của từng cá nhân?

.

Sách của Camille Peugny cho thấy là thực ra tình thế vẫn không thay đổi, con người ta như bị dán dính vào giai cấp của mình, bị hoàn cảnh xã hội của gia đình quyết định cho tương lai. Tỉ lệ của thế hệ con vẫn nằm trong giai cấp của cha họ không giảm đi.

Ông Peugny cho thấy nếu năm 1983, 36% con cái vẫn tiếp tục ở trong thành phần xã hội của cha mình thì tỉ lệ này năm 2009 thành 34%.

.

Nhưng từ đó, đừng vội kết luận rằng như vậy ít nhất là hai phần ba còn lại của thế hệ con cái sẽ “tung hoành” thăng tiến xã hội hay bị xuống cấp, có địa vị khác xa so với cha của họ.

Thật ra, hướng đi và địa vị xã hội của thế hệ con không khác hoàn cảnh cha của họ bao nhiêu.

Vì sao ?

Ông Peugny cho thấy là cần nhìn gần tình trạng. Hiện dù phiến diện, con cái có vẻ như chiếm địa vị cao hơn cha mẹ chúng nhưng lương của chúng giảm đi nhiều so với bậc thang lương bổng trong quá khứ, các hợp đồng nghề nghiệp của chúng bất ổn hơn, nhiều khi bị gián đoạn bởi những lúc thất nghiệp, … Một chứng cứ thêm nữa: thế hệ con mua nhà khó khăn hơn cha mẹ chúng trước đó,

Rốt cuộc trong tổng thể, con cái xuất thân từ tầng lớp bình dân rất khó thăng tiến xã hội.

.

Vai trò của trường học và bằng cấp?

Từ 1984 tới 2009, trong khoảng 25 năm này, tỉ lệ con cái tầng lớp thợ thuyền tốt nghiệp Đại học, ở Pháp, đã tăng từ 6% lên 24%

có nghĩa là trên 100 trẻ,  con của thợ thuyền,  thì có 6, ngày trước, hay  24, gần đây, trẻ tốt nghiệp Đại học

Nhưng trong lúc đó, tỉ lệ của con cái hàng công tư chức bậc cao, hàng lảnh đạo – tiếng Pháp là cadres supérieurs và professions libérales –  tốt nghiệp Đại học tăng từ 50% lên 74%.

Tức là về số lượng, con cái gia đình cha mẹ “cao” vẫn đi trước. Đó là chưa nói đến chuyện khi quan sát gần hơn, sự “cạnh tranh” còn tùy ở chất lượng: chọn ngành nghề nào, Đại học nhưng trường nào, …Cuối cùng, con cái những người có khả năng và phương tiện  vẫn sẽ thành công tốt hơn trên đường nghề nghiệp sau đó.

Thế là mức học vấn của toàn xã hội tăng cao hơn. Nhưng sự “phổ cập” giáo dục Đại học chỉ làm trể hơn sự cạnh tranh và bất bình đẳng xã hội vẫn tồn tại.

.

Làm sao cải thiện tình thế?

Ông Peugny đưa ra hai đề nghị trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Theo ông, phải nhấn mạnh thêm nữa vai trò của trường học, nhất là phải đầu tư nhiều hơn cho trường Tiểu học.

Trường Tiểu học quan trọng vì trẻ còn nhỏ, giúp trẻ, nhất là những em không thuộc thành phần ưu đải,  thành công tốt thì các kết quả này sẽ ảnh hưởng tích cực cho học trình tiếp theo.

Phương thức thứ nhì là cần phát triển giáo dục suốt đời.

Vì như thế là có thể giúp những người đã “lở” chuyến tàu học hành lúc trẻ, vì hoàn cảnh xã hội quyết định, có thể hoàn thiện chuyên môn trong nghề nghiệp sau đó.

Paul Minon (1971) và Mai Poirrier (1982) đã đề nghị, cho hoàn cảnh Bỉ, những phương thức tương tự. Họ đã nhấn mạnh trên trường mẫu giáo và, cũng như Peugny, họ đã nói tới école de deuxième et de troisième chance – trường học cho cơ hội thứ nhì hay thứ ba – khi đề cập đến vấn đề giáo dục suốt đời (1) (2).

.

Ông Peugny kết luận là nếu sự tái tạo giai cấp xã hội, nếu vị trí của cha mẹ tiếp tục ảnh hưởng đến số phận của giới trẻ như thế thì điều này sẽ càng ngày càng làm lung lay sự đoàn kết trong xã hội.

Nguyễn Huỳnh Mai


Các chữ “giai cấp”, ” tầng lớp xã hội” … được để trong ngoặc kép vì những khái niệm này cần được định nghĩa rõ ràng hơn. Giai cấp theo Marx khác với giai cấp theo Mills hay Warner. Còn các tác giả, từ thập niên 1980 về sau, nói về các tầng lớp nghề nghiệp và xã hội.

(1) Minon P., Première orientation et réussite scolaire. NXB Presses Universitaires de Liège, 1971.

(2) Poirrier M., Enquête du Fonds du Logement. NXB Fonds du Logement, 1982.

Advertisements

From → Xã hội học

Đã đóng bình luận.